Giáo trình Luật thương mại Việt Nam (Phần 4)

Chương 3  
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT  
TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH  
1. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH  
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự tham gia hoạt động  
kinh doanh của mọi thành phần kinh tế thuộc các hình thức sở hữu khác  
nhau thì tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể kinh doanh là điều không  
tránh khỏi.  
Về mặt học thuật, tranh chấp kinh tế và tranh chấp trong kinh  
doanh là những khái niệm có nội hàm rộng hẹp khác nhau. Có quan điểm  
cho rằng, “tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến về một  
sự kiện pháp lý, là sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và  
nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ  
khác nhau”32. Có quan điểm khác cho rằng, “tranh chấp kinh tế là những  
mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ  
chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ kinh tế”33…  
Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, song đa số các nhà khoa học đều  
thống nhất rằng, tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến,  
sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ  
thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau. Trong các  
loại hình tranh chấp kinh tế, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình  
tranh chấp phổ biến nhất. Theo đó, tranh chấp kinh tế có thể có các dạng  
32  
Nguyễn Thị Kim Vinh (2002), Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về giải  
quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Tòa án ở Việt Nam”, Viện Nhà nước  
và Pháp luật, Hà Nội.  
33 Đào Văn Hội (2003), Luận án tiến sĩ luật học “Giải quyết tranh chấp kinh tế  
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
70  
cơ bản sau:  
- Tranh chấp trong kinh doanh: được diễn ra giữa các chủ thể tham  
gia kinh doanh. Cụ thể, những tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu  
tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường  
nhằm mục đích sinh lợi.  
- Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận  
đầu tư: Loại hình tranh chấp này nảy sinh trong việc thực hiện các hợp  
đồng BTO, BT, BOT, thực hiện các điều ước quốc tế về khuyến khích và  
bảo hộ đầu tư song phương và đa phương.  
- Tranh chấp giữa các quốc gia trong việc thực hiện các điều ước  
quốc tế về thương mại song phương và đa phương.  
- Tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế  
trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại đa phương.  
Thực tế cho thấy, trong các loại hình tranh chấp kinh tế trên, tranh  
chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó  
trong một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái  
niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương nhau.  
Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi năm 2011) cũng  
đã liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền  
của tòa án, gồm có:  
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại  
giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục  
đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân  
phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư  
vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường  
bộ, đường thuỷ nội địa; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường  
hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá  
khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác.  
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa  
cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.  
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các  
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,  
71  
giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của  
công ty.  
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có  
quy định.  
Từ những nội dung xem xét nêu trên, có thể hiểu: tranh chấp trong  
kinh doanh là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời  
sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh trong quá trình thực  
hiện các hoạt động thương mại.  
Do đó, có thể khái quát những đặc điểm tranh chấp trong kinh  
doanh như sau: luôn gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các chủ  
thể; các chủ thể tranh chấp trong kinh doanh thường là các thương nhân;  
là sự biểu hiện ra bên ngoài, là sự phản ánh của những xung đột về mặt  
lợi ích kinh tế của các bên34; tranh chấp gắn liền với lợi ích riêng biệt của  
mỗi chủ thể và luôn thuộc quyền từ định đoạt của họ.  
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các tranh chấp trong kinh  
doanh chủ yếu tồn tại dưới dạng các tranh chấp về hợp đồng kinh tế.  
Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự tham gia của nhiều thành phần  
kinh tế kéo theo sự đa dạng về đối tượng chủ thể và lợi ích cần bảo vệ,  
sự xuất hiện của các phương thức kinh doanh, thị trường và các yếu tố  
sản xuất phi truyền thống làm phát sinh nhiều dạng tranh chấp mới, ví dụ  
như: tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, giữa các thành viên  
công ty với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể công ty;  
tranh chấp về liên doanh, liên kết kinh tế, …  
2. CÁC HÌNH THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG  
KINH DOANH – THƯƠNG MẠI.  
Ở góc độ khái quát chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh  
– Thương mại là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải  
toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự  
cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được. Chính vì vậy,  
34 Trần Đình Hảo, “Hoà giải thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp  
đồng kinh tế”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, só 1 năm 2000, tr.28.  
72  
giải quyết tranh chấp trong kinh doanh – thương mại phải nhanh chóng,  
thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh; quyết  
định giải quyết phải có giá trị thi hành cao; khôi phục và duy trì các quan  
hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh; giữ bí mật kinh  
doanh, uy tín các bên trên thương trường; chi phí giải quyết thấp.  
Tranh chấp trong kinh doanh – thương mại có thể được giải quyết  
bằng các phương thức khác nhau như thương lượng, hòa giải, trọng tài  
thương mại và giải quyết thông qua tòa án. Khi tranh chấp phát sinh, các  
bên có thể lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp hoặc  
sử dụng phối hợp nhiều phương thức nhằm đạt hiệu quả cao.  
2.1. Thương lượng  
Là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh – thường mại  
cần đến vai trò của người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là  
các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện  
pháp thích hợp và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết bất đồng.  
Thương lượng đòi hỏi trước hết các bên phải có thiện chí, trung thực,  
hợp tác, và phải có đầy đủ những am hiểu cần thiết về chuyên môn và về  
pháp lý. Đối với sự việc phức tạp, mỗi bên có thể chỉ định những chuyên  
gia, những tổ chức có trình độ chuyên môn thay mặt và đại diện cho  
mình để tiến hành thương lượng.  
Kết quả của thương lượng thường là những cam kết, thỏa thuận về  
những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ những bế tắc hoặc bất đồng phát  
sinh mà các bên thường không ý thức được trước đó.  
Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng thể hiện hàng loạt ưu  
điểm như: đơn giản, không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền hà;  
ít tốn kém; không làm phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có giữa các  
bên trong kinh doanh; giữ được các bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, giải  
quyết tranh chấp bằng thương lượng cũng bộc lộ yếu điểm nhất định, đó  
là: mang tính tự phát, theo truyền thống mà chưa có sự điều chỉnh pháp  
lý thích hợp. Do đó, giá trị pháp lý của kết quả thương lượng không được  
xác định rõ ràng nên thường bị các bên lợi dụng để kéo dài thời gian phải  
thực hiện nghĩa vụ; nhiều trường hợp bên có quyền lợi bị vi phạm mất  
quyền khởi kiện tại tòa án hoặc trọng tài do hết thời hiệu khởi kiện.  
73  
2.2. Hòa giải  
Là hình thức giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên trong quá  
trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên  
cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên  
nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột  
nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất đồng.  
Hoà giải là giải pháp mang tính chất tự nguyện, tuỳ thuộc vào sự  
lựa chọn của các bên. Đặc biệt là bên thứ ba với tính chất trung gian hoà  
giải phải có vị trí độc lập đối với các bên. Điều đó có ý nghĩa là, bên thứ  
ba này không ở vị trí xung đột lợi ích đối với các bên hoặc không có  
những lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên trong các vụ việc  
đang có tranh chấp; Bên thứ ba làm trung gian hòa giải không phải là  
những đại diện bất kỳ của bên nào và cũng không có quyền quyết định,  
phán xét như một trong tài.  
Theo thông lệ chung, hòa giải có thể được tiến hành ngoài thủ tục  
tố tụng và cũng có thể được thực hiện theo thủ tục tố tụng của tòa án  
hoặc trọng tài  
- Hòa giải ngoài tố tụng: là việc hòa giải qua trung gian được các  
bên tiến hành trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tài phán. Chẳng  
hạn, một trong những chức năng của Phòng Thương mại và công nghiệp  
Việt Nam là giúp các thành viên trong việc giải quyết tranh chấp bằng  
hòa giải, khi được yêu cầu (Xem khoản 9, điều 5 Điều lệ Phòng Thương  
mại và Công nghiệp Việt Nam). Các bên tranh chấp thông tin cho nhau  
và trình bày quan điểm của mình, người hòa giải hướng các bên tham gia  
vào việc tìm kiếm những giải pháp thích hợp nhằm loại trừ những ý kiến  
bất đồng, những xung đột về lợi ích phát sinh giữa các bên. Sự nhất trí  
trong việc giải quyết tranh chấp được thể hiện bằng văn bản, có sự xác  
nhận của bên đứng ra làm trung gian hòa giải và có giá trị ràng buộc với  
các bên tham gia.  
Hiện nay, trong hoạt động thương mại quốc tế, phương pháp hoà  
giải rất được ưa chuộng dùng để giải quyết tranh chấp và các quy tắc hoà  
giải của các tổ chức thường được lựa chọn là quy tắc hoà giải không bắt  
buộc của phòng thương mại quốc tế ICC (năm 1998); quy tắc hoà giải  
74  
của Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại (1980); quy tắc hoà giải  
của Trung tâm hoà giải Bắc kinh (1987); quy tắc hoà giải thương mại  
của hiệp hội trọng tài Mỹ AAA (1992).  
Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải có các ưu điểm tương tự như  
giải quyết tranh chấp bằng thương lượng. Ngoài ra, nhờ có sự hỗ trợ của  
người trung gian nên các bên dễ đạt được phương án hoà giải hơn việc tự  
thương lượng. Tuy nhiên, cũng như giải quyết tranh chấp bằng thương  
lượng, hạn chế của giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cũng có những  
bất lợi như thương lượng và phải mất chi phí cho người trung gian.  
- Hòa giải trong tố tụng: là hòa giải được tiến hành tại tòa án hay  
trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các  
bên.  
Người trung gian hòa giải trong trường hợp này là tòa án hoặc  
trọng tài (cụ thể là thẩm phán hoặc trọng tài viên phụ trách vụ việc).  
Hòa giải trong tố tụng được xem là một giai đoạn trong quá trình  
giải quyết tranh chấp bằng con đường tòa án hay trọng tài và chỉ có thể  
được tiến hành khi một bên có đơn khởi kiện đến tòa án hoặc đơn yêu  
cầu trọng tài giải quyết và đơn này đã được thụ lý.  
Khi các đương sự đạt được thỏa thuận với nhau về việc giải quyết  
tranh chấp thì tòa án hay trọng tài lập biên bản hòa giải thành và ra quyết  
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và quyết định này có  
hiệu lực, được thi hành như một bản án của tòa án hay phán quyết của  
trọng tài.  
2.3. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh – thương mại bằng trọng  
tài thương mại  
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh – thương mại bằng trọng  
tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài  
viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng  
việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện.  
Cũng như thủ tục tố tụng tòa án, trong quá trình giải quyết các  
tranh chấp kinh doanh trọng tài cũng phải tuân theo các trình tự, thủ tục  
nhất định mà pháp luật quy định, từ việc khởi kiện, xét xử, thi hành phán  
75  
quyết trọng tài, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia,… Đây  
chính là thủ tục tố trọng tài. Nói cách khác, tố tụng trọng tài được hiểu là  
trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết tranh chấp kinh  
doanh – thương mại bằng trọng tài.  
a. Quá trình tổ chức và hoạt động của các tổ chức trọng tài ở  
Việt Nam  
- Sự ra đời của Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng  
tài hàng hải - các tổ chức trọng tài phi chính phủ đầu tiên ở Việt Nam  
Năm 1960, sau khi thành lập hệ thống cơ quan trọng tài kinh tế nhà  
nước để giải quyết các tranh chấp kinh tế trong nước, trong các năm  
1963 và 1964, hai tổ chức trọng tài phi chính phủ đầu tiên được thành lập  
là Hội đồng trọng tài ngoại thương được thành lập trên cơ sở Nghị định  
59/CP ngày 30 tháng 4 năm 1963 và Hội đồng trọng tài hàng hải được  
thành lập trên cơ sở Nghị định số 153-CP ngày 05/10/1964, có thẩm  
quyền giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.  
Hội đồng trọng tài ngoại thương: là một tổ chức phi chính phủ  
được thành lập theo Nghị định số 59/CP ngày 30/04/1963 với chức năng  
giải quyết tranh chấp phát sinh giữa một bên Việt Nam với một bên nước  
ngoài về hợp đồng, giao dịch ngoại thương. Đó là các tranh chấp liên  
quan đến thanh toán, trao đổi hàng hoá, vận chuyển hàng hoá, bảo  
hiểm…khi có ít nhất một trong các bên đương sự cư trú ngoài lãnh thổ  
Việt Nam. Nhìn chung, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài ngoại thương  
chỉ hạn chế đối với các giao dịch ngoại thương. Hoạt động xét xử của  
Hội đồng trọng tài này chủ yếu đối với các tranh chấp giữa các tổ chức,  
cá nhân kinh tế Việt Nam với tổ chức, cá nhân kinh tế các nước xã hội  
chủ nghĩa trong phạm vi thi hành hiệp định.  
Hội đồng trọng tài hàng hải: đây là một tổ chức trọng tài phi chính  
phủ ra đời theo quyết định số 135/CP của Chính phủ Việt Nam ngày  
05/10/1964. Nhìn chung, Hội đồng trọng tài hàng hải có điều lệ và quy  
tắc hoạt động giống như Hội đồng trọng tài ngoại thương. Sự khác nhau  
giữa hai Hội đồng trọng tài chỉ ở thẩm quyền. Theo điều 2 Điều lệ của  
Hội đồng trọng tài hàng hải, Hội đồng trọng tài hàng hải có thẩm quyền  
giải quyết các tranh chấp về các vấn đề giao thông vận tải đường biển  
76  
khi có ít nhất một bên chủ thể tham gia là nước ngoài như: việc thuê tàu,  
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, công tác đại lý tàu biển, bảo  
hiểm hàng hải... Cũng như Hội đồng trọng tài ngoại thương, Hội đồng  
trọng tài hàng hải không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp  
đồng dân sự hoặc kinh tế do các nhân hoặc tổ chức Việt Nam ký kết cả  
về tranh chấp đầu tư.  
- Giai đoạn 1994 đến trước ngày Pháp lệnh Trọng tài thương mại  
2003 có hiệu lực (1/7/2003)  
Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng,  
nước ta chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần  
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Trong điều  
kiện cơ chế kinh tế mới, sự tồn tại của trọng tài kinh tế với tư cách là một  
cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước tỏ ra không còn phù hợp. Sự  
phát triển đa dạng của các loại hình kinh tế cùng với sự tham gia của  
nhiều thành phần kinh tế có hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến sự thay  
đổi về hình thức, tính chất hợp tác và đi liền nó là nội dung tranh chấp,  
phương pháp giải quyết tranh chấp trong kinh tế do vậy đòi hỏi cũng  
được đổi mới.  
+ Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam  
Ngày 28/04/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định  
204/TTg thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) đặt bên  
cạnh Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Hội  
đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải. Theo quyết  
định này, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là một tổ chức trọng tài  
phi chính phủ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan  
hệ kinh tế quốc tế như hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng đầu  
tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng  
và thanh toán quốc tế,... Khi một bên hay các bên đương sự là thể nhân  
hay pháp nhân nước ngoài và trước hay sau khi xảy ra tranh chấp, các  
bên đương sự thoả thuận đưa vụ việc ra trước Trung tâm trọng tài quốc  
tế Việt Nam, hoặc nếu có một điều ước quốc tế ràng buộc các bên phải  
đưa vụ tranh chấp ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.  
Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển và thu hút các doanh nghiệp mà  
77  
Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 114-TTg ngày 16/02/1992 cho  
phép Trung tâm VIAC có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh  
từ các quan hệ kinh doanh trong nước. Đây chính là cơ sở mà Phòng  
thương mại và công nghiệp Việt Nam thông qua quy tắc tố tụng trọng tài  
trong nước của Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Việt Nam ngày  
26/03/1996. Như vậy, cho đến trước khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại  
có hiệu lực, trọng tài quốc tế ở Việt Nam có thẩm quyền giải quyết mọi  
tranh chấp mà không giới hạn bởi tranh chấp đó là tranh chấp trong nước  
hay tranh chấp quốc tế.  
+ Trung tâm trọng tài kinh tế phi chính phủ theo Nghị định  
116/CP  
Chính phủ đã ban hành Nghị định 116/CP ngày 05/09/1995 về tổ  
chức và hoạt động của trọng tài kinh tế tồn tại dưới dạng các trung tâm  
trọng tài kinh tế.  
Theo Nghị định này, các trung tâm trọng tài kinh tế được tổ chức  
dưới hình thức là một tổ chức xã hội nghề nghiệp (tổ chức phi chính  
phủ). Đây là lần đầu tiên, pháp luật Việt Nam quy định cho phép một tổ  
chức không phải của Nhà nước được giao thẩm quyền giải quyết tranh  
chấp kinh tế theo yêu cầu và theo sự thoả thuận của các bên tranh chấp  
(mà trước đây đều thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước).  
Tổ chức trọng tài kinh tế theo Nghị định này được thành lập bởi  
các trọng tài viên tư nhân, họ sẽ tự thiết lập điều lệ và quy tắc của mình  
trên cơ sở tuân theo quy định của pháp luật. Hơn thế nữa, thẩm quyền  
của trung tâm trọng tài kinh tế được mở rộng mà cụ thể là: Các tranh  
chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty và thành viên của  
công ty; các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên  
quan đến việc thành lập hoạt động và giải thể của công ty; các tranh chấp  
liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu.  
Tuy nhiên, so với sự phát triển chung của các tổ chức trọng tài trên  
thế giới và quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong những năm  
gần đây thì các trung tâm trọng tài kinh tế không thể đảm đương nổi việc  
giải quyết tranh chấp kinh tế cho nhu cầu phát triển kinh tế của Việt  
Nam, và do nhiều nguyên nhân mà pháp luật trọng tài thương mại Việt  
78  
Nam cần phải có sự thay đổi cho phù hợp.  
Theo đánh giá chung thì tổ chức và hoạt động của hai loại trọng tài  
này trong thời gian qua đều gặp những hạn chế giống nhau, cụ thể:  
Một là, các văn bản điều chỉnh hoạt động trọng tài do cơ quan hành  
pháp ban hành nên giá trị pháp lý thấp.  
Hai là, phạm vi điều chỉnh hẹp từ việc quy định nội hàm khái niệm  
hoạt động thương mại hẹp nên vụ việc giải quyết bị hạn chế, chưa phù  
hợp pháp luật một số nước.  
Ba là, hình thức giải quyết tranh chấp tại hội đồng trọng tài do các  
bên thành lập (ad-hoc) chưa được quy định.  
Bốn là, cơ chế bảo đảm thực hiện quyết định trọng tài chưa được  
xác lập  
Năm là, quan hệ giữa trọng tài và tòa án chưa quy định v.v…  
Những hạn chế này đã ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động  
của các cơ quan trọng tài.  
Trước yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hội nhập kinh tế  
quốc tế và khu vực, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương  
mại (do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/2/2003) quy  
định về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp trong  
hoạt động kinh doanh.  
Pháp lệnh Trọng tài thương mại về cơ bản phù hợp với pháp luật và  
thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của trọng tài  
như: quy định về hiệu lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành  
trọng tài viên, về trọng tài vụ việc, mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài  
viên, ghi nhận mối quan hệ giữa trọng tài và toà án bằng một loạt các quy  
định cụ thể như hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định trọng tài viên,  
giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của hội đồng trọng tài, áp dụng biện  
pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu  
trữ hồ sơ trọng tài, …  
Mặc dù đã có những quy định khá tiến bộ so với trước đây, Pháp  
lệnh Trọng tài thương mại 2003 vẫn chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ  
cho việc thực hiện chủ trương của Nhà nước khuyến khích các bên sử  
79  
dụng trọng tài trong giải quyết các tranh chấp thương mại và các tranh  
chấp khác, cần được khắc phục bằng việc ban hành một đạo luật mới về  
trọng tài thương mại.  
Luật Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày  
17/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, thay thế cho Pháp lệnh Trọng  
tài thương mại 2003. Với 13 chương, 82 điều, Luật Trọng tài thương mại  
đã thể chế hoá một cách đồng bộ cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng  
tài ở nước ta trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh Trọng tài  
thương mại. Bên cạnh đó, so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Luật  
Trọng tài thương mại có nhiều quy định mới nhằm đáp ứng đòi hỏi của  
thực tiễn và yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giải quyết tranh  
chấp trong kinh doanh - thương mại hiện nay.  
b. Khái niệm và đặc điểm của trọng tài thương mại  
Khái niệm về trọng tài đã được nhiều tác giả đưa ra và tiếp cận ở  
những quan điểm, cấp độ khác nhau. Giáo trình “Tư pháp Quốc tế” của  
Liên Xô trước đây, xuất phát từ quan điểm coi trọng tài là một cơ quan  
tài phán đã đưa ra khái niệm: “Trọng tài bao gồm những cá nhân được  
các bên lựa chọn để để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các vụ  
việc dân sự của họ”. Cùng quan điểm này nhưng Từ điển Luật học  
Black’s lại nhìn nhận trọng tài như một quá trình mà theo đó: “Trọng tài  
là quá trình giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn, trong  
đó bên thứ ba trung lập (trọng tài viên) sau khi nghe các bên trình bày,  
sẽ ra quyết định có tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp ấy”.  
Philipe Fouchar, giáo sư Đại học tổng hợp Paris II, lại xuất phát từ  
bản chất của trọng tài để xây dựng định nghĩa: “Trọng tài là một phương  
pháp nhằm ủy thác bằng thỏa thuận cho một tư nhân (trọng tài viên)  
quyền giải quyết một tranh chấp nào đó đối lập với các bên trong thỏa  
thuận ấy”.  
Theo Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế (dưới đây gọi tắt là  
Luật Mẫu) của Uỷ ban Luật Thương mại Quốc tế của Liên hiệp quốc  
(UNCITRAL) thì: ‘Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc  
không có sự giám sát của một tổ chức thường trực” (Điều 2 - Luật Mẫu).  
Theo Luật Trọng tài thương mại 2010 thì: “Trọng tài thương mại  
80  
là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến  
hành theo quy định của Luật này” (khoản 1 Điều 3).  
Pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới cho phép phạm vi  
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất rộng ở hầu hết các lĩnh vực dân  
sự, thương mại, nhưng chủ yếu là trong lĩnh vực thương mại. Tuy nhiên,  
trọng tài trong lĩnh vực thương mại, tức trọng tài thương mại, được quy  
định khác nhau phụ thuộc vào quan điểm về khái niệm thương mại ở  
từng quốc gia.  
Theo Luật mẫu về trọng tài thương mại Quốc tế được ủy ban Liên  
Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế thông qua ngày 21/06/1985 (sau  
đây gọi tắt là UNCITRAL), các hoạt động mang bản chất thương mại  
gồm: những giao dịch nhằm cung ứng trao đổi hàng hoá dịch vụ, hợp  
đồng tiêu thụ, đại diện, môi giới thương mại, gia công, thuê mua, xây  
dựng, tư vấn lắp đặt, lixăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hợp  
đồng khai thác liên doanh và các hình thức hợp tác kinh doanh, chuyên  
chở hàng hoá, chuyên chở hành khách bằng đường hàng không, bằng  
hàng hải, bằng đường sắt, bằng đường bộ. Như vậy, Luật mẫu  
(UNCITRAL) đã đưa ra một khái niệm rất rộng về hoạt động thương mại  
để các quốc gia có thể tham khảo và trên cơ sở đó, quy định thế nào là  
trọng tài thương mại.  
Từ các phân tích về trọng tài và trọng tài thương mại nói trên có  
thể thấy rằng trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp với  
những đặc điểm cơ bản sau:  
- Trọng tài thương mại là một trong những phương thức giải quyết  
tranh chấp phát sinh chủ yếu trong lĩnh vực thương mại.  
- Trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, một  
tổ chức mang tính chất xã hội – nghề nghiệp, hoạt động theo pháp luật và  
quy chế trọng tài.  
- Tố tụng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài  
phán. Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có  
những phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận.  
- Tố tụng trọng tài đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt của  
mình một cách cao nhất, các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên,  
81  
quyền lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, lựa chọn quy tắc tố  
tụng,...  
- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể  
kháng cáo trước bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Về nguyên tắc, trọng tài  
không xét xử công khai, do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài chỉ  
triệu tập các đương sự khác khi cần thiết.  
c. Phân loại trọng tài  
Có nhiều tiêu chí khác nhau được sử dụng để phân loại trọng tài:  
- Căn cứ vào cách thức thành lập và hoạt động của trọng tài, trọng  
tài được tổ chức dưới hai hình thức là trọng tài quy chế và trọng tài vụ  
việc (trọng tài ad-hoc).  
- Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền, có hai loại trọng tài là trọng tài  
có thẩm quyền chuyên trách và trọng tài có thẩm quyền chung  
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ thì trọng tài được phân loại thành  
trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế  
d. Thành lập trung tâm trọng tài  
- Điều kiện và thủ tục thành lập trung tâm trọng tài  
Trung tâm trọng tài được thành lập khi có ít nhất năm sáng lập viên  
là công dân Việt Nam có đủ điều kiện là trọng tài viên quy định tại Điều  
20 của Luật này đề nghị thành lập và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp  
giấy phép thành lập.  
Hồ sơ đề nghị thành lập trung tâm trọng tài gồm: Đơn đề nghị  
thành lập; dự thảo điều lệ của trung tâm trọng tài theo mẫu do Bộ Tư  
pháp ban hành; danh sách các sáng lập viên và các giấy tờ kèm theo  
chứng minh những người này có đủ điều kiện quy định tại Điều 20 của  
Luật này.  
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp  
lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp giấy phép thành lập trung tâm trọng tài và  
phê chuẩn điều lệ của trung tâm trọng tài; trường hợp từ chối phải trả lời  
bằng văn bản và nêu rõ lý do.  
- Đăng ký hoạt động của trung tâm trọng tài  
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được giấy phép thành lập,  
82  
trung tâm trọng tài phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố  
trực thuộc trung ương nơi trung tâm trọng tài đặt trụ sở. Hết thời hạn này  
nếu trung tâm trọng tài không đăng ký thì giấy phép không còn giá trị.  
Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho trung tâm trọng tài  
chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu đăng ký.  
- Công bố thành lập trung tâm trọng tài  
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt  
động, trung tâm trọng tài phải đăng báo hằng ngày của trung ương hoặc  
báo địa phương nơi đăng ký hoạt động trong ba số liên tiếp về những nội  
dung chủ yếu sau đây: tên, địa chỉ trụ sở của trung tâm trọng tài; lĩnh vực  
hoạt động của trung tâm trọng tài; số giấy đăng ký hoạt động, cơ quan  
cấp, ngày, tháng, năm cấp; thời điểm bắt đầu hoạt động của trung tâm  
trọng tài.  
Trung tâm trọng tài phải niêm yết tại trụ sở những nội dung quy  
định tại khoản 1 Điều này và danh sách trọng tài viên của trung tâm  
trọng tài.  
e. Tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài  
Luật Trọng tài thương mại đã dành sự ưu tiên thích đáng đối với  
vấn đề tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài. Theo quy định của  
Luật Trọng tài thương mại, trung tâm trọng tài là một tổ chức phi chính  
phủ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động  
không vì mục đích lợi nhuận, hoạt động theo điều lệ do chính trung tâm  
trọng tài xây dựng. Trung tâm trọng tài được thành lập chi nhánh, văn  
phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài. Ngoài ra, các trung tâm  
trọng tài nước ngoài cũng được phép mở chi nhánh, văn phòng đại diện  
tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc  
tế mà Việt Nam là thành viên. Luật đã dành toàn bộ chương XII để quy  
định về chức năng, các điều kiện và phạm vi hoạt động của các trung tâm  
trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Đây là bước chuẩn bị và là sự hỗ trợ  
kịp thời để hoạt động của trọng tài ở Việt Nam hội nhập với quốc tế.  
Đồng thời, điều này cũng mang lại sự cạnh tranh lành mạnh giữa các  
trung tâm trọng tài và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có nhiều lựa  
chọn hơn khi cần tới sự trợ giúp từ các trung tâm trọng tài.  
83  
Luật cũng quy định cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có  
Ban điều hành và Ban thư ký, trong đó Ban điều hành gồm:  
- Chủ tịch trung tâm trọng tài do các trọng tài viên bầu ra.  
- Một hoặc các Phó Chủ tịch do các trọng tài viên bầu ra.  
- Có thể có Tổng thư ký do Chủ tịch trung tâm trọng tài cử.  
Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại, trung tâm trọng tài  
có các quyền và nghĩa vụ sau: xây dựng điều lệ và quy tắc tố tụng của  
trung tâm trọng tài phù hợp với những quy định của Luật này; xây dựng  
tiêu chuẩn trọng tài viên và quy trình xét chọn, lập danh sách trọng tài  
viên, xóa tên trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của tổ chức  
mình; gửi danh sách trọng tài viên và những thay đổi về danh sách trọng  
tài viên của trung tâm trọng tài cho Bộ Tư pháp để công bố; chỉ định  
trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài trong những trường hợp  
quy định tại Luật này; cung cấp dịch vụ trọng tài, hoà giải và các phương  
thức giải quyết tranh chấp thương mại khác theo quy định của pháp luật;  
cung cấp các dịch vụ hành chính, văn phòng và các dịch vụ khác cho  
việc giải quyết tranh chấp; thu phí trọng tài và các khoản hợp pháp khác  
có liên quan đến hoạt động trọng tài; trả thù lao và các chi phí khác cho  
trọng tài viên; tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng giải quyết  
tranh chấp cho trọng tài viên; báo cáo định kỳ hằng năm về hoạt động  
của trung tâm trọng tài với Sở Tư pháp nơi trung tâm trọng tài đăng ký  
hoạt động; lưu trữ hồ sơ, cung cấp các bản sao quyết định trọng tài theo  
yêu cầu của các bên tranh chấp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.  
Luật Trọng tài cũng ghi nhận những trường hợp chấm dứt hoạt  
động của trung tâm trọng tài tại Điều 29 của Luật Trọng tài thương mại.  
Khi chấm dứt hoạt động, trung tâm trọng tài phải nộp lại giấy phép thành  
lập trung tâm trọng tài cho cơ quan đã cấp giấy phép. Trình tự, thủ tục  
chấm dứt hoạt động của trung tâm trọng tài do Chính phủ quy định.  
f. Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng  
trọng tài thương mại  
- Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài  
+ Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa  
84  
thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.  
+ Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo  
quy định của pháp luật.  
+ Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội  
đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và  
nghĩa vụ của mình.  
+ Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không  
công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.  
+ Phán quyết trọng tài là chung thẩm.  
- Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài  
Để bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành  
như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu  
tư và các luật chuyên ngành khác với Luật Trọng tài thương mại. Luật  
Trọng tài thương mại đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương  
mại 2003 về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của trọng  
tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài tới nhiều  
loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên. Theo đó,  
ngoài các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, Luật Trọng tài  
thương mại cho phép giải quyết bằng hình thức trọng tài đối với cả  
những tranh chấp chỉ cần ít nhất một bên có hoạt động thương mại và  
những tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải  
quyết bằng trọng tài (Điều 2).  
- Trình tự giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại  
+ Thỏa thuận trọng tài  
Theo khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại, tranh chấp được  
giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận  
trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Thoả  
thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng  
tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động  
thương mại.  
Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các  
hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn  
85  
bản: thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram,  
fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;  
thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa  
các bên; thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm  
quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên; trong giao  
dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng  
tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự  
khác; qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự  
tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.  
Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản  
trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. Thoả  
thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn,  
hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được  
không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài.  
Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà  
một bên khởi kiện tại toà án thì toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp  
thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực  
hiện được.  
Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài  
vô hiệu trong những trường hợp sau đây: tranh chấp phát sinh trong các  
lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài quy định tại Điều 2 của  
Luật này; người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo  
quy định của pháp luật; người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng  
lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự; hình thức của thoả  
thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này;  
một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập  
thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô  
hiệu; thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.  
Trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ  
hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ  
thể, thì khi có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng  
tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Nếu không thỏa  
thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết  
86  
tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn. Với quy định  
này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu  
hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp.  
Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và  
người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các  
điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn  
thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn trọng  
tài hoặc tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ  
chỉ được quyền khởi kiện tại trọng tài nếu được người tiêu dùng  
chấp thuận.  
+ Nộp đơn kiện và thụ lý đơn kiện  
Trường hợp giải uyết tranh chấp tại trung tâm trọng tài, nguyên  
đơn phải làm đơn khởi kiện gửi đến trung tâm trọng tài mà các bên đã  
thỏa thuận lựa chọn. Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng  
trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện và gửi cho bị đơn.  
Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thỏa  
thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu, chứng cứ. Các bản  
sao phải có chứng thực hợp lệ. Đồng thời, nguyên đơn phải nộp tạm ứng  
phí trọng tài nếu các bên không thỏa thuận khác.  
Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi hội  
đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài.  
Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, hội đồng trọng tài phải  
xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực  
hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình. Trong trường  
hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì hội đồng trọng tài  
tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này. Trường hợp  
không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô  
hiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì  
hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay  
cho các bên biết.  
● Trường hợp thành lập hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài  
Nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của  
trung tâm trọng tài không có quy định khác, trong thời hạn 10 ngày, kể  
87  
từ ngày nhận được đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và chứng từ nộp  
tạm ứng phí trọng tài, trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao  
đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định tại khoản  
3 Điều 30 của Luật Trọng tài thương mại.  
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và  
yêu cầu chọn trọng tài viên do trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải  
chọn trọng tài viên cho mình và báo cho trung tâm trọng tài biết hoặc đề  
nghị Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên. Nếu bị đơn  
không chọn trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủ tịch trung tâm trọng  
tài chỉ định trọng tài viên, thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời  
hạn quy định, Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên cho  
bị đơn.  
Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì trong thời hạn 30  
ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện do trung tâm trọng tài gửi  
đến, các bị đơn phải thống nhất chọn trọng tài viên hoặc thống nhất yêu  
cầu chỉ định trọng tài viên cho mình. Nếu các bị đơn không chọn được  
trọng tài viên, thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy  
định, Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên cho các bị đơn.  
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày các trọng tài viên được các bên  
chọn hoặc được Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định, các trọng tài viên  
này bầu một trọng tài viên khác làm Chủ tịch hội đồng trọng tài. Hết thời  
hạn này mà việc bầu không thực hiện được, thì trong thời hạn 07 ngày,  
kể từ ngày hết thời hạn quy định, Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định  
Chủ tịch hội đồng trọng tài.  
Trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên  
duy nhất giải quyết nhưng không chọn được trọng tài viên trong thời hạn  
30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, thì theo yêu cầu  
của một hoặc các bên và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được  
yêu cầu, Chủ tịch trung tâm trọng tài sẽ chỉ định trọng tài viên duy nhất.  
Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một hội đồng trọng tài.  
Quyết định của trọng tài viên duy nhất có hiệu lực thi hành như quyết  
định của hội đồng trọng tài.  
● Trường hợp hội đồng trọng tài do các bên thành lập  
88  
Nếu các bên không có thoả thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể  
từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải  
chọn trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết trọng tài viên mà  
mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên  
đơn tên trọng tài viên mà mình chọn và các bên không có thoả thuận  
khác về việc chỉ định trọng tài viên, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa  
án có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.  
Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, thì các bị đơn phải  
thống nhất chọn trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận  
được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo. Hết thời  
hạn này, nếu các bị đơn không chọn được trọng tài viên và nếu các bên  
không có thoả thuận khác về việc chỉ định trọng tài viên, thì một hoặc  
các bên có quyền yêu cầu tòa án có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên  
cho các bị đơn.  
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được các bên chọn hoặc được  
tòa án chỉ định, các trọng tài viên bầu một trọng tài viên khác làm Chủ  
tịch hội đồng trọng tài. Trong trường hợp không bầu được Chủ tịch hội  
đồng trọng tài và các bên không có thoả thuận khác thì các bên có quyền  
yêu cầu tòa án có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch hội đồng trọng tài.  
Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một trọng  
tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được trọng tài viên trong  
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, nếu các  
bên không có thoả thuận yêu cầu một trung tâm trọng tài chỉ định trọng  
tài viên, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, tòa án có thẩm quyền chỉ  
định trọng tài viên duy nhất.  
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của các bên  
quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều 41 của Luật Trọng tài  
thương mại, Chánh án tòa án có thẩm quyền phải phân công một thẩm  
phán chỉ định trọng tài viên và thông báo cho các bên.  
+ Phiên họp giải quyết tranh chấp  
Thời gian mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp do Chủ tịch hội  
đồng trọng tài quyết định, nếu các bên không có thoả thuận khác.  
Giấy triệu tập các bên tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp  
89  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 71 trang Thùy Anh 8080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật thương mại Việt Nam (Phần 4)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_thuong_mai_viet_nam_phan_4.pdf