Dẫn độ tội phạm theo quy định của các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực châu Á

DẪN ĐỘ TỘI PHẠM THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH TƢƠNG TRỢ  
TƢ PHÁP GIỮA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƢỚC  
TRONG KHU VỰC CHÂU Á  
EXTRADITION OF CRIMINALS UNDER THE PROVISIONS OF MUTUAL  
LEGAL ASSISTANCE TREATY BETWEEN VIETNAM AND SOME  
COUNTRIES IN ASIA  
Trần Thế Anh  
TÓM TẮT: Sự phát triển không ngừng của cộng đồng quốc tế trên mọi lĩnh vực  
đã mang lại thuận lợi cho các quốc gia trong quá trình phát triển của mình, song song  
với lợi ích đem lại thì luôn có những mặt hạn chế riêng đó là sự gia tăng không ngừng  
về tỉ lệ tội phạm cả về tính chất, mức độ và hành vi. Bài viết tập trung phân tích, đánh  
giá các quy định về dẫn độ tội phạm trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt  
Nam và một số nước trong khu vực Châu Á như Lào, Hàn Quốc, Liên Bang Nga trên  
cơ sở liên hệ với thực trạng dẫn độ tội phạm tại Việt Nam trong thời gian gần đây. Từ  
đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về  
dẫn độ tội phạm.  
Từ khóa: Dẫn độ tội phạm, hiệp định tương trợ tư pháp, Luật Hình sự quốc tế,  
Châu Á.  
ABSTRACT: The continuous development of the international community  
in all fields has brought advantages to countries in their development process,  
along with the benefits, there are always its own limitations that are constant  
increase in crime rate in terms of nature, level and behavior. The article focuses  
on analyzing and evaluating the provisions on extradition of criminals in mutual  
legal assistance treaty between Vietnam and a number of countries in Asia such  
as Laos, Korea, and the Russian Federation on the basis of mutual legal  
assistance related to the current situation of extradition of criminals in Vietnam  
in recent times. From there, the article proposes a number of recommendations  
to contribute to the improvement of Vietnam's law on extradition of criminals.  
 Sinh viên lớp Luật K43G, Đại học Luật, Đại học Huế; Email: [email protected]  
179  
Keywords: Criminal Extradition, Mutual Legal Assistance Treaty,  
International Criminal Law, Asia.  
1. Đặt vấn đề:  
Trong xu thế toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực quan hệ quốc tế nhƣ hiện nay, sự  
giao lƣu, hội nhập của các quốc gia và sự xuất hiện của các loại tội phạm có tổ chức  
xuyên quốc gia đã khiến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm không đơn thuần là  
công việc nội bộ liên quan đến an ninh của mỗi quốc gia mà đã trở thành mối quan tâm  
của cả cộng đồng quốc tế. Đặc biệt là các loại tội phạm hình sự quốc tế nhƣ tội buôn  
lậu ma túy, buôn ngƣời ,các loại tội phạm về kinh tế, khủng bố,…do các băng đảng, tổ  
chức tội phạm quốc tế thực hiện ngày càng đƣợc tổ chức quy mô, chặt chẽ và tinh vi  
hơn. Điều nay là một trong những nguyên nhân làm cho công tác đấu tranh phòng,  
chống tội phạm ngày càng trở nên gay go, phức tạp và quyết liệt hơn.  
Việc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay không chỉ giới hạn trong phạm vi  
lãnh thổ của mỗi quốc gia mà cần phải có sự hợp tác chung tay của cộng đồng quốc tế.  
Điều này đòi hỏi các quốc gia phải có sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả nhất. Một  
trong những hình thức hợp tác quốc tế điển hình nhất trong đấu tranh phòng chống tội  
phạm là hợp tác quốc tế về dẫn độ tội phạm nhằm giúp các quốc gia tiến hành xét xử  
hoặc thi hành án đối với những kẻ phạm tội mà bỏ trốn sang quốc gia khác. Trong  
phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá các quy định về dẫn độ tội  
phạm trong các hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp giữa Việt Nam và một số nƣớc trong khu  
vực Châu Á nhƣ Lào, Hàn Quốc, trên cơ sở liên hệ với thực trạng dẫn độ tội phạm tại  
Việt Nam trong thời gian gần đây nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực  
tiễn của hoạt động dẫn độ tội phạm tại Việt Nam để kiến nghị những giải pháp phù  
hợp, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam.  
2. Dẫn độ tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam  
Dẫn độ là một hoạt động tƣ pháp đặc thù, giữa hai bên chủ thể là hai quốc gia  
đƣợc quốc tế công nhận về chủ quyền. Quốc gia yêu cầu việc dẫn độ thƣờng là quốc  
gia bị cá nhân là đối tƣợng của việc dẫn độ gây ra hành vi vi phạm pháp luật và gây ra  
những hậu quả nghiêm trọng. Bên cạnh đó, quốc gia đƣợc yêu cầu sẽ xem xét tính chất  
180  
của sự việc và các quy định pháp luật của quốc gia mình để đƣa ra quyết định có dẫn  
độ đối với tội phạm đó hay không.  
Song hành cùng với sự phát triển của Luật hình sự quốc tế, dẫn độ là một nội  
dung của Luật hình sự quốc tế và đƣợc xem nhƣ là một công cụ hữu hiệu để các quốc  
gia đấu tranh phòng và chống các loại tội phạm hình sự khi những đối tƣợng có hành  
vi bỏ trốn ra nƣớc ngoài. Trong quá trình hòa nhập sâu rộng với cộng đồng quốc tế thì  
pháp luật Việt Nam cũng đƣa ra những quy định về dẫn độ tội phạm.  
Khái niệm dẫn độ đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật tƣơng trợ tƣ pháp năm  
2007 nhƣ sau: “Dẫn độ là việc một nƣớc chuyển giao cho nƣớc khác ngƣời có hành vi  
phạm tội hoặc ngƣời bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nƣớc mình để nƣớc  
đƣợc chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với ngƣời đó”.  
Dẫn độ tội phạm có các đặc điểm sau đây:  
Thứ nhất, dẫn độ tội phạm là việc một quốc gia chuyển giao ngƣời có hành vi  
phạm tội cho quốc gia khác. Việc chuyển giao này đƣợc thực hiện trên cơ sở yêu cầu  
của quốc gia có yêu cầu chuyển giao ngƣời có hành vi phạm tội. Ngƣời bị dẫn độ là  
ngƣời thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ của quốc gia yêu cầu, đang bị truy cứu  
trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật, sau đó bỏ  
trốn sang quốc gia đƣợc yêu cầu chuyển giao. Việc chuyển giao ngƣời có hành vi  
phạm tội theo yêu cầu của quốc gia có yêu cầu chuyển giao do cơ quan có thẩm quyền  
của các quốc gia liên quan đến việc chuyển giao tiến hành.  
Thứ hai, dẫn độ tội phạm chỉ đƣợc thực hiện trên cơ sở có yêu cầu dẫn độ từ  
quốc gia khác. Quốc gia mà ngƣời phạm tội mang quốc tịch, quốc gia nơi tội phạm  
xảy ra, nơi tội phạm hoàn thành hoặc quốc gia có quyền bị tội phạm xâm phạm đều có  
quyền yêu cầu dẫn độ. Nhƣng việc có chấp nhận dẫn độ hay không lại phụ thuộc vào  
quyết định của quốc gia đƣợc yêu cầu dẫn độ. Nếu nhiều quốc gia yêu cầu dẫn độ một  
ngƣời thì quốc gia đƣợc yêu cầu căn cứ vào pháp luật của quốc gia mình, điều ƣớc  
quốc tế đa phƣơng, song phƣơng có liên quan và tình hình tội phạm cụ thể để đƣa ra  
quyết định có chấp nhận yêu cầu dẫn độ của một trong số các quốc gia đó hay không.  
Thứ ba, dẫn độ tội phạm nhằm mục đích đó là truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc  
thi hành án đối với ngƣời có hành vi phạm tội. Các hoạt động này sẽ do quốc gia yêu  
cầu tiến hành sau khi tiếp nhận ngƣời bị dẫn độ từ quốc gia đƣợc yêu cầu. Trong thực  
181  
tiễn, ngƣời phạm tội thƣờng tìm cách che giấu hành vi phạm tội của mình hoặc chạy  
sang lãnh thổ của quốc gia khác để trốn tránh sự truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS)  
của pháp luật. Nhiều trƣờng hợp, ngƣời phạm tội đã trốn thoát ra nƣớc ngoài, sử dụng  
giấy tờ giả hoặc các phƣơng tiện khác để che giấu nhân thân, tìm cách cứ trú lâu dài,  
trốn tránh sự trừng trị của pháp luật. Mục đích chung của dẫn độ tội phạm chính là  
buộc ngƣời có hành vi phạm tội bỏ trốn đó phải chịu TNHS về tội phạm mà họ đã gây  
ra.  
Hoạt động dẫn độ tội phạm đƣợc thực hiện có ý nghĩa quan trọng đối với công  
tác bảo đảm an ninh, trật tự. Cho dù ngƣời phạm tội sử dụng nhiều thủ đoạn bỏ trốn,  
cuối cùng vẫn không thoát khỏi sự truy cứu TNHS. Kết quả này vừa là sự trừng phạt  
ngƣời phạm tội, vừa có tác dụng răn đe những ngƣời phạm tội khác đang có ý định bỏ  
trốn, rộng hơn là giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của công dân.  
Thứ tƣ, dẫn độ tội phạm đƣợc thực hiện trên cơ sở điều ƣớc quốc tế hoặc mức độ  
quan hệ giữa các quốc gia. Các điều ƣớc quốc tế về dẫn độ tội phạm gồm điều ƣớc  
quốc tế đa phƣơng mà quốc gia đó tham gia hoặc gia nhập và điều ƣớc quốc tế song  
phƣơng đƣợc kí kết giữa quốc gia đƣợc yêu cầu và quốc gia yêu cầu dẫn độ. Nếu có  
một yêu cầu dẫn độ phù hợp với điều ƣớc quốc tế có liên quan giữa các quốc gia thành  
viên, yêu cầu đó phải đƣợc thi hành. Nếu từ chối không có cơ sở thì quốc gia đƣợc yêu  
cầu đã vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình đồng thời làm ảnh hƣởng đến quan hệ hợp  
tác, hữu nghị giữa hai quốc gia. Hoạt động dẫn độ tội phạm tuân thủ các nguyên tắc  
của pháp luật quốc tế và những nguyên tắc riêng của dẫn độ.  
Dẫn độ tội phạm đƣợc thực hiện trên cơ sở các Điều ƣớc quốc tế mà các bên là  
thành viên hoặc trên cơ sở “có đi có lại” trong mối quan hệ giữa các nƣớc, do đó, dẫn  
độ cũng cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định:  
Một là, nguyên tắc có đi có lại. Đây là một trong những nguyên tắc rất phổ biến  
trong nhiều lĩnh vực của đời sống quốc tế. Nội dung của nguyên tắc có đi có lại đối với  
hoạt động dẫn độ tội phạm quy định rằng các quốc gia đƣợc yêu cầu dẫn độ chỉ tiến  
hành các hoạt động dẫn độ tội phạm, nếu nhận đƣợc sự bảo đảm chắc chắn từ phía  
quốc gia yêu cầu rằng trong trƣờng hợp dẫn độ tƣơng tự phát sinh thì quốc gia này  
cũng sẽ đảm bảo chắc chắn trong thực tế sẽ thực hiện dẫn độ tội phạm cho quốc gia  
đối tác hữu quan theo yêu cầu của quốc gia này  
182  
Hai là, nguyên tắc không dẫn độ công dân nƣớc mình. Theo quy định tại điểm  
a, khoản 1, Điều 35 Luật Tƣơng trợ tƣ pháp năm 2007 thì cơ quan tiến hành tố tụng có  
thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu ngƣời bị yêu cầu dẫn độ là công dân  
Việt Nam. Xuất phát từ chủ quyền quốc gia đối với dân cƣ và xuất phát từ việc Nhà  
nƣớc có nghĩa vụ đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân (cá nhân mang quốc tịch  
của quốc gia đó), thì nội dung nguyên tắc không dẫn độ công dân nƣớc mình là quốc  
gia đƣợc yêu cầu dẫn độ có quyền từ chối không thực hiện yêu cầu dẫn độ của quốc  
gia khác, nếu cá nhân bị yêu cầu dẫn độ là công dân nƣớc mình (ngƣời mang quốc  
tịch của quốc gia đƣợc yêu cầu).  
Ba là, nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị. Đây là một trong những  
nguyên tắc gây ra khá nhiều tranh cãi về việc áp dụng nguyên tắc này trong thực tế  
quan hệ giữa các quốc gia. Nội dung của nguyên tắc này là quốc gia đƣợc yêu cầu có  
thể từ chối yêu cầu dẫn độ của quốc gia khác đối với các cá nhân mà quốc gia này cho  
rằng đã phạm các tội về chính trị (có lý do hoạt động và tƣ tƣởng chính trị đối lập tại  
quốc gia yêu cầu). Việc lý giải đƣợc “tính chính trị” của các loại tội phạm này phụ  
thuộc vào quan điểm chính trị của chính quốc gia đƣợc yêu cầu. Theo quy định tại  
điểm d khoản 1 Điều 35 của Luật Tƣơng trợ tƣ pháp năm 2007 thì cơ quan tiến hành tố  
tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu Ngƣời bị yêu cầu dẫn độ là  
ngƣời đang cƣ trú ở Việt Nam vì lý do có khả năng bị truy bức ở nƣớc yêu cầu dẫn độ  
do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã  
hội hoặc quan điểm chính trị. Nhƣ vậy, đối với những tội phạm chính trị thì cơ quan  
tiến hành tố tụng có quyền từ chối dẫn độ khi có yêu cầu.  
Bốn là, nguyên tắc định danh kép. Nguyên tắc này đƣợc coi là nguyên tắc quan  
trọng và không thể thiếu đƣợc của hoạt động dẫn độ tội phạm. Nội dung của nguyên  
tắc này là hoạt động dẫn độ chỉ đƣợc tiến hành khi hành vi do cá nhân bị dẫn độ thực  
hiện đƣợc định danh là hành vi phạm tội theo quy định hiện hành của pháp luật cả hai  
quốc gia (quốc gia yêu cầu và quốc gia đƣợc yêu cầu dẫn độ), đồng thời hành vi phạm  
tội phải đƣợc định án ở mức trừng phạt cụ thể theo ý chí của các quốc gia hữu quan và  
đƣợc ghi nhận trong pháp luật nƣớc mình, hoặc đƣợc các nƣớc này thoả thuận nhất trí  
và đƣợc quy định trong các điều ƣớc quốc tế giữa các quốc gia hữu quan. Nguyên tắc  
này đƣợc thể hiện tại khoản 1 Điều 33 của Luật Tƣơng trợ tƣ pháp năm 2007, theo đó:  
183  
Ngƣời có thể bị dẫn độ theo quy định của Luật này là ngƣời có hành vi phạm tội mà  
Bộ luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự của nƣớc yêu cầu quy định hình phạt tù  
có thời hạn từ một năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị Tòa án của nƣớc  
yêu cầu xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại ít nhất sáu tháng.  
Ngoài các nguyên tắc dẫn độ nêu trên, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận các  
trƣờng hợp không dẫn độ tội phạm:  
Thứ nhất, không dẫn độ nếu cá nhân bị dẫn độ sẽ bị kết án đối với tội phạm khác.  
Điều 34 Luật Tƣơng trợ tƣ pháp năm 2007 quy định: “Trƣờng hợp Việt Nam là nƣớc  
đƣợc yêu cầu dẫn độ thì việc dẫn độ chỉ đƣợc thực hiện khi nƣớc yêu cầu dẫn độ cam  
kết không truy cứu trách nhiệm hình sự ngƣời bị dẫn độ về hành vi phạm tội khác  
ngoài hành vi phạm tội đã đƣợc nêu trong yêu cầu dẫn độ, không dẫn độ ngƣời đó cho  
nƣớc thứ ba, trừ trƣờng hợp đƣợc sự đồng ý bằng văn bản của Việt Nam”. Theo đó, cá  
nhân đƣợc yêu cầu dẫn độ sẽ chỉ bị truy tố và xét xử đối với hành vi phạm tội trên cơ  
sở định danh tội phạm đƣợc áp dụng thời điểm xảy ra hành vi phạm tội đó, hành vi này  
đã đƣợc cung cấp nhƣ là cam kết để đƣợc dẫn độ của quốc gia yêu cầu. Quốc gia đƣợc  
yêu cầu hoàn toàn có thể từ chối dẫn độ tội phạm nếu quốc gia yêu cầu tiến hành xét  
xử đối với loại tội phạm khác mà cá nhân đó đã thực hiện trong quá khứ  
Thứ hai, một số trƣờng hợp không dẫn độ tội phạm khác bao gồm: Không dẫn độ  
trong trƣờng hợp cá nhân bị xét xử về cùng một tội; Không dẫn độ nếu hành vi phạm  
tội của cá nhân đƣợc thực hiện ở quốc gia này mà quốc gia khác lại đƣa ra yêu cầu dẫn  
độ; Cá nhân không bị dẫn độ nếu thời hiệu truy tố hình sự đã chấm dứt; Cá nhân sẽ  
không bị dẫn độ nếu các hành vi phạm tội đƣợc ghi nhận trong đề nghị dẫn độ thuộc  
sự điều chỉnh đặc biệt của quốc gia đƣợc yêu cầu.  
3. Thực trạng quy định dẫn độ tội phạm theo các Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp  
giữa Việt Nam và một số nƣớc trong khu vực Châu Á  
Dẫn độ tội phạm là thủ tục đặc biệt trong hoạt động tố tụng hình sự quốc tế và  
đƣợc thực hiện chủ yếu dựa trên các Điều ƣớc quốc tế (ĐƢQT) đa phƣơng và ĐƢQT  
song phƣơng, nhằm trao trả ngƣời có hành vi phạm tội cho quốc gia mà ngƣời đó là  
công dân, để quốc gia này thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng  
hình phạt đối với ngƣời phạm tội. Nhƣ vậy, trƣớc hết dẫn độ tội phạm đòi hỏi phải có  
sự hợp tác quốc tế, vì lợi ích chung là phòng chống tội phạm quốc tế. ĐƢQT song  
phƣơng về dẫn độ tội phạm hoặc ĐƢQT song phƣơng có quy định về dẫn độ tội phạm cũng  
184  
là cơ sở pháp lí cho các quốc gia tiến hành việc dẫn độ tội phạm khi có yêu cầu dẫn độ tội  
phạm phát sinh trong thực tiễn. Hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều ĐƢQT song phƣơng  
có quy định về dẫn độ tội phạm. Đối với các nƣớc trong khu vực Châu Á, Việt Nam đã ký  
kết nhiều ĐƢQT với nhiều nƣớc nhƣ Lào, Hàn Quốc, Mông Cổ, Liên Bang Nga,…  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định về dẫn độ tội  
phạm trong các ĐƢQT mà Việt Nam đã tham gia ký kết đối với các quốc gia nhƣ: Lào,  
Hàn Quốc và Liên Bang Nga. Việc tác giả lựa chọn các quốc gia trên để nghiên cứu là bởi  
vì Lào là một trong những quốc gia khá quen thuộc đối với giới tội phạm xuyên quốc gia,  
đây là nƣớc mà tội phạm có thể đi lại và lƣu trú một cách dễ dàng để lẫn trốn khi phạm tội;  
còn đối với Hàn Quốc và Liên Bang Nga thì đây là hai quốc gia mà có cộng đồng ngƣời  
Việt sinh sống và làm ăn ở đó rất phức tạp tạo ra những điều kiện thuận lợi cho tội phạm bỏ  
trốn. Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Lào đƣợc kí kết  
ngày 06/7/1998, có hiệu lực từ ngày 19/02/2000. Nội dung về dẫn độ tội phạm đƣợc quy  
định cụ thể tại mục II Chƣơng III (Dẫn độ ngƣời phạm tội) bao gồm 18 điều (từ Điều 59  
đến Điều 76)1. Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp về hình sự giữa Việt Nam với Đại Hàn Dân  
Quốc đƣợc kí kết ngày 15/9/2003, có hiệu lực từ ngày 19/4/2005, bao gồm 20 điều khoản2.  
Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp (TTTP) về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và  
Liên bang Nga đƣợc kí kết ngày 25/8/1998, có hiệu lực từ ngày 27/8/2012. Nội dung về dẫn  
độ tội phạm đƣợc quy định cụ thể tại Chƣơng II Phần thứ ba (Dẫn độ để truy tố hình sự và  
thi hành án) bao gồm 16 điều (từ Điều 62 đến Điều 77)3. Những ĐƢQT này chính là cơ sở  
pháp lý quan trọng cho hoạt động dẫn độ tội phạm ở nƣớc ta.  
Thứ nhất, về nghĩa vụ dẫn độ tội phạm  
Các hiệp định TTTP đều thống nhất quy định: Các nƣớc kí kết cam kết sẽ dẫn độ cho  
nhau những ngƣời đang ở trên lãnh thổ quốc gia mình để quốc gia kí kết truy cứu TNHS  
hoặc để thi hành hình phạt. Các hiệp định đều chỉ quy định việc dẫn độ tội phạm là để truy  
cứu TNHS những ngƣời có hành vi mà pháp luật của cả hai quốc gia kí kết đều coi là tội  
phạm, với hình phạt tù giam tối thiểu từ một năm trở lên. Cụ thể, theo quy định tại khoản 1  
1 Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Lào, https://thuvienphapluat.vn/van-  
truy cập ngày 20/8/2021.  
2 Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Liên bang Nga,  
phap-ly-van-de-dan-su-148599.aspx, truy cập ngày 20/8/2021  
3 Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp về hình sự giữa Việt Nam với Đại Hàn Dân Quốc, https://thuvienphapluat.vn/van-  
269645.aspx, truy cập ngày 20/8/2021.  
185  
Điều 2 Hiệp định về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và Hàn Quốc: “Ngƣời bị dẫn độ theo  
quy ƣớc của Hiệp định này là ngƣời có hành vi phạm tội có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ  
một năm trở lên hoặc nặng hơn theo quy định pháp luật của cả hai bên tại thời điểm yêu cầu  
dẫn độ”.  
Hoặc tại khoản 2 Điều 62 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Liên bang Nga quy  
định: “Việc dẫn độ để truy tố hình sự đƣợc tiến hành đối với những hành vi mà theo pháp  
luật của cả hai Bên kí kết đều là tội phạm và phải chịu hình phạt tù với thời hạn từ một năm  
trở lên hoặc nặng hơn”.  
Bên cạnh đó, khi xem xét đến đối tƣợng bị dẫn độ để chấp hành hình phạt, ở các hiệp  
định còn tồn tại sự khác nhau về hình phạt tù tối thiểu để có thể dẫn độ ngƣời có hành vi  
phạm tội hoặc đã bị kết án. Phần lớn các hiệp định quy định chỉ dẫn độ để bắt thi hành hình  
phạt những ngƣời phạm tội hoặc đã bị kết án mà theo pháp luật của hai quốc gia kí kết bị  
phạt tù từ một năm trở lên.  
Nhƣ vậy, hai quốc gia kí kết chỉ thực hiện dẫn độ trên cơ sở quy định của Hiệp định.  
Nếu một quốc gia có yêu cầu dẫn độ phù hợp với các quy định của hiệp định thì các quốc  
gia kí kết kia phải có nghĩa vụ chuyển giao đối tƣợng đang bỏ trốn trên lãnh thổ của quốc  
gia mình cho quốc gia kí kết có yêu cầu. Ngƣợc lại, hai quốc gia kí kết sẽ không có nghĩa  
vụ dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ trái với các quy định của hiệp định hoặc trái với pháp luật của  
quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu. Mục đích của việc dẫn độ tội phạm là để quốc gia kí kết yêu  
cầu dẫn độ truy cứu TNHS hoặc bắt thi hành hình phạt đối với ngƣời bị dẫn độ. Có nghĩa là  
ngƣời đó đang là đối tƣợng của quá trình tố tụng hình sự, có thể đã bỏ trốn ngay sau khi gây  
án hoặc đang trong một giai đoạn tố tụng nào đó của quá trình tố tụng hình sự, có thể là  
ngay sau khi bị khởi tố hoặc đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.  
Để quốc gia kí kết thực hiện nghĩa vụ dẫn độ, quốc gia kí kết yêu cầu dẫn độ phải chỉ ra  
rằng đối tƣợng bỏ trốn đã thực hiện hành vi phạm tội và hành vi đó chƣa bị truy cứu TNHS  
hay bị trừng phạt.  
Thứ hai, về vấn đề từ chối dẫn độ ngƣời phạm tội  
Từ chối dẫn độ ngƣời phạm tội là vấn đề đƣợc quy định ở tất cả các hiệp định TTTP  
mà Việt Nam kí kết với các quốc gia có quy định về dẫn độ. Tuy nhiên, các trƣờng hợp từ  
chối dẫn độ đƣợc quy định trong từng hiệp định có sự khác nhau nhất định. Nói chung có  
thể khái quát các trƣờng hợp từ chối dẫn độ tội phạm trong các hiệp định bao gồm: Ngƣời  
186  
bị dẫn độ là công dân của quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu; ngƣời bị dẫn độ là cá nhân đã có  
hành vi phạm pháp trong cùng một vụ án mà quốc gia kí kết yêu cầu đã kết án hoặc đã có  
bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật hoặc đã có lệnh đình chỉ xét xử vụ án; tội phạm xảy  
ra trên lãnh thổ quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu dẫn độ; quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu xét thấy  
trong pháp luật của quốc gia mình, hành vi phạm tội làm căn cứ dẫn độ đã hết thời hiệu tố  
tụng hình sự hoặc hết thời hạn thi hành bản án; quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu dẫn độ xét thấy  
pháp luật quốc gia mình không thể chấp nhận đƣợc việc dẫn độ vì lí do đặc biệt.  
Trong các trƣờng hợp từ chối dẫn độ tội phạm nêu trên, xuất phát từ nguyên tắc quốc  
tịch và nguyên tắc chủ quyền quốc gia, các hiệp định TTTP đều quy định hai quốc gia kí kết  
có quyền từ chối dẫn độ đối với công dân của quốc gia mình. Tuân theo nguyên tắc pháp lí  
tối cao đó, quốc gia kí kết sẽ không chấp nhận yêu cầu dẫn độ công dân quốc gia mình, cho  
dù ngƣời đó phạm tội trên lãnh thổ của quốc gia bên kia. Đây là vấn đề hoàn toàn phù hợp  
với pháp luật của mỗi quốc gia cũng nhƣ pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó, trong trƣờng hợp  
quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu xét thấy trong pháp luật của quốc gia mình hành vi phạm tội  
làm căn cứ dẫn độ tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc hết thời hạn thi hành bản  
án thì đó cũng là căn cứ để từ chối dẫn độ tội phạm. Bởi lẽ, dẫn độ tội phạm phụ thuộc rất  
lớn vào việc xem xét thời hiệu trên cơ sở pháp luật của quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu dẫn độ.  
Nếu một vụ án, theo pháp luật của quốc gia kí kết yêu cầu vẫn còn thời hiệu truy cứu TNHS  
nhƣng theo pháp luật của quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu thời hiệu này đã hết thì quốc gia kí  
kết đƣợc yêu cầu vẫn có quyền căn cứ vào pháp luật của quốc gia mình để từ chối dẫn độ  
tội phạm. Về nguyên tắc, khi đã hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc hết thời hạn chấp hành  
hình phạt đối với một tội phạm thì ngƣời gây ra hành vi phạm tội đó sẽ không bị tiến hành  
tố tụng, cũng nhƣ không bị bắt thi hành hình phạt đã tuyên. Vì ý nghĩa đó nên trong pháp  
luật quốc gia cũng nhƣ ĐƢQT về dẫn độ tội phạm của một số quốc gia quy định rõ về vấn  
đề này. Đây là vấn đề cần đặt ra trong việc thực hiện các hiệp định TTTP giữa Việt Nam  
với các quốc gia.  
Bên cạnh những điểm chung về các trƣờng hợp từ chối dẫn độ tội phạm, tại một số  
hiệp định còn quy định những trƣờng hợp dẫn độ tội phạm đặc thù, chỉ tồn tại trong hiệp  
định đó. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 3 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Hàn Quốc quy  
định: “Việc dẫn độ sẽ không đƣợc thực hiện theo Hiệp định trong trƣờng hợp khi bên đƣợc  
yêu cầu xác định rằng tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm mang tính chất chính trị”  
187  
Thứ ba, về vấn đề hoãn dẫn độ tội phạm  
Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với các quốc gia đều quy định về vấn đề này. Có thể  
khát quát quy định về hoãn dẫn độ tội phạm trong các hiệp định TTTP nhƣ sau: Nếu ngƣời  
bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu TNHS hoặc đang phải chấp hành hình phạt trên lãnh thổ  
của bên kí kết đƣợc yêu cầu do thực hiện tội phạm khác thì có thể hoãn dẫn độ ngƣời đó  
cho đến khi kết thúc việc xét xử hình sự hoặc chấp hành xong hình phạt hoặc đƣợc tha trƣớc  
thời hạn. Ngoài ra, trong Hiệp định về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và Hàn Quốc, Lào,  
Liên Bang Nga thì vấn đề hoãn dẫn độ đã đƣợc quy định khá cụ thể.  
Thứ tƣ, về vấn đề giới hạn của việc truycứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời bị dẫn độ  
Các hiệp định TTTP mà Việt Nam kí kết với các quốc gia đều quy định: Nếu không  
đƣợc sự đồng ý của quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu thì không truy cứu TNHS ngƣời bị dẫn  
độ, không đƣợc buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt về một tội phạm đã thực hiện  
trƣớc ngày dẫn độ và cũng không dẫn độ ngƣời đó cho quốc gia thứ ba. Bên cạnh đó, phần  
lớn hiệp định còn quy định các trƣờng hợp không đòi hỏi phải có sự đồng ý nói trên, có  
nghĩa là không đòi hỏi phải có sự đồng ý của quốc gia kí kết đƣợc yêu cầu thì quốc gia kí  
kết yêu cầu có thể truy cứu hoặc không truy cứu TNHS ngƣời bị dẫn độ, hoặc có thể thi  
hành án hay không thi hành án trong các trƣờng hợp cụ thể và thƣờng đƣợc quy định tại  
khoản 2 của điều luật quy định về vấn đề này.  
Thứ năm, một số quy định khác liên quan đến dẫn độ  
Quy định có liên quan đến dẫn độ tội phạm đầu tiên đó là dẫn độ tạm thời. Dẫn độ  
tạm thời cũng đƣợc ghi nhận ở hầu hết các hiệp định TTTP mà Việt Nam kí kết với các  
quốc gia, trong đó đều thể hiện nội dung: Nếu việc hoãn dẫn độ tội phạm dẫn đến hết thời  
hiệu tố tụng (chính là thời hiệu truy cứu TNHS) hoặc có thể cản trở việc tiến hành xét xử vụ  
án hình sự thì ngƣời bị yêu cầu dẫn độ có thể bị dẫn độ tạm thời theo yêu cầu hợp lí của các  
quốc gia kí kết.  
Ngoài các vấn đề cơ bản nêu trên, trong hiệp định TTTP còn quy định các vấn đề  
khác liên quan đến dẫn độ tội phạm nhƣ bắt giữ để dẫn độ, văn bản dẫn độ, vấn đề bổ sung  
tài liệu văn bản dẫn độ, dẫn độ tạm thời, dẫn độ lại, chuyển giao ngƣời dẫn độ, thông báo  
kết quả dẫn độ, quá cảnh... Nhìn chung, các quy định trên có sự khác nhau nhất định về  
cách thức quy định còn về nội dung đều có những điểm chung nhất, tạo ra sự thống nhất  
188  
trong việc thực hiện dẫn độ tội phạm mà Việt Nam tham gia với tƣ cách là một trong hai  
bên kí kết.  
Các ĐƢQT nêu trên đã và đang góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc chắc cho  
hoạt động dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và các nƣớc nói trên. Tuy nhiên, một số quy  
định trong các ĐƢQT còn tồn tại một số hạn chế, bất cập nhƣ:  
Một là, hiện nay ở nƣớc ta chƣa có một văn bản riêng quy định về dẫn độ tội  
phạm. Mặc dù đã đƣợc nhắc tới trong các văn bản nhƣ: “Luật Tƣơng trợ tƣ pháp  
2007”… đã có những quy định cụ thể về thẩm quyền, đối tƣợng dẫn độ, các trƣờng  
hợp từ chối dẫn độ, thủ tục yêu cầu dẫn độ và một số các quy định khác. Tuy nhiên, về  
các quy định dẫn độ thuộc một trong những hoạt động TTTP và trong các quy định  
không nói rõ về trƣờng hợp dẫn độ từ Việt Nam và dẫn độ tới Việt Nam. Đây là một  
trong những quy định rất thƣờng xuyên xuất hiện trong các Hiệp định TTTP về dẫn độ  
tội phạm giữa Việt Nam và các quốc gia liên quan, theo đó hoạt động dẫn độ có thể  
đƣợc đơn giản hóa trong trƣờng hợp cá nhân bị dẫn độ tỏ rõ sự đồng ý với việc bị dẫn  
độ đến các quốc gia yêu cầu dẫn độ. Những trình tự và thủ tục cần thiết sẽ đƣợc cắt  
giảm đi rất nhiều so với một yêu cầu dẫn độ thông thƣờng, cho nên các văn bản pháp  
lý ở nƣớc ta cần phải có quy định cụ thể về vấn đề này.  
Hai là, việc ban hành các văn bản hƣớng dẫn thi hành Luật Tƣơng trợ tƣ pháp  
còn chậm và chƣa thật sự có hiệu quả. Nhiều hiệp định đƣợc kí kết trƣớc khi Luật  
Tƣơng trợ tƣ pháp 2007 đƣợc ban hành đã thể hiện sự không phù hợp với các quy định  
pháp luật nhƣng chƣa thể đàm phán, sửa đổi bởi vì việc đàm phán về vấn đề này cũng  
rất khó khăn và phức tạp. Cùng với đó, ở các quốc gia có đông công dân Việt Nam  
đang sinh sống, học tập, làm việc (chẳng hạn nhƣ Nhật Bản) thƣờng xuyên xảy ra  
nhiều vấn đề phức tạp về tình hình tội phạm vậy mà nƣớc ta vẫn chƣa kí kết điều ƣớc  
quốc tế song phƣơng nào nên khi yêu cầu dẫn độ tội phạm gặp rất nhiều những vấn đề  
khác và khó thực hiện.  
Ba là, chế độ chính sách, kinh phí, trang thiết bị cho các hoạt động về tƣơng trợ  
tƣ pháp và dẫn độ còn rất hạn hẹp. Đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động dẫn độ tội  
phạm còn nhiều hạn chế về số lƣợng và khả năng làm việc trong khi nhu cầu đòi hỏi  
ngày càng nhiều, đặc biệt là ở các địa phƣơng. Vấn đề về kĩ năng khác vẫn còn thiếu  
nhƣ: tin học, ngoại ngữ, phiên dịch…  
189  
4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật  
Qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về dẫn độ tội phạm và thực trạng  
quy định dẫn độ tội phạm theo các hiệp định Tƣơng trợ tƣ pháp giữa Việt Nam và một  
số nƣớc trong khu vực Châu Á, tác giả nhận thấy việc dẫn độ tội phạm còn xảy ra một  
số bất cập và khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Việc tìm ra những giải pháp để khắc  
phục khó khăn khi thực hiện hoạt động dẫn độ tại Việt Nam luôn là mối quan tâm  
hàng đầu của các cấp lãnh đạo thì sau đây tác giả xin đƣợc đề xuất một số kiến nghị  
nhƣ sau:  
Thứ nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét lấy ý kiến và đƣa ra các văn  
bản cụ thể sớm nhất để bổ sung một số vấn đề còn thiếu trong Luật Tƣơng trợ tƣ pháp  
2007 nhƣ các quy định liên quan đến dẫn độ tội phạm.  
Thứ hai, cần phải đẩy mạnh việc đàm phán, kí kết các điều ƣớc quốc tế trong lĩnh  
vực dẫn độ tội phạm đối với các nƣớc trong khu vực châu Á mà Việt Nam chƣa kí kết  
các Hiệp ƣớc song phƣơng về vấn đề này. Ngoài ra, đối với các hiệp ƣớc đƣợc kí kết  
trƣớc ngày Luật Tƣơng trợ tƣ pháp 2007 có hiệu lực mà xảy ra nhiều bất cập và chƣa  
phù hợp với luật này thì cần phải đƣợc củng cố đàm phán với để tránh tình trạng các  
quy định pháp luật chồng chéo gây ảnh hƣởng tới hiệu quả chung.  
Thứ ba, tích cực tuyển dụng và chủ động tìm kiếm những cá nhân có năng lực  
chuyên môn cao, nghiệp vụ tốt, đặc biệt có khả năng giao tiếp ngoại ngữ tốt. Cần phải  
đầu tƣ và nâng cấp các trang thiết bị để đảm bảo tính nhanh chóng, chính xác và bảo  
mật của thông tin. Đồng thời phải nỗ lực tìm kiếm sự giúp đỡ của các quốc gia khác có  
sự phát triển trong lĩnh vực này, bao gồm cả việc mở rộng việc cung cấp thông tin và  
các dữ liệu điện tử phục vụ cho hoạt động điều tra, xác minh tội phạm.  
5. Kết luận  
Trong những năm qua, tình hình phát triển và biến đổi không ngừng của tình  
hình chính trị, kinh tế, xã hội đã có nhiều biến chuyển tốt, ổn định và bền vững. Bên  
cạnh những phát triển thuận lợi đó, các quốc gia cũng phải đối mặt với rất nhiều thách  
thức và khó khăn. Một trong những khó khăn đó là sự gia tang của các loại tội phạm,  
nó không chỉ diễn ra ở trong phạm vi trong nƣớc mà còn lan rộng ra khắp thế giới. Với  
nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của dẫn độ tội phạm, tác giả đã nghiên cứu và  
làm rõ thực trạng dẫn độ tội phạm theo các hiệp định Tƣơng trợ tƣ pháp giữa Việt  
190  
Nam và Lào, Hàn Quốc, Liên Bang Nga và đồng thời đƣa ra những giải pháp kiến  
nghị hoàn thiện pháp luật. Tác giả hy vọng sẽ đem lại những ý nghĩa thiết thực về lý  
luận và thực tiễn, đóng góp một phần nhỏ trong công tác đấu tranh phòng chống tội  
phạm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật tƣơng trợ tƣ  
pháp.  
2. Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Lào,  
su-va-hinh-su-giua-Viet-Nam-Lao-153635.aspx, truy cập ngày 20/8/2021.  
3. Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Liên bang Nga,  
4. Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp về hình sự giữa Việt Nam với Đại Hàn Dân Quốc,  
5. Hà Thanh Hòa, Khái niệm dẫn độ tội phạm trong luật quốc tế và pháp luật nước ta,  
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7 (263), tháng 4/2014.  
6. Nguyễn Ngọc Chí, Nguyễn Thị Ly, Dẫn độ tội phạm và định hướng hoàn thiện  
pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Tập 31, số 2, 2015.  
191  
pdf 13 trang Thùy Anh 16960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dẫn độ tội phạm theo quy định của các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực châu Á", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdan_do_toi_pham_theo_quy_dinh_cua_cac_hiep_dinh_tuong_tro_tu.pdf