Tài liệu Tìm hiểu về quyền con người (Phần 2)

TỰ DO TÍN NGƯỠNG  
TỰ DO VỀ TƯ TƯỞNG, TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO  
TỰ DO THỂ HIỆN CÁC QUYỀN NÀY MỘT MÌNH HOẶC TRONG CỘNG ĐỒNG  
THÔNG QUA TRUYỀN GIÁO, THỰC HÀNH, THỜ CÚNG VÀ TÔN KÍNH  
TỰ DO KẾ TỤC HAY THAY ĐỔI TÔN GIÁO, ĐỨC TIN CỦA BẢN THÂN  
“Tất cả mọi người đều có quyền tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, và tôn giáo; quyền này bao gồm sự  
tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng của mỗi cá nhân và sự tự do thể hiện tôn giáo hay tín  
ngưỡng của người đó, hoặc một mình hoặc trong cộng đồng cùng với những người khác thông qua  
truyền giáo, hành xử, thờ cúng hay sự tôn kính”.  
Điều 18 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, năm 1948  
196  
CÂU CHUYỆN MINH HỌA  
sẽ phải bị đem ra xét xử ngay lập tức tại một tòa  
án công bằng.  
Dhabihullah Maharami bị bắt vào năm 1995 và  
bị kết án tử hình năm 1996 vì bỏ đạo (chuyển từ  
Đạo Hồi sang tín ngưỡng Baha). Án tử hình của  
ông ta đã được giảm xuống án tù chung thân vào  
năm 1999. Tổ chức Ân xá quốc tế coi ông là tù  
nhân lương tâm vào năm 1996 và đã mở chiến  
dịch yêu cầu tha bổng ông ta ngay lập tức và  
không điều kiện. Trường hợp này cũng đã được  
nêu ra trong báo cáo với tiêu đề Iran:  
Số lượng các vụ gây rối của cộng đồng Baha đã  
tăng lên một cách rõ rệt, trong đó có ít nhất 66 vụ  
phần tử Baha bị bắt kể từ đầu năm 2005, điều này  
chứng tỏ nhu cầu cần được công nhận là tín đồ  
Baha hoặc những hành động hòa bình thay mặt  
cho cộng đồng Baha đã xảy ra ở Iran. Hầu hết các  
trường hợp đều được thả, nhưng có ít nhất 9  
Dhabihullah Maharami: Tù nhân lương tâm người được báo cáo là còn bị giam giữ trong nhà  
tù, trong đó có Mehran Kawsari và Bahram  
Mashhadi, bị kết án lần lượt là 3 năm và 1 năm  
ngồi tù vì hành động liên quan đến lá thư họ đề  
gửi cho nguyên Tổng thống Hojjatoleslamval  
Moslemin Sayed Mohammad Khatami yêu cầu  
chấm dứt những xâm phạm về quyền con người  
đối với cộng đồng tín ngưỡng Baha.  
(Chỉ dẫn AI: MDE 13/34/96).  
Theo các bản báo cáo, người ta đã tìm thấy  
Dhabihulla Maharami bị chết trong xà lim ở nhà  
tù Yazd vào ngày 15 tháng 12 năm 2005. Gia  
đình của ông ta được thông báo là ông ta bị chết  
do một cơn đau tim và thi thể của ông sau đó  
được trao cho gia đình đem đi chôn cất.  
(Nguồn: Tổ chức Ân xá quốc tế 2006. Iran:  
Yêu cầu điều tra cái chết của những tù nhân  
lương tâm Baha. Thông cáo của Tổ chức Ân xá  
quốc tế. Tài liệu có tại địa chỉ: http://web.  
amnesty.org/library/index/engMDE130042006?o  
pen&of=eng-IRN)  
Tuy nhiên, báo cáo cho thấy Dhabihulla  
Maharami đang trong tình trạng sức khỏe tốt  
ngay trước thời điểm ông ta bị chết và trước đó  
không có thông tin gì về việc ông bị bệnh tim,  
mặc dù đương nhiên là khi ở trong tù ông ta  
phải lao động chân tay rất vất vả, và điều này có  
thể đã gây nên hay góp phần gây nên cái chết  
của ông ta. Người ta cũng đồn rằng ông ta đã  
nhận được những lời đe dọa sẽ bị giết chết.  
Các câu hỏi để thảo luận  
1. Bạn nghĩ vì lí do gì mà ông Mahrami bị đối xử  
như vậy?  
Trong lá thư của mình gửi đến Ayatollah  
Mahmoud Hashemi Shahroudi, người đứng đầu  
bộ máy tư pháp Iran, Tổ chức Ân xá quốc tế đã  
nhấn mạnh rằng bất cứ sự điều tra nào về cái  
chết của Dhabibulla Maharami trong thời gian  
bị giam cầm phải được thực hiện theo các  
nguyên tắc của Liên hiệp quốc về phòng ngừa  
và điều tra hiệu quả việc xét xử chiếu lệ, tuỳ tiện  
2. Bạn đã bao giờ nghe thấy những trường hợp  
tương tự như vậy xảy ra ở quốc gia hay khu vực  
của bạn chưa?  
3. Chuẩn mực quốc tế nào về quyền con người đã  
bị xâm phạm?  
4. Có thể ngăn ngừa những vụ việc tương tự như  
vậy xảy ra như thế nào?  
và không theo pháp luật (  
Pháp quyền và  
5. Những thể chế và thủ tục quốc tế hiện hành nào  
được sử dụng cho các trường hợp như vậy?  
xét xử công bằng), và rằng bất cứ ai bị phát hiện  
ra phải chịu trách nhiệm cho cái chết của ông ta  
197  
ĐIỀU CẦN BIẾT  
1. TỰ DO TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG: VẪN  
CÒN MỘT CHẶNG ĐƯỜNG DÀI  
hơn khi đề cập đến so với những vấn đề quyền  
con người khác.  
Hàng triệu người tin tưởng rằng có đấng thiêng  
liêng nào đó bên ngoài chúng ta đang dẫn dắt  
chúng ta về mặt tâm linh. Vì tín ngưỡng mà  
bạn theo đuổi, bạn có thể sẽ bị buộc phải từ bỏ  
nó, từ bỏ gia đình bạn, bị ngược đãi hành hạ, bị  
bắt giam vào ngục tù, hoặc thậm chí có thể bị  
giết chết.  
Bên cạnh đó, còn một vấn đề khác gây trở ngại  
cho quy định về tự do tôn giáo trong luật quốc tế  
về quyền con người. Trên toàn thế giới, tôn giáo  
và tín ngưỡng là các yếu tố cơ bản của chính trị  
và cho các nhà chính trị. Tín ngưỡng tôn giáo và  
tự do tôn giáo thường bị lạm dụng cho các đòi  
hỏi và yêu sách chính trị về quyền lực, thường  
dẫn đến những quan điểm sai lầm khi tôn giáo và  
chính trị được kết nối với nhau.  
Vào thế kỷ thứ ba, những người theo đạo Phật bị  
ngược đãi hành hạ ở Ấn Độ bởi vì họ đã tin  
tưởng vào những giáo huấn của Đức Phật. Bắt  
đầu từ thế kỷ IX sau Công nguyên - được gọi là  
“thời kỳ tăm tối” ở châu Âu - Đạo Hồi và các đạo  
khác không phải đạo Cơ Đốc, bị ngược đãi hành  
hình “trên danh nghĩa chúa Trời”. Kế tiếp đó,  
chiến tranh mở rộng của Đế chế Ottoman và Đạo  
Hồi đã làm châu Âu khiếp sợ. Những người Do  
Thái bị dồn vào sống trong những khu riêng biệt  
không chỉ bởi người Cơ Đốc mà còn bởi người  
Hồi Giáo trước đấy. Những hành động chống đối  
người Ấn ở Mỹ La tinh cũng xảy ra trong quá  
trình Cơ Đốc hóa.  
“Không ai tự nhiên bị trói buộc phải theo một  
nhà thờ hay một giáo phái, nhưng mọi người đều  
có thể tự nguyện tham gia vào xã hội mà ở đó  
anh ta tin là anh ta đã tìm thấy tín ngưỡng và sự  
tôn sùng thực sự có thể được Chúa Trời chấp  
nhận. Hi vọng cứu rỗi linh hồn, là lý do duy nhất  
khiến mỗi người bước vào thế giới đó, và vì vậy  
cũng có thể là lý do duy nhất để anh ta ở lại đó  
[…]. Nhà thờ, vì vậy, là một xã hội  
mà thành viên tự nguyện hợp nhất lại.”  
Theo John Locke. 1689. Bức thư về sự khoan dung.  
Trong quá khứ và cả hiện tại, những người theo  
tôn giáo hay không theo tôn giáo đều bị đe dọa  
bởi điều họ tin hay không tin. Khả năng có tín  
ngưỡng vào điều gì đó, và biểu lộ ra ngoài được  
biết đến và bảo vệ như là tự do tôn giáo.  
Sự bảo vệ thoả đáng ngày càng trở nên cấp thiết  
trong những năm gần đây bởi vì không khoan  
dung về tôn giáo và ngược đãi luôn ở vị trí hàng  
đầu của các xung đột bi thảm trên toàn thế giới  
liên quan đến các vấn đề về sắc tộc, mâu thuẫn  
Đây không chỉ là một vấn đề luật pháp mà còn là chủng tộc, hay sự hận thù giữa các nhóm. Ngược  
một vấn đề về đạo đức. Tín ngưỡng tôn giáo có đãi trên khía cạnh tôn giáo có thể được nhận ra  
ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt riêng tư của  
mỗi cá nhân bởi vì nó động chạm đến nhận thức  
cá nhân và hiểu biết về thế giới của chúng ta.  
Niềm tin là một nhân tố chủ đạo trong việc thể  
hiện bản sắc văn hóa của mỗi người, đó là lý do  
vì sao tự do tôn giáo lại là một chủ đề nhạy cảm  
và có vẻ như là một quyền gây nhiều khó khăn  
trong các xung đột hiện nay giữa những tín đồ  
của một tín ngưỡng và những người không theo  
tín ngưỡng ấy, giữa tín ngưỡng truyền thống và  
tín ngưỡng “mới” ở những quốc gia đa tôn giáo,  
hoặc giữa các quốc gia với một tôn giáo chính  
thống hay được ưa chuộng với những cá nhân  
hoặc cộng đồng không thuộc tôn giáo đó.  
198  
Ngày nay, vi phạm tự do tôn giáo là sự đàn áp tất cả mọi người - cá nhân, nhóm xã hội hay thậm  
các tín ngưỡng khác nhau ở Miến Điện, Trung chí là quốc gia. Sự đe dọa rất lớn và ở khắp nơi về  
Quốc (như Đạo Hồi của người Duy Ngô Nhĩ ở an ninh con người, trên cơ sở niềm tin hay tôn giáo  
Xinjiang, đạo Phật ở Tây Tạng), Iran (đạo Baha), này đòi hỏi phải có biện pháp bảo vệ đặc biệt. Giáo  
Bắc Triều Tiên, Xudan, Ả Rập Xê út, ở Eritrea, dục và học hỏi về quyền con người chính là chìa  
Pakistan, Turkmenistan và Uzbekistan. Những tín khóa cho sự tôn trọng tư tưởng hay tôn giáo của  
ngưỡng này bắt đầu từ sự lớn mạnh mới xảy ra người khác. Việc học hỏi về tôn trọng, khoan dung  
của trào lưu chính thống (tin tuyệt đối vào kinh và nhân phẩm không thể đạt được bằng cách cưỡng  
thánh) đạo Cơ đốc ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, sự chế. Nó phải là sự cam kết dài hạn của mỗi cá nhân  
nổi lên mãnh liệt của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và mọi người nhằm cùng xây dựng an ninh cá nhân  
đạo Hồi, đến các hình thái mới chống lại nhóm và toàn cầu.  
Xê-mít (đó là sự sợ hãi và căm thù đối với người  
Do Thái/đạo Do Thái) ở các quốc gia khác nhau,  
và đặc biệt từ ngày 11 tháng 9 năm 2001, sự  
Không có quốc gia hoà bình nào mà lại không  
chống đối ngày càng tăng và thường xuyên theo  
đảm bảo hòa bình trong tôn giáo. Không thể  
dõi động tĩnh của nhóm đạo Hồi (đó là sự sợ hãi  
có hòa bình giữa các tôn giáo nếu các tôn giáo  
và căm thù đối với đạo Hồi và các tín đồ Hồi  
không có sự đối thoại. Và không thể có sự  
giáo) ở Hoa Kỳ và châu Âu.  
đối thoại nào giữa các tôn giáo nếu không  
Đáng tiếc là vẫn còn rất nhiều trường hợp cho  
tìm hiểu về nền tảng, nguyên tắc tư tưởng  
thấy sự cần thiết khẩn cấp liên quan đến tự do tôn  
cơ sở của các tôn giáo”.  
giáo, đặc biệt là khi chúng liên quan tới chủ  
Theo Hans Küng, Chủ tịch Quỹ đạo đức toàn cầu  
nghĩa cực đoan. Sự việc hiện tượng này phải  
được đề cập đến một cách riêng biệt.  
2. ĐỊNH NGHĨA VÀ MÔ TẢ VẤN ĐỀ  
Điều cần biết  
Tôn giáo là gì?  
Tự do tôn giáo và an ninh con người  
Không có một định nghĩa chung nào về tôn giáo  
trong các thảo luận triết học hay xã hội học. Tuy  
nhiên, trong các định nghĩa khác nhau thì vài yếu  
tố chung có thể được đúc kết.  
Tự do không bị sợ hãi là một giá trị chủ đạo của an  
ninh con người. Giá trị chủ đạo này sẽ bị đe dọa khi  
có sự xâm phạm các tự do tôn giáo tín ngưỡng. Nếu  
bạn không thể tin tưởng vào bất cứ “một đức Chúa  
Trời” của một đạo nào đó, hay về khái niệm về vũ  
trụ mà bạn thích, thì sự tự do và an ninh của bản  
thân bạn không thể được bảo đảm. Những đe dọa  
đối với tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, tín ngưỡng  
và tôn giáo có ảnh hưởng trực tiếp tới cả các cá  
nhân và các nhóm xã hội trong việc đảm bảo và  
phát triển sự toàn vẹn cá nhân.  
Tôn giáo, theo từ nguyên của nó, liên quan đến từ  
Religare trong tiếng La tinh, có nghĩa là sự “ràng  
buộc”. Tôn giáo là một tổ chức nhằm ràng buộc  
những tín đồ vào những điều khoản mang khái  
niệm “Tuyệt đối” về cá nhân hay bất cứ ai. Nó  
thường bao gồm một tập hợp các lễ nghi, nghi  
thức, các quy tắc và quy định giúp cho các cá  
nhân hay cộng đồng gắn kết sự tồn tại của họ với  
“Đức Chúa Trời” hay “Các thần thánh”. Theo  
Milton J. Yinger, nó có thể là “một hệ thống  
những tín ngưỡng và thực hành mà dựa vào đó để  
một nhóm người đấu tranh với những vấn đề cơ  
bản của cuộc sống”.  
Khi sự phân biệt đối xử và khủng bố về tôn giáo  
mang tính có hệ thống và được thể chế hóa thì nó  
có thể dẫn đến sự căng thẳng giữa các cộng đồng và  
thậm chí gây nên khủng hoảng trên quy mô quốc tế.  
Đối tượng không được bảo đảm an ninh có thể là  
199  
Và so sánh với Từ điển pháp luật của Black, tôn Trong Nhận xét chung số 22 về Điều 18 Điều ước  
giáo được định nghĩa như là:  
Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, (ICCPR)  
Ủy ban Quyền con người của Liên hiệp quốc, định  
nghĩa sự bảo vệ tôn giáo hay tín ngưỡng như sau:  
“Điều 18 bảo vệ các tín ngưỡng hữu thần, không  
hữu thần, hay vô thần, cũng như bảo vệ quyền  
không theo một tôn giáo hay tín ngưỡng nào cả”.  
Nhận xét chung tiếp tục nhận định “Thuật ngữ tôn  
giáo hay tín ngưỡng được diễn giải theo nghĩa rất  
rộng. Điều 18 không bị giới hạn trong ngữ nghĩa  
về các tôn giáo truyền thống hay về các tôn giáo  
và tín ngưỡng với những đặc thù thể chế hay hành  
xử tương tự như của tôn giáo truyền thống. Ủy  
ban, vì vậy, quan tâm đến bất cứ xu hướng phân  
biệt đối xử nào nhằm chống lại tôn giáo hay tín  
ngưỡng vì bất cứ lý do gì, kể cả yếu tố thực tế là  
chúng mới ra đời, hay chỉ đại diện cho một tôn  
giáo thiểu số có thể gây ra sự thù địch của cộng  
đồng tôn giáo áp đảo”.  
“Một mối quan hệ (của con người) với thần  
thánh, đức Chúa để tỏ lòng tôn kính, thờ cúng,  
vâng lời và tuân thủ mệnh lệnh và lời răn dạy  
của các đấng tối cao và các đấng siêu nhiên.  
Trong một nghĩa rộng nhất (tôn giáo) bao gồm  
các dạng niềm tin vào sự tồn tại của các đấng tối  
cao thực hiện quyền lực của mình đối với con  
người thông qua sự can thiệp, áp đặt các quy tắc  
ứng xử, hành động, với những phần thưởng hay  
trừng phạt trong tương lai”.  
Những khái niệm này và những khái niệm tương  
tự, tất cả đều thống nhất về việc ghi nhận sự tồn  
tại của một cái gì đó tối cao, thần thánh, tuyệt  
đối, siêu việt, có thể là một cá nhân hay nhóm.  
Cái gọi là “Tối cao/Tối thượng” ấy có chức năng  
quy chuẩn và các tín đồ được mong đợi là sẽ tuân  
theo những dạy dỗ và quy tắc hành xử do tôn  
giáo của họ quy định, như con đường dẫn tới cái  
tuyệt đối. Các tín đồ cũng được mong đợi sẽ thể  
hiện các tín ngưỡng tôn giáo của họ thông qua  
các cách tôn thờ và thờ cúng khác nhau. Và tuy  
không phải luôn luôn nhưng thường là một thực  
thể pháp lý, như nhà thờ hay một thể chế khác sẽ  
được thành lập để tổ chức nhóm họp hay các lễ  
nghi thờ cúng.  
Các khía cạnh khác của tín ngưỡng như chính trị,  
văn hóa, khoa học hay kinh tế - không bao gồm  
trong sự bảo vệ này.  
Tự do biểu đạt và tự do thông tin  
Tự do tôn giáo là gì?  
Theo luật quốc tế, tự do tôn giáo nằm trong sự  
bảo vệ tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.  
Ba sự tự do này được áp dụng một cách đồng  
đều đối với các tín ngưỡng hữu thần, không  
hữu thần, hay vô thần cũng như các quan điểm  
bất khả tri và bao hàm tất cả các tín ngưỡng  
khác với một cái nhìn siêu việt về vũ trụ và  
những quy chuẩn xử sự.  
Tín ngưỡng là gì?  
Là một khái niệm rộng hơn tôn giáo. Nó bao gồm  
cả tôn giáo nhưng không bị giới hạn trong nghĩa  
truyền thống của nó. Từ điển luật học của Black  
định nghĩa nó như là “một niềm tin vào sự thật  
của một nhận định, tồn tại một cách chủ quan  
trong đầu, bị xúi giục bởi sự tranh cãi, thuyết  
phục, hay chứng cứ nhằm vào sự phán đoán của  
một người”.  
Tự do tôn giáo và tín ngưỡng theo đúng nghĩa  
bao gồm tự do của và tự do về tôn giáo và tín  
ngưỡng, có thể được hiểu như quyền chấp nhận  
hay không chấp nhận bất cứ những quy tắc hay  
thái độ tôn giáo nào đó.  
Trái ngược với khái niệm hẹp nhưng đầy trí tuệ  
này về tín ngưỡng như một hành vi tư duy, thì tín  
ngưỡng có nghĩa là một hành vi đặt hết niềm tin  
hay phụ thuộc tin tưởng vào một điều gì đó tối  
cao (có thể là cá nhân hoặc không, như 4 Sự thật  
cao quý trong đạo Phật).  
Tự do về tư tưởng và tín ngưỡng được bảo vệ  
theo cách giống như bảo vệ tự do về tôn giáo và  
niềm tin. Nó bao gồm tự do tư tưởng về tất cả  
mọi vấn đề, sự nhận thức cá nhân và sự cam kết  
đi theo một tôn giáo hay tín ngưỡng được biểu lộ  
200  
cá nhân hay trong cộng đồng cùng với những  
người khác.  
•
Tự do đưa ra, thu thập và sử dụng trong  
chừng mực nhất định các bài báo hay tài liệu  
cần thiết liên quan đến các lễ nghi hay tục lệ  
của một tôn giáo hay tín ngưỡng;  
Tự do tín ngưỡng thường bị xâm phạm như có  
thể thấy ở số lượng “tù nhân lương tâm” trên toàn  
thế giới. Những tù nhân đó hầu hết đều thuộc tôn  
giáo thiểu số bị giam cầm vì niềm tin tôn giáo  
của họ. Câu chuyện của ông Mahrami chỉ là một  
trong vô số các ví dụ.  
•
•
Tự do xin và nhận các tài trợ tài chính hay các  
đóng góp khác từ các cá nhân và tổ chức;  
Tự do truyền giáo, bổ nhiệm, bầu cử hay chỉ  
định những nhà lãnh đạo kế vị thích hợp đáp  
ứng những yêu cầu và tiêu chuẩn của bất cứ  
tôn giáo hay tín ngưỡng nào;  
Tự do tư tưởng và tín ngưỡng, và tự do lựa chọn  
hay thay đổi một tôn giáo hay tín ngưỡng được  
bảo vệ một cách vô điều kiện. Không ai có thể bị  
thúc ép phải tiết lộ tư tưởng của người đó và bị  
ép buộc phải theo một tôn giáo hay tín ngưỡng.  
•
Tự do tiến hành những ngày nghỉ, kỷ niệm  
những ngày lễ thánh, và những nghi lễ theo  
giới luật của tôn giáo hay tín ngưỡng đó;  
Tự do tôn giáo tại nơi làm việc, kể cả quyền được  
cầu nguyện, ăn mặc và các chế độ ăn kiêng;  
Tự do tập hợp và nhóm họp để thờ phụng hay  
tiến hành các nghi lễ;  
•
•
Các chuẩn mực quốc tế  
Luật về quyền con người tránh gây nên sự tranh  
cãi trong định nghĩa về tôn giáo và tín ngưỡng.  
Luật này bao gồm một nhóm các quyền nhằm  
bảo vệ sự tự do trong tư tưởng, tín ngưỡng, tôn  
giáo và niềm tin. Để hiểu rõ hơn sự phức tạp về  
tự do tôn giáo, có thể phân loại 3 cấp bậc sau:  
1. Tự do thực hành tôn giáo của mỗi cá nhân  
riêng biệt;  
•
•
Tự do công bố tín ngưỡng của cá nhân;  
Tự do thay đổi hay từ chối đi theo một tôn  
giáo nào đó;  
•
Tự do giáo dục tôn giáo, trên cơ sở “đảm bảo  
lợi ích tốt nhất” cho trẻ em.  
2. Tự do thực hành tôn giáo tập thể;  
3. Tự do của các cơ quan tôn giáo riêng biệt.  
Tự do thực hành tôn giáo tập thể  
Tự do thực hành tôn giáo của mỗi cá nhân  
riêng biệt  
Các quyền về tôn giáo không chỉ cho phép cá  
nhân được hưởng những tự do đề cập trên. Một  
tôn giáo hay tín ngưỡng có thể được và thường là  
được thể hiện trong cộng đồng, vì vậy thường  
diễn ra ở những nơi công cộng. Điều này cũng  
ngụ ý sự cho phép quyền tự do tập hợp, nhóm  
họp trong cộng đồng các tín đồ tôn giáo.  
Điều 18 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con  
người (UDHR) xác định tự do tôn giáo là quyền  
“của mọi người”, có nghĩa là nó bảo vệ người lớn  
cũng như trẻ em, người trong nước cũng như người  
nước ngoài, và điều này không thể bị xâm phạm kể  
cả trong thời gian xảy ra tình trạng chiến tranh khẩn  
cấp. Danh sách các quyền tự do tôn giáo cá nhân  
được đề cập đến trong Điều 18 của ICCPR đã đưa  
ra sự mô tả chi tiết các quyền nằm trong tiêu chuẩn  
tối thiểu được quốc tế thừa nhận:  
Tự do của các cơ quan tôn giáo riêng biệt  
Các cơ quan riêng biệt dựa trên cơ sở tôn giáo  
cũng được hưởng đầy đủ sự bảo vệ theo tự do tôn  
giáo. Các cơ quan này có thể là những ngôi nhà  
dùng làm địa điểm thờ phúng, sùng bái; hoặc là  
các cơ quan truyền giáo đào tạo về các vấn đề tôn  
• Tự do thờ cúng và nhóm họp vì mục đích  
liên quan đến tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng  
như thành lập và duy trì các địa điểm vì giáo, hoặc thậm chí là các Tổ chức phi chính phủ  
mục đích này;  
NGOs.  
201  
Quyền của họ bao gồm:  
sự không khoan dung và phân biệt đối xử trong  
tôn giáo, và đưa vào chương trình giảng dạy nội  
dung về tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.  
• Tự do thành lập và duy trì các tổ chức từ thiện  
hay tổ chức nhân đạo thích hợp;  
• Tự do viết, xuất bản và phát tán, phổ biến các  
tài liệu có liên quan trong các lĩnh vực này;  
• Tự do truyền đạo giảng dạy một tôn giáo hay  
tín ngưỡng ở những địa điểm thích hợp.  
Tuyên bố về xoá bỏ mọi hình thức không khoan  
dung và phân biệt đối xử trên cơ sở tôn giáo hay  
tín ngưỡng. 1981.  
Câu hỏi thảo luận  
• Ở nước bạn, sự hướng dẫn về tôn giáo được  
thực hiện như thế nào?  
• Chương trình giảng dạy và sách giáo khoa ở  
nước bạn có đề cập đến các vấn đề tự do tôn  
giáo và tín ngưỡng không, kể cả tự do không tín  
ngưỡng?  
• Ở nước bạn có sự bảo vệ cho tính độc lập trong  
hướng dẫn tôn giáo không?  
Nguyên tắc không phân biệt đối xử  
Phân biệt đối xử và không khoan dung trên cơ sở  
tôn giáo - có nghĩa là bất cứ một sự phân biệt, loại  
trừ, ngăn cấm, hay thiên vị về tôn giáo hay tín  
ngưỡng nào đều bị cấm. Việc cấm phân biệt và  
không khoan dung về tôn giáo không chỉ được giới  
hạn trong đời sống công chúng mà còn được áp  
dụng vào đời sống riêng tư của các cá nhân mà  
chính từ đó các tín ngưỡng và tôn giáo cũng như  
các nhu cầu khác được hình thành, khởi nguồn.  
Không phân biệt đối xử  
Biểu lộ niềm tin  
Tự do biểu lộ niềm tin vào tôn giáo bao gồm bảo  
vệ phát ngôn, giảng dạy, hành xử, thờ cúng và  
tiến hành các lễ nghi do tôn giáo đó quy định.  
Bạn có quyền nói chuyện về tín ngưỡng của bạn,  
giảng dạy, tiến hành các hoạt động một mình hay  
cùng những người khác và thực hiện các quy  
định về chế độ ăn kiêng, tuân thủ yêu cầu về  
trang phục, hay sử dụng một ngôn ngữ đặc biệt,  
và tiến hành các lễ nghi liên quan đến tín ngưỡng  
của bạn. Sự biểu lộ niềm tin hay tôn giáo còn có  
nghĩa là có thể tránh, từ chối những hành động  
trái với quy định trong tín ngưỡng của bạn. Các  
hành động đó có thể là chối bỏ lời thề, nghĩa vụ  
quân sự, tham gia vào các buổi lễ tôn giáo, xưng  
tội hay từ chối khám chữa bệnh.  
Giáo dục  
Cha mẹ có quyền quyết định hướng con cái của họ  
theo tín ngưỡng của mình. Quy định về “lợi ích tốt  
nhất cho trẻ” nhằm giới hạn tự do trong hành động  
của cha mẹ chỉ áp dụng khi việc thực hành tôn giáo  
có thể gây tổn hại tới sức khỏe tinh thần hay thể  
chất của trẻ. Việc thực hành đó có thể dẫn tới từ  
chối khám chữa bệnh hay cho trẻ em đến trường. Ví  
dụ, những tín đồ Giehova (một tổ chức tôn giáo tin  
rằng sắp đến ngày tận thế và mọi người sẽ sa xuống  
địa ngục trừ thành viên của tổ chức tôn giáo này) từ  
chối việc truyền máu, và việc này có thể sẽ dẫn đến  
cái chết của trẻ nhỏ, tín ngưỡng của họ không thích  
hợp với tiêu chuẩn hiện hành về khám chữa bệnh  
sức khỏe y tế.  
Giới hạn của tự do tôn giáo  
Cho dù bạn được tự do lựa chọn tín ngưỡng của  
mình nhưng việc bạn thể hiện như thế nào thì có  
thể bị giới hạn trong một vài trường hợp khi việc  
biểu lộ ấy đe dọa đến quyền lợi, mối quan tâm  
của những người khác.  
Việc hạn chế quyền thể hiện một tín ngưỡng tôn  
giáo cần phải mang tính cân đối và dựa trên cơ sở  
luật pháp. Việc giới hạn này chỉ nên áp dụng khi  
cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự xã hội, sức  
khỏe hay đạo đức cho cộng đồng, hoặc để bảo vệ  
các quyền cơ bản và tự do của những người khác.  
Trên phương diện cộng đồng, nhà nước có nghĩa  
vụ cung cấp sự giáo dục nhằm bảo vệ trẻ em khỏi  
202  
Sư hạn chế tự do này là có thể cho phép, ví dụ nhà nước và tôn giáo tín ngưỡng bởi vì hệ  
trong trường hợp tế người, tự tế thần, cắt bộ phận thống này được cho là sẽ cung cấp sự bảo vệ  
sinh dục nữ, nô lệ, cưỡng ép mại dâm, các hoạt tốt hơn cho tự do tôn giáo của cộng đồng. Tuy  
động lật đổ và các hành vi khác đe dọa đến sức nhiên, cũng có thể có ý kiến tranh luận rằng ở  
khỏe con người và sự nguyên vẹn của cơ thể.  
nơi mà quốc gia được liên kết với một nhà thờ  
hay tôn giáo đặc biệt, thì quyền của các tín đồ  
thuộc các thiểu số tôn giáo gần như khó có thể  
được sự bảo vệ bình đẳng.  
3. QUAN ĐIỂM LIÊN VĂN HÓA VÀ CÁC  
VẤN ĐỀ GÂY TRANH LUẬN  
Câu hỏi thảo luận  
Nhà nước và niềm tin  
• Quốc gia của bạn có thái độ như thế nào đối với  
các tôn giáo tín ngưỡng khác nhau?  
Một trong những khác biệt chủ yếu trên toàn thế  
giới về sự bảo vệ các tự do tôn giáo chính là vấn  
đề mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo hay tín  
ngưỡng. Có một vài kiểu khuôn mẫu cơ bản về  
cách thức các quốc gia thể hiện mối quan hệ với  
tín ngưỡng: tôn giáo của quốc gia, thành lập các  
nhà thờ, sự trung lập của nhà nước về các tín  
ngưỡng và cơ quan thể chế của họ, không theo  
một tôn giáo chính thức nào, tách biệt giữa nhà  
thờ và nhà nước, và bảo vệ các nhóm tôn giáo  
được thừa nhận hợp pháp.  
• Quốc gia của bạn có ghi nhận các thể chế của  
các tôn giáo khác không?  
• Bạn có nghĩ là có thể thiết lập một hệ thống  
bình đẳng cho các tôn giáo tín ngưỡng trong khi  
giữ đặc quyền cho một tôn giáo?  
• Bạn có nghĩ là sẽ hợp pháp nếu cho phép các  
đảng chính trị tôn giáo thành lập và hoạt động?  
Bội giáo - Tự do lựa chọn và thay đổi tôn giáo  
Hành động bội giáo - từ bỏ một tôn giáo để đi theo  
tôn giáo khác hay một phong cách sống không tôn  
giáo - là một vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất giữa  
các nền văn hóa mặc dù đã có các tiêu chuẩn quốc  
tế hết sức rõ ràng quy định vấn đề này.  
Các tiêu chuẩn quốc tế không quy định bất cứ  
một hình mẫu đặc thù nào về mối quan hệ giữa  
nhà nước và tín ngưỡng. Những tiêu chuẩn này  
không đòi hỏi một ảo tưởng về các xã hội không  
tôn giáo, mà ở đó loại trừ tôn giáo khỏi các vấn  
đề xã hội cộng đồng mặc dù sự tách biệt tôn giáo  
tín ngưỡng với nhà nước là tính chất đặc thù chủ  
yếu của các xã hội hiện đại (phương Tây).  
Một người được coi là tín đồ bội giáo nếu họ từ bỏ  
một tôn giáo, và hoặc để đi theo một tôn giáo khác  
hoặc theo một phong cách sống không tôn giáo.  
Trước đây, trong lịch sử đạo Hồi, đạo Cơ đốc, và  
các tôn giáo khác có một cách nhìn rất bi quan về  
tín đồ bội giáo. Hình phạt thường là hành quyết.  
Ngày nay, trong đạo Hồi sự bội giáo vẫn bị trừng  
phạt nghiêm khắc ở nhiều quốc gia nơi mà xã hội  
của họ dựa trên cơ sở luật Shariah. Các quốc gia  
như Pakistan, Ả Rập Xêút, và Ai Cập chỉ ủng hộ  
số đông và có thể sẽ áp dụng hình phạt tù chung  
thân hay tử hình nếu các tín đồ từ chối tín  
ngưỡng đạo Hồi một cách công khai. Trên thực  
tế, điều này có nghĩa là các tín đồ sẽ không có sự  
tự do lựa chọn và thay đổi tôn giáo hay tín  
ngưỡng của họ.  
Duy chỉ có một yêu cầu quốc tế chung, đó là những  
mối quan hệ này không được dẫn đến phân biệt đối  
xử đối với những tôn giáo không thuộc tôn giáo  
chính thức hay những tôn giáo tín ngưỡng đã được  
công nhận về mặt pháp lý. Tuy nhiên, ở các nước  
mà chỉ có một tôn giáo được nhận biết là tôn giáo  
quốc gia, thì khó có thể thấy việc duy trì sự đối xử  
bình đẳng đối với các tôn giáo tín ngưỡng khác hay  
tôn giáo tín ngưỡng thiểu số.  
Theo các quan điểm phương Tây, mối quan hệ  
bình đẳng đối với tất cả các tôn giáo trong một  
quốc gia chủ yếu là để đảm bảo sự bảo vệ đầy  
đủ tự do tôn giáo cho các cá nhân. Trái lại, luật  
Đạo Hồi truyền thống Shariah, lại kết nối giữa  
203  
Điều này rõ ràng đã mâu thuẫn với luật quốc tế thù chủng tộc và tôn giáo” - giới thiệu sự vi  
về quyền con người. Một người có quyền tự do phạm mới về “kích động lòng căm thù tôn  
lựa chọn tôn giáo tín ngưỡng của họ mà không giáo” - không được ngăn cản quyền phê phán  
phải chịu một áp lực nào. Sự tranh luận về vấn đề tín ngưỡng tôn giáo và thực hành tôn giáo như  
này thường mang tính xúc cảm cao và nhạy cảm một phần của tự do biểu đạt. Dự thảo này sau  
bởi vì nó động chạm đến khía cạnh nhận thức sâu đó đã được sửa đổi.  
sắc và những cách hiểu khác nhau về tự do tôn  
Tự do biểu đạt và tự do thông tin  
giáo. Nó minh họa cho sự khác biệt văn hóa trong  
nhận thức về tự do tôn giáo và các tự do khác.  
Từ chối nhập ngũ theo nghĩa vụ quân sự vì  
cho rằng điều này trái với đạo lý  
Nhập đạo - Quyền phổ biến về tín ngưỡng  
Tranh luận mang tính liên văn hóa vẫn tiếp tục về  
Bạn có quyền phổ biến tín ngưỡng của bạn và  
vấn đề gọi là từ chối nhập ngũ theo nghĩa vụ quân  
khuyến khích mọi người chuyển từ tín ngưỡng này  
sự bắt buộc. Một người có thể được miễn nghĩa vụ  
sang tín ngưỡng khác với điều kiện bạn không sử  
quân sự nếu nghĩa vụ sử dụng một biện pháp gây  
chết người là mâu thuẫn nghiêm trọng với tôn giáo  
tín ngưỡng của người đó. Có thể thấy một vài xu  
hướng ghi nhận quyền này trong pháp luật ở một  
số quốc gia nơi có những hình thức nghĩa vụ cộng  
đồng khác để lựa chọn (như ở Úc, Pháp, Canada  
hay Hoa Kỳ). Tuy nhiên, ở các quốc gia khác như  
Hi Lạp, Chi Lê hay đặc biệt Ixraen thì không chấp  
nhận việc từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự như  
vậy và một người có thể bị bỏ tù vì từ chối không  
chịu mang vũ khí lên người.  
dụng sự ép buộc hay áp lực nào. Hành động này gọi  
là nhập đạo hay khiến ai từ bỏ một tôn giáo tín  
ngưỡng để theo một tôn giáo tín ngưỡng khác.  
Ở Trung Âu, Đông Âu và châu Phi xung đột đã  
xuất hiện giữa các nhà thờ địa phương và các tôn  
giáo ngoại nhập đang tìm cách cổ động những  
chương trình truyền giáo. Trong một số trường  
hợp nhất định, chính phủ đã cấm các hoạt động  
như vậy. Luật về quyền con người yêu cầu rằng  
các chính phủ phải bảo vệ quyền tự do biểu đạt,  
và các tín đồ được tự do có hành động nhập đạo  
theo các hình thức không cưỡng ép, như “đơn  
thuần kêu gọi đi theo một tín ngưỡng” hay trưng  
bày những áp phích hay thông cáo, yết thị.  
Câu hỏi thảo luận  
Ép buộc một ai đó chuyển sang một tôn giáo tín  
ngưỡng khác rõ ràng là một sự xâm phạm quyền  
con người, nhưng vấn đề được phép tự do đến  
mức độ nào thì vẫn chưa được quy định trong  
luật quốc tế. “Hoàn cảnh cưỡng ép” sẽ phải được  
sử dụng để hạn chế sự nhập đạo: ví dụ sử dụng  
tiền, quà biếu hay những đặc quyền nhằm làm  
cho một người chuyển đổi tôn giáo tín ngưỡng  
của mình, hay nhập đạo ở những nơi mà mọi  
người theo yêu cầu của luật pháp (ví dụ lớp học,  
kho quân sự, nhà tù hoặc những nơi tương tự).  
• Ở nước bạn có tù nhân tôn giáo tín ngưỡng  
không?  
• Bạn có nghĩ rằng cần phải có quyền từ chối giết  
người được thừa nhận một cách rõ ràng trong  
luật quốc tế về quyền con người không?  
4. THỰC HIỆN VÀ GIÁM SÁT  
Vấn đề chính của việc thực hiện tự do tôn giáo là  
thiếu sự thực thi hiệu quả Điều 18 của ICCPR.  
Tuyên ngôn Liên hiệp quốc năm 1981 về xóa bỏ  
tất cả mọi hình thức không khoan dung và phân  
biệt đối xử dựa trên cơ sở tôn giáo hay tín  
ngưỡng đã đưa ra những điều khoản chi tiết hơn  
mang lại những ảnh hưởng về mặt pháp lý nhất  
định bởi vì nó có thể được coi như là sự khởi đầu  
Kích động lòng căm thù tôn giáo và tự do  
biểu đạt  
Đầu năm 2006, các nhóm tự do dân sự ở nước  
Anh kêu gọi rằng “Dự luật mới về lòng căm  
204  
của luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên, nhìn chung, cường thực hiện, nhằm phát triển một nền văn  
tuyên ngôn không có giá trị ràng buộc về mặt hóa thừa nhận sự tồn tại chung của đa tôn giáo.  
pháp lý. Mặc dù đã có sự thống nhất ở cấp độ Cần phải coi trọng và nhấn mạnh vào vai trò của  
quốc tế về sự cần thiết phải có một điều ước giáo dục như một phương thức thiết yếu để đấu  
nhưng vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về các tranh chống lại sự không khoan dung và phân  
nội dung cần được đề cập trong điều ước.  
biệt đối xử. Theo luật quốc tế, các quốc gia có  
nhiệm vụ phải đương đầu với sự vi phạm, bạo lực  
và phân biệt đối xử trong vấn đề về tôn giáo. Các  
tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tôn giáo hay  
phi tôn giáo đều có vai trò rõ ràng bình đẳng  
trong việc nêu lên những vi phạm của nhà nước  
hay các tổ chức khác trong việc bảo vệ những  
người bị đàn áp, và khuyến khích tăng cường sự  
khoan dung thông qua các chiến dịch thông tin,  
nâng cao nhận thức, các chương trình giáo dục và  
giảng dạy.  
Báo cáo viên đặc biệt về không khoan dung tôn  
giáo đã được bổ nhiệm năm 1986 để giám sát  
việc thực hiện Tuyên ngôn năm 1981. Nhiệm vụ  
chính của Báo cáo viên đặc biệt là để nhận biết  
các trường hợp vi phạm hay các hành động của  
chính phủ không phù hợp với các điều khoản của  
Tuyên ngôn và để đưa ra gợi ý đề xuất về biện  
pháp khắc phục mà các nhà nước nên thực hiện.  
Sự đàn áp và phân biệt đối xử về tôn giáo có ảnh  
hưởng không những chỉ đối với các cá nhân mà  
còn cả cộng đồng trên toàn thế giới ở tất cả các  
tôn giáo. Nó có thể là những hành động xâm Chúng ta có thể làm gì?  
phạm vào nguyên tắc không phân biệt và không  
khoan dung trong tôn giáo và tín ngưỡng, cho tới  
những hành động tấn công vào quyền sống,  
quyền được toàn vẹn về mặt cơ thể và an ninh  
con người của các cá nhân.  
Chúng ta có thể bắt đầu ngăn ngừa sự phân biệt  
và sự ngược đãi tôn giáo bằng việc tôn trọng  
quyền của những người khác. Sự khoan dung tôn  
giáo đề cập đến việc tôn trọng tín đồ của các tín  
ngưỡng khác, không quan trọng việc chúng ta  
Các văn kiện về quyền con người của khu vực nghĩ tín ngưỡng của họ có thực hay không. Văn  
cũng đề cập đến tự do tôn giáo, như: Ủy ban hóa khoan dung và tôn trọng đòi hỏi chúng ta  
châu Phi về quyền con người đã quyết định các không được phân biệt, gièm pha, hay lăng mạ tôn  
trường hợp liên quan đến Xudan rằng việc áp giáo của những người khác và tôn trọng quyền cơ  
dụng luật Shariah phải phù hợp với quy định bản cho phép sự khác biệt cả trong lĩnh vực tôn  
nghĩa vụ quốc tế.  
giáo. Nó cũng có nghĩa là không được phân biệt  
đối xử với những người khác trong việc tuyển  
dụng, cư trú hay tiếp cận các dịch vụ xã hội bởi  
vì họ có một tín ngưỡng khác. Hơn thế nữa, để  
bắt đầu thay đổi thái độ, cần tiến hành những trao  
đổi đàm luận giữa các tôn giáo, cũng để tín đồ  
tôn giáo và những người không theo tôn giáo nào  
cùng gặp nhau ở một quan điểm chung và học  
cách tôn trọng nhau.  
Biện pháp ngăn ngừa và chiến lược trong  
tương lai  
Trước khi tiếp tục công việc soạn thảo một điều  
ước mang tính ràng buộc pháp lý, Tuyên ngôn  
năm 1981 của Liên hiệp quốc về xóa bỏ mọi hình  
thức không khoan dung và phân biệt đối xử trên  
cơ sở tôn giáo hay tín ngưỡng cần phải được tăng  
205  
ĐIỀU NÊN BIẾT  
1. KINH NGHIỆM TỐT  
nỗ lực giải quyết tình trạng mâu thuẫn cộng  
đồng (chủ nghĩa công xã);  
Đối thoại giữa các tôn giáo về chủ nghĩa đa  
nguyên về tôn giáo  
• Ở Thái Bình Dương, Tổ chức Tìm kiếm liên tôn  
giáo đã nhóm họp các đại diện của nhiều tôn  
giáo ở Fiji để tìm kiếm giải pháp vượt qua  
những thành kiến và tăng cường sự tôn trọng và  
ghi nhận lẫn nhau;  
Trong một vài thập kỷ qua vấn đề về chủ nghĩa  
đa nguyên văn hóa và tôn giáo đã lại làm thức  
tỉnh mối quan tâm của các nhà thờ và các cộng  
đồng tín đồ tôn giáo. Mọi người đều cảm nhận  
sự cấp thiết về việc xây dựng những mối quan  
hệ mang tính sáng tạo giữa tín đồ của các tín  
ngưỡng khác nhau. Khi có nhiều mối quan tâm  
trong trao đổi đàm luận, cũng như sự gia tăng  
các thực hành thì các cộng đồng tôn giáo khác  
nhau cũng hiểu nhau và hợp tác với nhau chặt  
chẽ hơn trong giáo dục, giải quyết các mâu  
thuẫn và trong cuộc sống hàng ngày của cộng  
đồng. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã có  
nhiều hoạt động tăng cường đối thoại tôn giáo  
và hòa bình chẳng hạn như:  
• Ở châu Âu, “Dự án: Châu Âu liên tôn giáo” là  
hình thức đầu tiên thuộc dạng này đã mời các  
nhà chính trị và đại diện của các tôn giáo khác  
nhau ở các khu vực trên toàn châu Âu về nhóm  
họp ở thành phố Graz và Sarajevo;  
• Thành phố Graz đã thành lập Hội đồng các vấn  
đề liên tôn giáo, nhằm thảo luận các vấn đề liên  
tôn giáo và tư vấn cho thành phố cách thức  
pháp giải quyết các vấn đề đó.  
Câu hỏi  
“Trong đối thoại, nhận thức và cởi mở cần  
phải cân bằng”.  
• Hội đồng Nhà thờ thế giới.  
• Hội nghị thế giới về Tôn giáo và hòa bình  
(WCRP) với nhóm công tác thường trực về  
“tôn giáo và quyền con người”.  
• Điều này có thể được tiến hành như thế  
nào, trên phương diện cá nhân và trong một  
cộng đồng?  
(Nguồn: Đoàn Mục sư thế giới - Chỉ dẫn về đối  
thoại giữa các tôn giáo. Tại địa chỉ:  
http://ww.pcusa.org/pcusa/wmd/eir/dialog.htm)  
• Nghị viện thế giới về tôn giáo.  
• Quỹ Đạo đức toàn cầu.  
• Hội các Hội đồng liên tôn giáo toàn thế giới  
Rất nhiều các sáng kiến trong khu vực và quốc  
gia đang hỗ trợ giải quyết xung đột và ngăn ngừa  
mâu thuẫn thông qua đối thoại trên toàn thế giới:  
“Tôn giáo vì hòa bình” thông qua giáo dục  
• Ở Trung Đông, giới Tăng lữ vì hòa bình đã  
nhóm họp các giáo sĩ Do Thái, các linh mục,  
mục sư, và thầy tế (Hồi giáo) ở Ixraen và ở  
Bờ Đông để có hành động chung và làm  
nhân chứng cho hòa bình và sự công bằng  
trong khu vực;  
Giáo dục liên tôn giáo đã giúp khuyến khích sự  
tôn trọng tôn giáo khác và giúp cho sinh viên gạt  
bỏ được những rào cản thành kiến và không  
khoan dung.  
• Ở Ixraen, một dự án gọi là “Những giá trị  
chung/Nguồn khác biệt” đã tập hợp những tín  
đồ theo đạo Do Thái, đạo Hồi và đạo Cơ đốc  
cùng nghiên cứu các văn bản trong kinh thánh  
nhằm tìm ra những giá trị chung để họ có thể  
• Ở Nam Ấn Độ, Hội đồng Cầu nguyện Đức  
chúa Trời đã nhóm họp các tôn giáo đạo Hindu,  
đạo Cơ Đốc, đạo Hồi, đạo Phật, đạo Jana, đạo  
Zoroastria, đạo Do Thái, và đạo Sic trong một  
206  
thực hành trong cuộc sống hàng ngày, và cuối trên thế giới. Các phong trào tôn giáo mới hoặc  
cùng là để soạn thảo ra một cuốn sách làm giáo các tôn giáo thiểu số cũng phải được hưởng sự  
trình cho việc giảng dạy ở lớp học;  
bảo vệ bình đẳng. Nguyên tắc này có ý nghĩa  
quan trọng đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi  
các phong trào tôn giáo mới lại trở thành mục  
tiêu cho sự phân biệt và đàn áp. Các phong trào  
mới như vậy được biết đến bởi một vài thuật ngữ  
tên gọi khác nhau và cần phải được kiểm tra,  
giám sát chặt chẽ.  
• Ở Thái Lan và Nhật Bản, Nhóm Đạo đức  
Thanh niên lãnh đạo đã tập hợp những đại diện  
của các cộng đồng tôn giáo ở những nước đó để  
tham dự một chương trình đào tạo về tầm nhìn  
của lãnh đạo, về quy tắc đạo đức, luân thường  
đạo lý, về phục vụ cộng đồng, và về củng cố  
tăng cường hòa giải;  
Thuật ngữ “Dị giáo” và “Giáo phái” được sử  
dụng để chỉ các nhóm tôn giáo khác với tín  
ngưỡng và thực hành của tôn giáo chính thống.  
Cả hai thuật ngữ này đều rất mơ hồ nhưng “giáo  
phái” thường là để chỉ một nhóm tôn giáo không  
chính thống được tách ra khỏi tôn giáo chính,  
trong khi “dị giáo” nói chung được coi như một  
hệ thống các tín ngưỡng tôn giáo giả mạo và  
không chính giáo, và thường đề ra những lễ nghi  
khác thường.  
• Ở Đức, Anh và các quốc gia khác, các nhà giáo  
dục đang phân tích các giáo trình giảng dạy ở  
trường nói về ứng xử của các truyền thống tôn  
giáo vốn vẫn còn xa lạ với những sinh viên mà  
các giáo trình dự định nhằm tới.  
2. XU HƯỚNG  
Các dị giáo, giáo phái và phong trào tôn  
giáo mới  
Bởi vì, cả hai thuật ngữ này được định nghĩa theo  
cách “khác với tiêu chuẩn”, nên các tín ngưỡng  
khác nhau cũng sẽ có quan điểm khác nhau về việc  
hình thành một giáo phái hay một dị giáo. đạo Phật  
và đạo Hindu sử dụng các thuật ngữ này trên quan  
điểm trung lập, trong khi ở thế giới phương Tây, “dị  
giáo” hay “giáo phái” thường được sử dụng với  
nghĩa tiêu cực. Quan điểm này không chỉ xuất phát  
từ sự khác nhau giữa các nhóm này so với nhóm  
tiêu chuẩn, mà còn bởi vì chúng thường được liên  
kết với sự lạm dụng hay cống hiến về mặt tài chính.  
Và các nhóm được thành lập như các tổ chức kinh  
doanh thương mại hơn là các nhóm tôn giáo thì sẽ  
không được bảo vệ bởi tự do tôn giáo. Một điển  
hình nổi tiếng và gây nhiều tranh cãi là Nhà thờ  
khoa học ở một vài nước – như ở Đức được nhiều  
người biết nhất – không được công nhận như một  
nhà thờ bởi vì người ta cho đó là một đơn vị kinh  
doanh giống một công ty.  
Phó Tổng thống chỉ trích nhóm quần chúng đã  
tấn công vào giáo phái đạo Hồi  
Jarkata (ngày 16 tháng 7 năm 2005): Phó Tổng  
thống Yusuf Kalla vào hôm thứ bảy đã chỉ trích  
một vụ tấn công của khoảng 1.000 tín đồ đạo  
Hồi vào trụ sở của một giáo phái đạo Hồi ít  
người biết đến và bị lên án là dị giáo so với các  
nhóm đạo Hồi chính thống trên toàn thế giới.  
Được trang bị gậy gộc và gạch đá, nhóm dân  
chúng này đã tấn công vào trụ sở của giáo phái  
Ahamadiyah ở thị trấn Bogor, ngay phía Nam  
của Jakarta, phá hoại làm hư hỏng văn phòng  
và nơi cư ngụ. Cảnh sát đã cố gắng ngăn chặn  
vụ tấn công, nhưng bị áp đảo bởi nhóm dân  
chúng đông người hơn.  
(Nguồn: Thời báo Indonexia. Tại địa chỉ:  
information/details.php?type=news&id=1220)  
Câu hỏi thảo luận  
• Các tín ngưỡng thiểu số có được bảo vệ ở  
nước bạn không, và nếu có thì được bảo vệ  
Tự do tôn giáo không chỉ được giải thích theo  
phạm vi hẹp với nghĩa các tôn giáo truyền thống  
207  
như thế nào?  
nhiều trường hợp là do phong trào khởi xướng  
cưỡng dâm ở Nam Tư cũ, Georgia, Xudan,  
Ganđa, Checnia. Sự mang thai do ép buộc của  
những người phụ nữ bị cưỡng dâm là nhằm  
đảm bảo họ đã bị đánh dấu cho mọi người biết  
là họ đã bị cưỡng dâm, và vì vậy rất xấu hổ và  
bị mất danh dự. Con cái do họ đẻ ra lại tiếp tục  
bị phân biệt đối xử.  
• Họ có được bình đẳng trong các quyền/và được  
hỗ trợ như (các) tín ngưỡng chủ đạo không?  
Phụ nữ và tín ngưỡng  
Trong suốt quá trình lịch sử, phụ nữ bị hầu hết tất  
cả các tín ngưỡng phân biệt đối xử. Và chỉ gần  
đây vấn đề tự do về tôn giáo của họ mới được đề  
cập đến. Phụ nữ bị phân biệt đối xử kép trong tôn  
giáo. Họ có thể thiếu tự do khi biểu lộ tín ngưỡng  
của mình, bởi vì họ không được bình đẳng tiếp  
cận những nơi thờ cúng, để thuyết giáo hay để  
lãnh đạo. Thêm vào đó, họ có thể trở thành nạn  
nhân của một vài tín ngưỡng, niềm tin nhất định  
nào đó vào bất cứ lúc nào, luật giáo, hành xử tôn  
giáo và tục lệ tôn giáo đều có thể trừng phạt hay  
thậm chí đe dọa cuộc sống của họ:  
Chủ nghĩa cực đoan về tôn giáo và các ảnh  
hưởng của nó  
Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 vào  
Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm  
Góc, và cũng sau vụ khủng bố ngày 07 tháng 7  
năm 2005 vào hệ thống tầu điện ngầm của  
London, nạn khủng bố có vẻ như đã khai thác  
triệt để tín ngưỡng tôn giáo hơn lúc nào hết.  
Nhiều người đã kết luận rằng những sự kiện bi  
kịch này chỉ là sự đánh dấu đỉnh điểm của khối  
băng chìm trong mối liên hệ giữa tín ngưỡng và  
nạn khủng bố: các vụ không tặc máy bay, các vụ  
đánh bom sứ quán của các nước phương Tây ở  
các quốc gia đạo Hồi, chứ không đề cập đến “vấn  
đề Ixraen/Palextin” và các mâu thuẫn “không gay  
gắt lắm” trên toàn thế giới, và nhóm lên các  
phong trào tôn giáo vì mục đích lý do chính trị.  
Tuy nhiên, sự liên hệ này rất nguy hiểm. Nó chia  
thế giới ra làm hai kịch bản “tốt” và “xấu” và đóng  
mác lên mọi người theo tín ngưỡng của họ. Nhưng  
không phải tất cả những tên khủng bố hay những  
người theo chủ nghĩa cực đoan đều theo tôn giáo  
cũng như không phải tín đồ nào cũng là những tên  
khủng bố. Khi các vụ tấn công của chủ nghĩa cực  
đoan được liên hệ với tín ngưỡng, với những tên  
phạm tội nói rằng chúng phạm tội ác vì “nhân  
danh đức chúa Trời”, tôn giáo và sự tự do tôn giáo  
đã bị sử dụng và lợi dụng để trá hình cho các hành  
động hay yêu cầu mang động cơ chính trị.  
• Tỷ lệ nữ thanh niên bị xâm phạm ở các vùng  
nông thôn Ai Cập là 97%. Tục cắt bỏ âm vật  
phụ nữ (FGM) là một tập tục văn hóa ở nhiều  
quốc gia, và bị phản đối kịch liệt vì không phù  
hợp các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ quyền con  
người. Tập tục này có thể làm xuất hiện nhiều  
vấn đề trầm trọng về sức khỏe. Tuy nhiên, ở  
vùng này đã có một tiến bộ vào tháng 6 năm  
2003 khi Tuyên bố Cairo về xóa bỏ xâm phạm  
tình dục đối với phụ nữ tại Hội nghị Nhóm  
chuyên gia tư vấn liên châu Phi - Ả Rập về  
“Công cụ luật pháp cho việc ngăn ngừa xâm  
phạm tình dục đối với phụ nữ” được ký kết bởi  
các đại diện của 28 nước châu Phi và Ả Rập  
chịu ảnh hưởng của tục cắt bỏ âm vật phụ nữ.  
• Hôn nhân cưỡng ép dẫn tới tình trạng nô lệ diễn  
ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Yêu cầu phải  
có sự đồng ý của phụ nữ trong hôn nhân không  
được tôn trọng. Đôi khi “các bà vợ” vẫn còn là  
những đứa trẻ con. Hôn nhân cưỡng ép cũng  
tồn tại ở một số nhóm nhất định ở châu Âu và  
Bắc Mỹ, được bảo vệ và dung thứ dưới danh  
nghĩa văn hóa, truyền thống và tôn giáo mặc dù  
đã có những lệnh cấm chung ở các quốc gia đó.  
• Cưỡng dâm như một hình thức “thanh trừ sắc  
tộc”: một bộ phận nạn nhân tôn giáo trong  
Sự cầu viện đến khủng bố dưới danh nghĩa tín  
ngưỡng tôn giáo không biểu thị sự mâu thuẫn của  
các nền văn hóa khác nhau dựa trên cơ sở các tín  
ngưỡng, tôn giáo, bởi vì chủ nghĩa cực đoan là  
mối đe dọa toàn cầu không chỉ được giới hạn  
trong bất cứ một xã hội hay một tôn giáo đặc biệt  
208  
nào, mà nó dựa trên cơ sở không khoan dung và 1948 Tuyên bố về tự do tôn giáo của Hội đồng  
không cần biết đến ai. Nhà thờ thế giới  
Chỉ có một phương cách duy nhất để chiến đấu 1948 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con  
một cách hiệu quả với mọi hình thức của chủ  
nghĩa cực đoan, đó là tìm cách phá vỡ cái vòng  
luẩn quẩn rằng sự bạo lực sẽ lại gây ra nhiều bạo  
lực hơn.  
người (Điều 2, khoản 18)  
1948 Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội  
diệt chủng (Điều 2)  
1950 Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con  
người và tự do cơ bản (Điều 9)  
1965 Tuyên bố của Hội đồng Vaticăng về tự  
do tôn giáo  
“Chỉ khi tôn giáo được sử dụng một cách sai lầm  
để biện minh cho nạn khủng bố, thì các hành  
động “chống khủng bố” của chính phủ mới được  
sai để biện minh cho các hành động dưới danh  
nghĩa quyền con người và tự do tôn giáo hay tín  
ngưỡng”.  
1966 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và  
chính trị (Điều 18, 20, 24, 26)  
1969 Công ước châu Mỹ về quyền con người  
(Điều 12, 13, 16f, 23)  
1981 Hiến chương châu Phi về Quyền con  
người và quyền của các dân tộc (Điều 2,  
8, 12)  
(Nguồn: OSCE - Tự do tôn giáo và tín ngưỡng,  
13434.html)  
1981 Tuyên bố của Liên hiệp quốc về xóa bỏ  
mọi hình thức không bao dung và Phân biệt  
đối xử trên cơ sở tôn giáo hay tín ngưỡng  
1992 Tuyên bố của Liên hiệp quốc về quyền  
của người dân được thuộc về các dân tộc  
thiểu số, tôn giáo hay ngôn ngữ (Điều 2)  
Câu hỏi Thảo luận  
• Các lý do chủ đạo dẫn đến mâu thuẫn trong và  
giữa các cộng đồng tôn giáo là gì? Bạn có thể  
đưa ra một vài lý do mà bản thân bạn từng 1993 Tuyên bố về đạo đức toàn cầu, được  
chứng kiến.  
Nghị viện của Tổ chức Tôn giáo thế giới  
phê chuẩn ở Chicago  
• Theo bạn tín ngưỡng tôn giáo có vai trò gì trong  
việc tìm kiếm hòa bình và giải quyết xung đột? 1994 Hiến chương các nước Ả Rập về quyền  
Hãy nghĩ về các ví dụ mà trong đó tôn giáo  
đóng vai trò là nhân tố hòa giải.  
con người (Điều 26, 27)  
1998 Hiến chương châu Á về quyền con người  
(Điều 6)  
3. NIÊN BIỂU THỜI GIAN  
2001 Hội nghị Tư vấn quốc tế của Liên hiệp  
quốc về giáo dục trong trường học trong  
mối liên hệ với tự do tôn giáo và tín  
ngưỡng, sự khoan dung và không phân  
biệt (Madrid)  
Các mốc lịch sử quan trọng trong sự phát triển tự  
do tôn giáo  
2001 Đại hội thế giới về đuy trì bảo vệ sự đa  
dạng tôn giáo (New Delhi)  
1776 Dự luật Virginia về các quyền, sửa đổi  
lần thứ nhất  
209  
CÁC HOẠT ĐỘNG CHỌN LỌC  
phát biểu đã làm tổn thương ai đó. Họ không  
được hỏi họ có nghĩ là câu nói đó mang tính  
xúc phạm hay không.  
HOẠT ĐỘNG I :  
NGÔN TỪ LÀM TỔN THƯƠNG  
• Để cho cả nhóm thảo luận về lý do tại sao  
người bị xúc phạm có thể cảm giác theo cách  
mà mình đang có; thảo luận xem mọi người có  
được phép nói ra những câu như vậy không  
trong khi không thèm đếm xỉa gì đến hậu quả  
của nó; và nên xử sự, hành động thế nào khi  
điều này xảy ra.  
Phần I: Lời giới thiệu  
Hoạt động này nhằm thể hiện những giới hạn của  
tự do biểu đạt khi điều mà chúng ta làm hay nói  
động chạm mâu thuẫn với tín ngưỡng tôn giáo và  
cảm xúc của những người khác.  
• Lặp lại các hoạt động này cho mỗi câu nói.  
Phản hồi:  
Loại hoạt động: thảo luận.  
• Học viên cảm thấy thế nào sau cuộc thảo  
luận? Việc thừa nhận các câu nói đã làm tổn  
thương đến những người khác và giữ im lặng  
có khó không?  
Phần II: Thông tin chung về hoạt động  
Mục đích và mục tiêu:  
• Phát hiện và thừa nhận cảm xúc tôn giáo của  
người khác.  
• Những giới hạn gì nên được đặt ra về việc  
chúng ta có thể nói gì và ở mức độ nào suy nghĩ  
và tín ngưỡng của chúng ta? Liệu chúng ta có  
nên luôn luôn nói ra bất cứ điều gì mà chúng ta  
muốn hay không?  
• Tìm hiểu về các giới hạn của tự do biểu đạt.  
Đối tượng: người đã trưởng thành.  
Số lượng học viên: 8-25 người.  
Thời gian: tối thiểu là một giờ.  
Gợi ý về phương pháp:  
Tài liệu: giá bảng giấy thuyết trình và bút viết bảng.  
Chuẩn bị: chuẩn bị một giá bảng giấy và một cây  
bút viết.  
Đảm bảo rằng bạn luôn thận trọng khi tiến hành  
hoạt động này bằng cách không làm cho các câu  
phát biểu nặng nề thêm.  
Các kỹ năng liên quan: lắng nghe ý kiến người  
khác, nhạy cảm và chấp nhận ý kiến người khác.  
Gợi ý thay đổi:  
Bạn cũng có thể tiến hành hoạt động kết thúc:  
một bức thư cho tất cả mọi người. Viết tên của  
học viên vào những mẩu giấy nhỏ, yêu cầu mọi  
người vẽ lên một mẩu giấy và viết một bức thư  
nói về những điều tốt đẹp về người đó - một kết  
cục thích hợp cho nhiều hoạt động thực hành  
nhằm gợi lên những tranh luận và cảm xúc.  
Phần III: Thông tin cụ thể  
Mô tả hoạt động/Hướng dẫn:  
• Yêu cầu học viên nghĩ ra một danh sách những  
lời nói, lời phát biểu hay khuôn mẫu liên quan  
đến tín ngưỡng hay niềm tin tôn giáo của một ai  
đó, những tình huống câu nói mà họ biết có thể  
gây ra sự đau buồn. Lựa chọn một vài câu nói  
tồi tệ nhất và viết chúng lên bảng.  
Phần IV: Hoạt động tiếp theo  
Nếu học viên còn tiếp tục làm việc với nhau  
thì hoạt động thực hành thích hợp có thể là để  
cho cả nhóm tìm kiếm và thiết lập các quy tắc  
giao tiếp/thảo luận và có thể viết ra giấy, rồi  
• Chia học viên thành nhóm 4 đến 6 người.  
Vài người của mỗi nhóm nên đọc câu nói đầu  
tiên. Nhóm cần chấp nhận rằng đây là câu  
210  
phán, đưa ý kiến của bản thân, suy nghĩ có chiều  
sâu, kỹ năng sáng tạo, tạo ra phép ẩn dụ, sử dụng  
các hình tượng minh họa.  
đính ghim lên tường để tất cả mọi thành viên  
đều có cơ hội tham khảo lại bất cứ khi nào họ  
thấy cần thiết.  
Phần III: Thông tin cụ thể  
Các quyền liên quan: quyền tự do biểu đạt và  
quyền tự do thông tin  
Mô tả hoạt động/Hướng dẫn  
(Nguồn: Liên hiệp quốc. 2004. Giảng dạy về  
quyền con người. Các hoạt động thực hành cho  
trường tiểu học và trung học. Nhà xuất bản Liên  
hiệp quốc. Tài liệu có tại địa chỉ:  
training.htm)  
Phần đầu tiên:  
• Hoạt động nhóm: vẽ một bảng gồm 2 cột. Viết  
tiêu đề cho một cột là “khoan dung” và cột kia  
là “không khoan dung”. Yêu cầu học viên nghĩ  
về các ví dụ và viết dưới mỗi cột.  
• Sau đó yêu cầu họ kiểm tra và so sánh hai cột  
(Mẹo: một trong những điều thường xảy ra là  
tất cả những định nghĩa và ví dụ dưới cột  
“khoan dung” lại kết thúc theo nghĩa “bị động”  
hơn là “chủ động”). Nếu điều này xảy ra hãy  
chỉ ra cho họ.  
HOẠT ĐỘNG II: ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI  
HÀNG XÓM VÀ CỦA TÔI  
• Báo cáo về kinh nghiệm của bản thân mỗi học  
viên về sự không khoan dung: yêu cầu học viên  
mô tả tình huống không khoan dung mà họ có  
thể đã chứng kiến. Điều đó có thể được kiềm  
chế hay tránh như thế nào? Học viên có nghĩ là  
có một cách giáo dục mọi người về thái độ  
khoan dung hay không?  
Phần I: Giới thiệu  
Nguyên tắc không phân biệt đối xử và cấm sự  
không khoan dung trong các vấn đề về tôn giáo là  
chủ đề của hoạt động này.  
Sẽ tốt nhất nếu làm việc với những học viên  
thuộc các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau.  
Loại hình hoạt động: hoạt động đa nhiệm vụ.  
Phần II: Thông tin chung về hoạt động  
Phản hồi:  
Khái niệm về sự khoan dung: so sánh hai cột, học  
viên có thể quan sát thấy điều gì? Định nghĩa  
chung về khoan dung hay không khoan dung cần  
phải bao gồm các yếu tố gì? Đặt câu hỏi cho học  
viên và ghi lại quan điểm chung của học viên.  
Sau đó cho học viên nghe phần đầu định nghĩa  
khái niệm về khoan dung trong Tuyên bố của  
Liên hiệp quốc về các nguyên tắc khoan dung:  
“khoan dung” là một thái độ tích cực và trách  
nhiệm nhằm thúc đẩy quyền con người, thuyết đa  
nguyên (kể cả đa nguyên văn hóa), dân chủ và  
nguyên tắc pháp quyền”.  
Mục tiêu và mục đích:  
• Chỉ ra và hiểu rõ khái niệm khoan dung;  
• Phân tích các khía cạnh của tự do tôn giáo;  
• Phát triển các kỹ năng tưởng tượng và suy nghĩ  
sáng tạo.  
Học hỏi về các tập quán tục lệ/văn hóa khác nhau  
Nhóm đối tượng: Người đã trưởng thành. Hoạt  
động này cũng có thể được sử dụng cho sinh viên  
ở tất cả lứa tuổi và chỉ cần chỉnh sửa đôi chút.  
Số lượng học viên trong nhóm: 5 - 30 người.  
Thời gian: 2 - 4 giờ.  
Phần thứ hai:  
• Tổ chức một nhóm họp gồm những người đến  
từ nhiều nền văn hóa. Yêu cầu mỗi học  
viên/nhóm nhỏ là đại diện cho một thành viên  
của các nhóm tâm linh hay tôn giáo khác nhau.  
• Yêu cầu họ minh họa bằng cách vẽ tranh, đóng  
Chuẩn bị: một giá bảng giấy, giấy và bút vẽ.  
Các kỹ năng cần sử dụng: các kỹ năng xã hội:  
nghe người khác phân tích, giao tiếp, tư duy phê  
211  
kịch câm, hát, truyện tranh, diễn kịch ngắn hay khi bạn đã hướng dẫn mà các sinh viên/học viên vẫn  
một hình thức nào đó có thể thể hiện phong tục bực tức phẫn nộ với cảm giác của người khác bị  
và tín ngưỡng của một tôn giáo.  
• Cho học viên 20 phút để chuẩn bị.  
• Yêu cầu họ trình bày về các phong tục  
khác nhau liên quan đến từng tôn giáo mà  
họ đại diện.  
phân biệt, họ nên dừng ngay phần trình bày của mình  
mà không cần phản lo lắng về cảm giác của giảng  
viên - cho dù phần trình bày chưa đầy đủ… Sẽ tốt  
hơn nếu tất cả học viên cũng thoả thuận một tín hiệu  
chung (ví dụ như một mẩu giấy nhỏ mầu đỏ như một  
đèn hiệu giao thông) để báo dừng phần trình bày có  
thể gây tổn thương hay đơn giản là dựa trên cơ sở  
một sự hiểu lầm hay thông tin sai lầm. Sau khi dừng  
phần trình bày phần thảo luận cần tiếp tục theo  
hướng mà hai bên đã tiến hành.  
Phản hồi:  
•
Học viên có thể học được điều gì từ các phần  
trình bày? Các phần trình bày khác nhau có  
điểm gì chung?  
• Học viên có thấy việc khoan dung, chấp nhận  
các tín ngưỡng tôn giáo khác có phần dễ dàng  
hơn sau khi đã có chút hiểu biết về các tín  
ngưỡng tôn giáo đó không?  
Gợi ý thay đổi:  
Nếu bạn làm việc với trẻ em bạn có thể sử dụng  
cả hai phần của hoạt động thực hành và bỏ đi  
phần định nghĩa đề ra trong Tuyên bố của Liên  
hiệp quốc về các nguyên tắc khoan dung. Nếu  
bạn tiến hành tại trường học, bạn có thể hợp tác  
với các giảng viên mỹ thuật cho phần hai của  
hoạt động thực hành. Phần trình bày cũng có thể  
được thực hiện với chất liệu platixin (chất dẻo)  
hoặc các vật liệu khác.  
• Cho học viên nghe đoạn trích thứ hai Tuyên bố  
của Liên hiệp quốc về các nguyên tắc khoan  
dung: “khoan dung” đòi hỏi các quốc gia thành  
viên phải cam kết giáo dục đào tạo công dân  
biết quan tâm đến người khác và có trách  
nhiệm, cởi mở với các nền văn hóa khác, thừa  
nhận giá trị của tự do, tôn trọng nhân phẩm và  
sự khác biệt, và có thể ngăn ngừa xung đột hoặc  
giải quyết các xung đột bằng các phương thức  
không bạo lực”.  
Phần IV: Tiếp theo  
Sau khi hoạt động này được tiến hành dựa trên cơ  
sở kinh nghiệm và sáng tạo, bạn có thể tiếp tục  
với một vài thông tin đầu vào mang tính trí tuệ,  
ví dụ một vài tài liệu về sự khoan dung/không  
khoan dung.  
Gợi ý về phương pháp:  
Khi tiến hành phần hai của hoạt động cần chắc chắn  
là cả nhóm tôn trọng các tín ngưỡng tôn giáo của học  
viên. Vì lý do đó, bạn không nên sử dụng hoạt động  
này như một hoạt động “tìm hiểu về bạn”. Cũng nên  
đảm bảo rằng sự trình bày các tục lệ khác nhau  
không làm xúc phạm tổn thương đến cảm giác của  
những tín đồ khác vì sự phân biệt đối với họ. Giới  
thiệu hoạt động này bằng việc nói với học viên rằng  
các phần trình bày nên nhấn mạnh vào sự tôn kính,  
thờ phụng hay các lễ nghi chứ không nhằm vào việc  
phân tích tại sao những tôn giáo tín ngưỡng đó là “có  
thực”, “không thực” hay “tốt”, “xấu” gì. Nếu kể cả  
Các quyền liên quan/ Các khía cạnh khác cần  
tìm hiểu:  
Phân biệt đối xử trên các khía cạnh khác như  
chủng tộc, màu da, giới tính, hay dân tộc.  
(Nguồn: Liên hiệp quốc - Dự án dạy và học  
toàn cầu Cyberschoolbus. Tại địa chỉ:  
declaration/18.asp)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Abduljalil Sajid, Imam. 2005. Islamophobia: Một thế http://www.osce.org/documents/cio/  
giới mới cho một sự sợ hãi cũ. Tài liệu có tại địa chỉ: 2005/06/15198_en.pdf  
212  
Ahdar, Rex. 2005. Tự do tôn giáo ở quốc gia tự do. gia đình Đạo Hồi: Hôn nhân cưỡng ép ở châu Âu. Tài  
Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford.Ủy ban hỗn liệu có tại địa chỉ:  
hợp Baptist (người theo giáo phái chỉ rửa tội cho  
người lớn, không làm lễ rửa tội cho trẻ sơ sinh). Tài  
liệu có tại địa chỉ: http://www.bjcpa.org  
Krishnaswami, Arcot. 1960. Nghiên cứu về Sự phân  
biệt đối xử trong vấn đề quyền và thực hành tôn giáo.  
New York: Nhà xuất bản Liên hiệp quốc.  
BBC. 2005. Hôn nhân cưỡng chế "có thể bị cấm“. Tài  
liệu có tại địa chỉ:  
Küng, Hans và Karl-Josef Kuschel (chủ biên.).  
1993. Đạo đức toàn cầu. Tuyên bố của Nghị viện Tôn  
giáo thế giới. London: Thể liên tục.  
2/hi/uk_news/politics/4214308.stm  
Marshall, Paul. 2000. Tự do tôn giáo trên thế giới:  
Báo cáo toàn cầu về tự do và đàn áp. Nashville:  
Broadman & Holman.  
Black, Henry Campbell. 1990. Từ điển luật pháp  
Black. Xuất bản lần thứ 6. Eagan: Nhóm phương Tây.  
Tuyên bố Cairo về xoá bỏ tục cắt bỏ âm vật phụ  
nữ. Tài liệu có tại địa chỉ: http://www.childinfo.  
org/areas/fgmc /docs / Cairo%20declaration.pdf  
Trung tâm Tự do Tôn giáo - Ngôi nhà tự do. 2005.  
Nhà xuất bản Xê út về tư tưởng gây hấn tràn khắp các  
Nhà thờ Hồi giáo ở Hoa Kỳ. Washington. Tài liệu có  
FINAL%20FINAL.pdf  
Lerner, Natan. 2000. Tôn giáo, tín ngưỡng và quyền  
con người quốc tế. New York: Sách của Orbis.  
OSCE. 2005. Đóng góp của Giáo sư Ekmeleddin Ih-  
sanoglu, Tổng Thư ký Tổ chức các Hội nghị Đạo Hồi,  
vào tiến trình phiên họp thứ 4 của Hội nghị O.S.C.E.  
về chống chủ nghĩa Xêmít (chủ nghĩa của nhóm chủng  
tộc gồm người Do thái và người Ả rập) và về các dạng  
thức của sự không khoan dung. Tài liệu có tại địa chỉ:  
http://  
Dũng cảm từ chối. 2004. Những người lính dự bị có  
28 ngày để từ chối thực hiện nghĩa vụ ở dải Gaza -  
Lily Galili và Charlotte Halle. Tài liệu có tại địa chỉ:  
Tuyên bố của Hội đồng Vatican về tự do tôn giáo.  
Tài liệu có tại địa chỉ: http://www.vatican.va/archive/  
hist_councils/ii_vatican_council/documents/vat-ii_  
decl_19651207_dignitatis-humanae_en.html  
OSCE. 2005. Hội nghị OSCE về chống chủ nghĩa  
Xêmít và về các hình thức khác của sự không khoan  
dung. Tài liệu có tại địa chỉ:  
OSCE. 2002. Tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Tài liệu  
Tôn giáo vì hòa bình: http://www.wcrp.org  
Liên hiệp quốc. 2004. Các quyền dân sự và chính trị,  
bao gồm cả sự không khoan dung trong tôn giáo. Báo  
cáo do Ông Adel-fattah Amor, Báo cáo viên đặc biệt  
về tự do tôn giáo và tín ngưỡng đưa ra.  
E/CN.4/2004/63. Tài liệu có tại địa chỉ:  
Tuyên bố của Hội đồng Nhà thờ thế giới về tự do  
tôn giáo. Tài liệu có tại địa chỉ:  
interdocs/docs/wccdecreliglib1948.html  
Evans, Malcolm D. và Rachel Murray (Chủ biên).  
2002. Hiến chương châu Phi về quyền con người và  
quyền của các dân tộc. Hệ thống trên thực tế. 1986-  
2000. Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge.  
Gahrana, Kanan. 2001. Quyền tự do tôn giáo: Một  
nghiên cứu về chủ nghĩa thế tục ở Ấn Độ (đấu tranh  
cho tính không tôn giáo của nhà trường). Denver: Nhà  
xuất bản Học thuật quốc tế.  
religion/annual.htm  
Liên hiệp quốc. 2004. Các quyền chính trị và dân sự,  
bao gồm cả sự không khoan dung trong tôn giáo. Báo  
cáo của Asma Jahangir, Báo cáo viên đặc biệt về tự  
do tôn giáo và tín ngưỡng. E/CN.4/2005/61. Tài liệu  
religion/annual.htm  
Học viện phi tôn giáo hóa nhà trường của xã hội  
Hồi giáo. Cơn ác mộng của nữ thanh niên trong các  
213  
Liên hiệp quốc. 2003. Các quyền tự do về chính trị và Địa chỉ : http://www.iarf-religiousfreedom.net  
dân sự, bao gồm cả sự không khoan dung trong tôn  
giáo. Báo cáo của Adel-fattah Amor, Báo cáo viên đặc  
biệt về tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng theo nghị quyết  
của Uỷ ban quyền con người 2002/40.  
E/CN.4/2003/66. Tài liệu có tại địa chỉ:  
Hiệp hội tự do tôn giáo quốc tế.  
Tập san Tôn giáo và xã hội. Địa chỉ:  
http://www.creight-on.edu/JRS  
Tập san Marburg về tôn giáo. Địa chỉ: http://  
web.uni-marburg.de/religionswissenschaft/  
journal/mjr/welcome.html  
gion/annual.htm  
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 2005. Báo cáo về chống chủ  
nghĩa Xêmít trên toàn cầu. Tài liệu có tại địa chỉ:  
Các nhà tư vấn Ontario về tự do tôn giáo: Địa chỉ:  
OSCE. 2004. Hội nghị OSCE về chống chủ nghĩa Xê  
mít. PC.DEL/696/04/Rev.1. Địa chỉ  
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 2001. Ai Cập: Báo cáo về tục  
cắt bỏ âm vật phụ nữ. Tài liệu có tại địa chỉ:  
Đại hội thế giới về bảo tồn sự đa dạng trong tôn  
giáo. Tài liệu có tại địa chỉ :  
2004/07/3349_en.pdf  
OSCE. 2004. Hội nghị OSCE về sự khoan dung và  
chiến đấu chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự  
bài ngoại và phân biệt. PC.DEL/949/04. Địa chỉ:  
com/man-  
dala/s_ot/s_ot_world_congress.htm  
Đoàn mục sư thế giới - Hướng dẫn về đối thoại  
giữa các tín ngưỡng khác nhau. Tài liệu có tại địa  
Yinger, J. Milton. 1970. Nghiên cứu khoa học về tôn  
giáo. New York: McMillan.  
org/documents/cio/2004/10/3728_en.pdf  
OSCE. 2004. Cuộc họp OSCE về mối quan hệ giữa  
tuyên truyền chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự bài  
ngoại, chống chủ nghĩa Xê mít trên Internet và các tội  
phạm gây hấn. PC.DEL/918/04/Corr.1. Tài liệu có tại  
địa chỉ:  
CÁC THÔNG TIN THAM KHẢO  
Liên đoàn chống sự phỉ báng. Tài liệu có tại địa chỉ  
documents/cio/2004/09/3642_en.pdf  
Saeed, Abdullah và các tác giả khác. 2004. Tự do  
tôn giáo, bỏ đạo và đạo Hồi. Aldershot: Nhà xuất bản  
Ashgate.  
Cookson, Catharine (chủ biên). 2003. Bách khoa  
toàn thư về tự do tôn giáo. New York: Routledge.  
Hội đồng Nghị viện của Tôn giáo thế giới. Địa chỉ:  
Scalabrino, Michelangela. 2003. Bộ luật Quốc tế về  
Tự do tôn giáo. Leuven: Peeters.  
Soka Gakkai Quốc tế. Tài liệu có tại địa chỉ  
Quỹ Đạo đức toàn cầu: http://www.weltethos.org  
Tổ chức theo dõi quyền con người. Địa chỉ:  
Liên hiệp quốc 2001. Hội nghị tư vấn quốc tế về giáo  
dục trong nhà trường về mối liên hệ với tự do tôn  
giáo và tín ngưỡng, sự khoan dung và không phân biệt  
đối xử. Tài liệu có tại địa chỉ :  
Tổ chức theo dõi quyền con người. 2005. Sự tàn  
phá làm bùng lên phong trào trấn áp tôn giáo Uighurs  
ở Xinjiang.  
Uỷ ban về tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ. Tài  
liệu có tại địa chỉ: http://www.uscirf.gov  
Quyền con người không biên giới quốc tế. Trang  
Uỷ ban về tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ. 2005. Mối  
quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo và quyền tự do tôn giáo  
Hiệp hội Quốc tế về tự do tôn giáo.  
214  
và tín ngưỡng: phân tích so sánh văn bản Hiến pháp của  
các quốc gia Hồi giáo. Tài liệu có tại địa chỉ:  
countries/global/comparative_constitutions/  
03082005/Study0305.pdf  
Hội nghị thế giới về chống chủ nghĩa chủng tộc,  
phân biệt chủng tộc, sự bài ngoại và không khoan  
dung có liên quan. Tài liệu có tại địa chỉ: http://  
Hội nghị thế giới về tôn giáo và hòa bình (WCRP).  
Tài liệu có tại: http://www.wcrp.org  
215  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 207 trang Thùy Anh 15901 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Tìm hiểu về quyền con người (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_tim_hieu_ve_quyen_con_nguoi_phan_2.pdf