Giáo trình Kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế

MỤC LỤC  
STT  
1
Tên bài  
Đại cương về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế  
Nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế  
Phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh  
Quy chế chống nhiễm khuẩn bệnh viện  
Vệ sinh đôi tay  
Trang  
2
2
3
10  
17  
21  
24  
31  
40  
47  
56  
62  
67  
73  
78  
83  
4
5
6
7
Mặc áo choàng , mang và tháo khẩu trang găng tay vô khuẩn  
Trang phục phòng hộ cá nhân  
8
Khử khuẩn - tiệt khuẩn  
9
Quản lý chất thải rắn y tế  
Quản lý chất thải bệnh viện  
10  
11  
12  
13  
Vệ sinh trong các cơ sở y tế  
Voát nhiễm khuẩn liên quan đến kỹ thuật tiêm  
Thay đổi hành vi nhằm thực hiện tiêm an toàn  
Phòng và xử trí phơi nhiễm nghề nghiệp sau tai nạn rủi ro do  
vật sắc nhọn  
14  
1
BÀI 1  
ĐẠI CƯƠNG VỀ KIỂM SOÁT  
NHIỄM KHUẨN TRONG CÁC CƠ SỞ Y TẾ  
1. ĐẠI CƯƠNG  
- Nhiễm khuẩn mà nguời bệnh mắc phải trong quá trình khám bệnh chữa bệnh  
và chăm sóc tại cơ sở y tế được gọi chung là nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV). Tất cả  
những người bệnh nằm điều trị tại bệnh viện đều có nguy cơ mắc NKBV, đối tượng có  
nguy cơ cao là trẻ em, nguời già, người bệnh suy giảm hệ miễn dịch, người bệnh có thời  
gian nằm điều trị kéo dài và sử dụng quá nhiều kháng sinh.  
- Theo tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), NKBV được định nghĩa như sau: “NKBV  
là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện và  
nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời  
điểm nhập viện”  
- Để chẩn đoán NKBV nguời ta thường dựa vào định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn  
đoán cho từng vị trí NKBV, ví dụ như: Nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật, nhiễm  
khuẩn máu có liên quan đến dụng cụ đặt trong lòng mạch, nhiễm khuẩn đường tiết  
niệu,…  
2. DỊCH TỄ HỌC NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN  
2.1. Tần xuất nhiễm khuẩn bệnh viện  
- Các nghiên cứu mô vùng, quốc gia và liên quốc gia của các nước và TCYTTG  
ghi nhận tỉ lệ NKBV từ 3,5% đến 10% người bệnh nhập viện.  
- Tình hình NKBV tại Việt Nam chưa được xác định đầy đủ. Đến nay đã có 3  
cuộc điều tra cắt ngang mang tính khu vực do Vụ điều trị Bộ Y tế (nay là cục quản lý  
khám chữa bệnh) đã được thực hiện. Điều tra năm 1998 trên 901 người bệnh trong 12  
bệnh viện toàn quốc cho thấy tỉ lệ NKBV là 11,5%; trong đó nhiễm khuẩn vết mổ chiếm  
51% trong tổng số các NKBV. Điều tra năm 2001 xác định tỉ lệ NKBV là 6,8% trong  
11 bệnh viện và viêm phổi bệnh viện là nguyên nhân thường gặp nhất (41,8%). Điều tra  
năm 2005 tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện trong 19 bệnh viện toàn quốc cho thấy 5,7% và  
viêm phổi bệnh viện cũng là nguyên nhân thường gặp nhất( 55,4% ).  
2.2 Các nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp.  
2.2.1. Viêm phổi bệnh viện (VPBV )  
Tại Việt Nam, kết quả điều tra toàn quốc năm 2005 trên 19 bệnh viện cho thấy  
VPBV chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các NKBV khác: 55,4% trong tổng số các NKBV  
(Bộ Y Tế , 2005). Theo các nghiên cứu ở các bệnh viện trong toàn quốc, tỉ lệ VPBV từ  
21% đến 75% trong tổng số các NKBV. Tỉ lệ viêm phổi liên quan đến thở máy đặc biệt  
cao trong nhóm người bệnh nằm tại khoa HSTC (43-63.5/1000 ngày thở máy). VPBV  
là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong số các loại NKBV (30-70%), kéo dài thời  
gian nằm viện thêm 6-13 ngày, và tăng viện phí từ 15-23 triệu đồng cho một trường hợp.  
2.2.2. Nhiễm khuẩn vết mổ ( NKVM )  
- Tại Việt Nam, NKVM xảy ra ở 5%-10% trong số khoảng 2 triệu người bệnh  
được phẫu thuật hàng năm. NKVM là loại nhiễm khuẩn thường gặp nhất, với số lượng  
lớn nhất trong các loại NKBV. Khoảng trên 90% NKVM thuộc loại nông và sâu.  
2
- Nhiễm khuẩn vết mổ để lại hậu quả nặng nề cho người bệnh do kéo dài thời  
gian nằm viện, tăng tỉ lệ tử vong và tăng chi phí điều trị.  
2.2.3. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu  
Nhiễm khuẩn bệnh viện đường tiết niệu đứng hàng thứ 2 hoặc thứ ba tùy theo  
nghiên cứu, tỉ lệ mắc cao ở những người già, người có đặt thông tiểu. Có tới 80% trường  
hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu liên quan đến đặt dẫn lưu bàng quang và tỉ lệ nhiễm  
khuẩn đường tiết niệu nặng rất cao trong một số trường hợp như thay thận, nữ giới, đái  
đường và suy thận.  
2.2.4. Nhiễm khuẩn huyết (NKH)  
Nhiễm khuẩn huyết đứng hàng thứ 3 trong các NKBV thường gặp ở các cơ sở  
khám bệnh, chữa bệnh (KBCB). Tại Việt Nam, nghiên cứu NKH ở khoa HSTC sơ sinh  
trên người bệnh có đặt catherter cho thấy tần suất là 7,5 ca/1000 ngày điều trị. Tần suất  
tại khoa HSTC nhi chung là 9,6/1000 trẻ nhập khoa HSTC. Thời gian nằm viện tăng  
thêm 4 ngày.  
2.2.5. Nhiễm khuẩn vết bỏng  
Người bệnh bỏng, bề mặt da bị tổn thương, sự kết hợp giữa tình trạng bệnh và sử  
dụng dụng cụ xâm lấn trong quá trình đều trị là điều kiện thuận lợi cho NKBV, tụ cầu  
vàng và Pseudomonas là vi khuẩn kháng thuốc thường phân lập được trong tổn thương  
nhiễm trùng bỏng. Mặt khác, vết bỏng sâu, mô hoại tử là môi trường thuận lợi cho VSV  
xâm nhập, phát triển và dễ gây nhiễm khuẩn huyết.  
2.2.6. Các nhiễn khuẩn khác  
Ngoài một số loại NKBV thường gặp nói trên đã được hầu hết các tác giả đề cập  
tới trong các nghiên cứu của mình, nhưng còn nhiều loại nhiễm khuẩn ở các vị trí tiềm  
ẩn khác trong bệnh viện như: Nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm khuẩn dạ dày - ruột,  
viêm xoang, nhiễm khuẩn mắt và kết mạc, viêm nội mạc tử cung…  
2.3. Các tác nhân vi sinh vật  
2.3.1. Vai trò gây bệnh của vi khuẩn  
- Vi khuẩn gây NKBV có thể từ hai nguồn gốc khác nhau. Vi khuẩn nội sinh,  
thường cư trú ở lông, tuyến mồ hôi, tuyến chất nhờn. Vi khuẩn ngoại sinh, là vi khuẩn  
có nguồn gốc ngoại lai, có thể từ dụng cụ y tế,nhân viên y tế, không khí, nước hoặc lây  
nhiễm chéo giữa các người bệnh.  
- Vi khuẩn Gram dương: Chủ yếu là cầu khuẩn. Tụ cầu vàng đóng vai trò quan  
trọng đối với NKBV từ cả hai nguồn nội sinh và ngoại sinh. Tụ cầu vàng có thể gây nên  
nhiễm khuẩn ở phổi, xương, tim, nhiễm khuẩn huyết và đóng vai trò quan trọng trong  
NKBV có liên quan đến truyền dịch, ống thở, nhiễm khuẩn vết bỏng và nhiễm khuẩn  
vết mổ.  
- Vi khuẩn Gram âm, trong đó các trực khuẩn Gram (-) thường có liên quan nhiều  
đến NKBV và phổ biến trên người bệnh nhiễm khuẩn phổi tại khoa điều trị tích cực. Họ  
vi khuẩn đường ruột thường cư trú trên đường tiêu hoá của người và động vật, đang là  
mối quan tâm lớn trong NKBV do có khả năng kháng cao với các nhóm kháng sinh  
amiglycoside, Beta – lactamase. Vi khuẩn thuộc giống Klebsiella spp thường xuyên là  
nguyên nhân gây NKBV và vi khuẩn này có khả năng lan nhanh tạo thành các dịch vụ  
tại bệnh viện. Loài Klebsiella pneumoniae, thường có vai trò quan trọng trong nhiễm  
khuẩn tiết niệu, phổi, nhiễm khuẩn huyết và mô mềm. Nhiều nghiên cứu trong nước và  
3
quốc tế đã khẳng định, vi khuẩn Escherichia coli gây nhiễm khuẩn chủ yếu trên đường  
tiết niệu, sinh dục của phụ nữ và nhiễm khuẩn vết mổ.  
2.3.2. Vai trò gây bệnh của vi rút  
- Một số vi rút có thể lây NKBV như vi rút viêm gan B (HIV) và vi rút viêm gan  
C (HCV), các vi rút hợp bào đường hô hấp, SARS và vi rút đường ruột truyền qua tiếp  
xúc từ tay – miệng và theo đường phân – miệng.  
- Nhiều nghiên cứu cho thấy HBV, HIV, cúm A đóng vai trò lây nhiễm quan  
trọng trong môi trường bệnh viện. Người bệnh ghép tạng là đối tượng có nguy cơ lây  
nhiễm cao. Những người bệnh có HBsAg-, kháng HBc-, kháng HBc+ và HBV DNA+  
được coi là người lành mang HBV và dễ có nguy cơ bùng phát vi rút viêm gan B sau  
ghép tim.  
- Bên cạnh vi rút viêm gan, các nhà khoa học Pháp đã cho thấy 25% người bệnh  
hồi sức cấp cứu bị nhiễm một loại vi rút gây bệnh đường hô hấp trên có liên quan đến  
quạt thông gió. Vi rút Herpes type-1 cũng được phát hiện thấy trên bệnh phẩm của người  
bệnh thở máy với tỉ lệ khá cao (31%).  
2.3.3. Vai trò gây bệnh của ký sinh trùng và nꢀm  
- Một số ký sinh trùng có thể lây truyền dễ dàng giữa người trưởng thành và trẻ  
em. Nhiều loại nấm và ký sinh trùng là các sinh vật cơ hội và là nguyên nhân nhiễm  
khuẩn trong khi điều trị quá nhiều kháng sinh và trong trường hợp suy giảm miễn dịch  
- Tác giả Trương Anh Thư và CS (2008) cho thấy các tác nhân gây NKBV tại  
Bệnh viện Bạch Mai, ngoài các vi khuẩn Gram âm thường gặp thì tỷ lệ nhiễm khuẩn do  
nấm Candida là khá cao (14,3%).  
2.4. Đường lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện  
Có 3 đường lây truyền chính trong cơ sở y tế là lây qua đường tiếp xúc, đường  
giọt bắn và không khí.  
- Lây qua đường tiếp xúc: Là đường lây nhiễm quan trọng và phổ biến nhất trong  
NKBV (chiếm 90% các NKBV) và được chia làm hai loại khác nhau là lây nhiễm qua  
đường tiếp xúc trực tiếp (tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây bệnh) và lây nhiễm qua  
tiếp xúc gián tiếp (tiếp xúc với vật trung gian chứa tác nhân gây bệnh).  
- Lây nhiễm qua đường giọt bắn: Khi tác nhân gây bệnh chứa trong các giọt nhỏ  
bắn ra khi người bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện bắn vào kết mạc mắt, niêm mạc mũi,  
miệng của người tiếp xúc. Các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có trong các giọt bắn có  
thể truyền bệnh từ người sang người trong một khoảng cách ngắn (<1mét ). Các giọt  
bắn có kích thước rất khác nhau, thường >5 µm, có khi lên tới 30 µm hoặc lớn hơn. Một  
số tác nhân gây bệnh qua đường giọt bắn cũng có thể truyền qua đường tiếp xúc trực  
tiếp hoặc tiếp xúc gián tiếp.  
- Lây qua đường không khí: Xảy ra do các giọt nhỏ chứa tác nhân gây bệnh có  
kích thước < 5 µm. Các giọt phát sinh ra khi người bệnh ho hay hắt hơi, sau đó phát tán  
vào trong không khí và lưu chuyển đến một khoảng cách xa, trong một thời gian dài tuỳ  
thuộc vào các yếu tố môi trường. Những người bệnh có khả năng lây truyền bằng đường  
không khí như lao phổi, sởi, thuỷ đậu, đậu mùa, cúm, quai bị hoặc cúm, SARS khi có  
làm thủ thuật tạo khí dung…  
2.5. Nguồn lây nhiễm khuẩn  
2.5.1. Từ môi trường  
4
Các tác nhân gây bệnh có thể gặp trong môi trường (không khí, nước, bề mặt vật  
dụng xung quanh người bệnh) như nấm vi khuẩn hoặc các loại vi rút và các ký sinh  
trùng  
2.5.2. Từ người bệnh  
- Các yếu tố từ người bệnh làm thuận lợi cho NKBV gồm tuổi, tình trạng sức  
khoẻ và phương pháp điều trị được áp dụng. Tình trạng sức khoẻ kém, đặc biệt là tuổi  
cao các đáp ứng miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể bị suy giảm; Trẻ em có hệ thống  
đáp ứng miễn dịch chưa hoàn chỉnh, sức chịu đựng strees kém vì thế sức đề kháng với  
vi khuẩn yếu nên xuất hiện một nguy cơ toàn thân. Ngoài ra người bệnh cao tuổi dễ mắc  
bệnh còn liên quan đến tình trạng dinh dưỡng kém.  
- Hơn nữa, người bệnh nặng dẫn đến tình trạng tăng trao đổi chất, khả năng miễn  
dịch suy yếu, khả năng chống là các VSV ngoại sinh giảm và VSV nội sinh phát triển  
mạnh hơn. Một số yếu tố khác cũng góp phần NKBV như tình trạng người bệnh khi  
nhập viện (cấp tính hay không cấp tính ), thời gian nằm viện, giới tính, khả năng khử  
nhiểm chọn lọc của ống tiêu hoá và các nguy cơ này mang tính độc lập với mỗi loại  
nhiễm khuẩn. Nguy cơ cao NKBV cũng xảy ra trên những người bệnh thay tạng, ung  
thư hoặc nhiễm khuẩn do suy giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV, người bệnh tổn  
thương hệ miễn dịch, người bệnh đa chấn thương hoặc bỏng nặng và người bệnh thường  
xuyên phải điều trị can thiệp.  
2.5.3. Từ hoạt động chăm sóc và điều trị  
- Do sử dụng các dụng cụ, thiết bị xâm nhập như: Đặt nội khí quản, máy trợ hô  
hấp, nội soi thăm dò, dẫn lưu sau mổ, đặt cathete tĩnh mạch trung tâm, dẫn lưu tiết  
niệu,… Tất cả các điều trị can thiệp đó đã phá vỡ cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể là  
ngăn cản sự xâm nhập và tấn công của các VSV gây bệnh và luôn được xem là có nguy  
cơ cao. Tỉ lệ các NKBV liên quan đến quy trình điều trị xâm nhập hoặc dụng cụ xâm  
nhập chiếm xấp xỉ 80% tổng số nhiễm khuẩn trong bệnh viện.  
- Do chưa tuân thủ các quy định phòng ngừa nhiễm khuẩn của NVYT như tuân  
thủ vệ sinh tay còn thấp, sử dụng chung găng tay, sử dụng các dụng cụ y tế để dùng lại  
đặc biệt là các dụng cụ nội soi chưa đúng quy định.  
2.5.4. Từ việc sử dụng kháng sinh không thích hợp  
- Khi sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ làm tăng chủng kháng thuốc do có sự  
phối hợp chọn lọc tự nhiên và thay đổi các thành phần gen kháng thuốc của vi khuẩn.  
Kháng kháng sinh xuất phát điểm từ các cơ sở y tế, sau đó lan rộng ra cộng đồng và vi  
khuẩn kháng thuốc trở thành căn nguyên của khoảng 70% các NKBV. Tỉ lệ mắc và tử  
vong do NKBV có liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc đã làm tăng đáng kể các chi phí.  
2.6. Nguyên nhân NKBV  
NKBV không chỉ gặp ở người bệnh mà còn có thể gặp ở NVYT những người  
trực tiếp chăm sóc người bệnh thực hiện những biện pháp KSNK trong các cơ sở KBCB  
cần quan tấm đến nguyên nhân NKBV ở cả 2 đối tượng này.  
2.6.1. Đối với người bệnh  
Có rất nhiều yếu tố là nguyên nhân dẫn đến các NKBV ở người bệnh như:  
- Các yếu tố nội sinh (do chính bản thân người bệnh): Người bệnh mắc bệnh mãn  
tính, mắc các bệnh tật làm suy giảm khả năng phòng vệ của cơ thể, những người bệnh  
dùng thuốc kháng sinh kéo dài, trẻ sơ sinh non tháng và người già dễ bị NKBV. Các  
5
VSV cư trú trên da, các hốc tự nhiên của cơ thể người bệnh có thể gây nhiễm khuẩn cơ  
hội, đặc biệt khi cơ thể giảm sức đề kháng.  
- Các yếu tố ngoại sinh như: Vệ sinh môi trường, nước, không khí, chất thải, quá  
tải bệnh viện, nằm ghép, dụng cụ y tế, các phẫu thuật, các can thiệp thủ thuật xâm lấn,  
…
- Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ của NVYT: Tuân thủ các nguyên tắc vô  
khuẩn, đặc biệt vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế.  
2.6.2. Đối với NVYT  
- Ba nguyên nhân chính làm cho NVYT có nguy cơ bị lây nhiễm. Thường là khi  
họ bị phơi nhiễm nghề nghiệp với các tác nhân gây bệnh qua đường máu do tai nạn nghề  
nghiệp trong quá trình chăm sóc người bệnh thường gặp nhất là :  
+ Tại nạn rủi ro từ kim tiêm và vật sắc nhọn nhiễm khuẩn  
+ Bắn máu và dịch từ người bệnh vào niêm mạc mắt, mũi, miệng khi làm thủ  
thuật.  
+ Da tay không lành lặn tiếp xúc với máu và dịch sinh học của người bệnh có  
chứa tác nhân gây bệnh.  
3. HẬU QUẢ CỦA NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN  
- NKBV dẫn đến nhiều hệ lụy cho người bệnh và cho hệ thống y tế như: Tăng  
biến chứng và tử vong cho người bệnh, kéo dài thời gian nằm viện từ 7 – 15 ngày, tăng  
sử dụng kháng sinh dẫn đến sự tăng kháng thuốc của VSV và tăng chi phí điều trị thường  
gấp 2 đến 4 lần so với những trường hợp không NKBV.  
- Một nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy NKBV làm kéo dài thời gian  
nằm viện 15 ngày với chi phí trung bình mỗi ngày là 192,000 VNĐ và ước tính chi phí  
phát sinh do NKBV vào khoảng 2,880,000 VNĐ/ người bệnh.  
4. CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ/ LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM  
SOÁT NHIỄM KHUẨN  
- Điều 62 Luật khám bệnh chữa bệnh quy định: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có  
trách nhiệm thực hiện các biện pháp KSNK (Giám sát, khử khuẩn, tiệt khuẩn, vệ sinh,  
XLCT,…); bảo đảm cơ sở vật chất cho KSNK; tư vấn về các biện pháp KSNK; người  
làm việc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người bệnh phải tuân thủ các quy định  
về KSNK.  
- Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 về hướng dẫn tổ chức  
thực hiện công tác KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã thay thế cho các  
quy định trước đây tại Quy chế bệnh viện (1997) các quy chế liên quan đến công tác  
KSNK. Theo đó Bộ Y Tế đã có quy định cụ thể 10 nhiệm vụ chuyên môn về KSNK,  
quy định các điều kiện về tổ chức, về nhân lực, trang thiết bị và trách nhiệm của các cá  
nhân, bộ phận trong việc thực hiện các nội dung của Thông tư.  
- Quyết định 43/2007/BYT-QĐ ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế đã quy  
định chất thải rắn y tế được chia làm 5 nhóm, bao gồm: Chất thải lây nhiễm, chất thải  
hoá học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường. Quy  
chế cũng quy định tiêu chuẩn các dụng cụ, bao bì thu gom, vận chuyển chất thải rắn  
trong bệnh viện; phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải rắn trong bệnh viện, vận  
chuyển chất thải rắn ra ngoài cơ sở y tế,…  
6
- Quyết định số 1040/QĐ-BYT ngày 30/3/2012, Bộ Y Tế đã ban hành Kế hoạch  
hành động quốc gia tăng cường công tác KSNK trong các cơ sở KBCB giai đoạn từ nay  
đến 2015.  
- Chương trình, tài liệu đào tạo phòng ngừa chuẩn năm 2010.  
- Các hướng dẫn phòng ngừa NKBV như: Phòng nhiễm khuẩn vết mổ phòng  
viêm phổi trên người bệnh thở máy phòng ngừa chuẩn tiêm an toàn, khử khuẩn tiệt  
khuẩn phòng nhiễm khuẩn huyết ở người bệnh đặt catheter.  
- Kiểm tra bệnh viện hàng năm đã đưa công tác KSNK thành yêu cầu thường quy  
đối với tất cả bệnh viện.  
5. CHƯƠNG TRÌNH KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP  
CỤ THỂ  
Mặc dù NKBV là luôn xảy ra trong quá trình chăm sóc và điều trị người bệnh,  
xong việc thực hiện tốt và hiệu quả một trương trình KSNK trong các CSYT đều góp  
phần làm giảm 30% các trường hợp NKBV có thể xảy ra trong rất nhiều nghiên cứu trên  
thế giới. Và ngày nay với một mục tiêu “ an toàn cho người bệnh, an toàn cho nhân viên  
y tế” nhiều bệnh viện trên thế giới đã nêu quyết tâm của mình như “Tiến đến không còn  
NKBV” và ý tưởng này đã được rất nhiều CSYT trên thế giới ủng hộ. Chương trình  
KSNK bao gồm nhiều giải pháp hữu hiệu sau:  
5.1. Về chính sách  
- Xây dựng chính sách quốc gia về tăng cường công tác KSNK.  
- Ban hành các quy đinh, hướng dẫn quốc gia về thực hành kiểm soát nhiễm  
khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh  
- Xây dựng các chuẩn đánh giá chất lượng thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn để  
đưa vào nội dung kiểm tra bệnh viện hằng năm và đánh giá chất lượng bệnh viện  
5.2. Về tổ chức  
- Bộ Y Tế (Cục quản lý khám chữa bệnh) thành lập tổ chuyên gia kiểm soát  
NKBV; Tổ chuyên gia tư vấn để Bộ Y Tế ban hành các chính sách và hướng dẫn quốc  
gia về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn đồng thời tham gia đào tạo về KSNK.  
- Đối với các bệnh viện thành lập Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn; Khoa /Tổ  
KSNK và mạng lưới KSNK để làm đầu mối tham mưu cho lãnh đạo bệnh viện thực hiện  
các hướng dẫn và quy định về KSNK.  
- Hội nghề nghiệp duy trì hoạt động của các hội KSNK khu vực và chuẩn bị các  
điều kiện để thành lập Hội KSNK Việt Nam.  
5.3. Về đào tạo KSNK bệnh viện  
- Đào tạo chuyên khoa KSNK: Cán bộ y tế khoa (tổ) KSNK phải được đào tạo  
chuyên khoa và thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng thực hành KSNK.  
- Đào tạo phổ cập: Thầy thuốc, nhân viên của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải  
được đào tạo chương trình phổ cập về KSNK bao gồm các thực hành về phòng ngừa  
chuẩn và phòng ngừa dựa vào đường lây, các hướng dẫn thực hành phòng ngừa NKBV  
theo cơ quan, vị trí.  
- Đào tạo KSNK trong các trường: Bổ sung môn học về phòng và KSNK trong  
các chương trình đào tạo bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên.  
7
- Triển khai chương trình đào tạo vệ sinh bệnh viện cho hộ lý và nhân viên vệ  
sinh bệnh viện.  
- Triển khai Chương trình đào tạo vệ sinh bệnh viện cho hộ lý và nhân viên vệ  
sinh bệnh biện.  
5.4. Về tổ chức giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện  
- Tổ chức giám sát NKBV để có cở sở dữ liệu về NKBV như tỷ lệ mắc NKBV,  
tác nhân gây bệnh, vi khuẩn kháng thuốc,…  
- Giám sát là hoạt động chủ yếu của chương trình kiểmn soát NKBV và khoa  
KSNK. Giám sát NKBV được định nghĩa là “Việc thu thập có hệ thống, liên tục; việc  
xử lý và phân tích những dữ kiện cần thiết nhằm triển khai, lập kế hoạch, và phổ biến  
kịp thời về dữ kiện này đến những người cần được biết”  
- Giám sát NKBV là một trong những yếu tố quan trọng để cải thiện tình hình  
NKBV. Nhân viên kiểm soát NKBV thường phải dành hơn một nửa thời gian để tiến  
hành giám sát. Giám sát NKBV sẽ cung cấp những dữ kiện có ích để đánh giá tình hình  
NKBV, nhận biết những người bệnh NKBV, xác định vị trí nhiễm khuẩn, những yếu tố  
góp phần vào nhiễm khuẩn. Từ đó giúp bệnh viện có kế hoạch can thiệp và đánh giá  
được hiệu quả của những can thiệp này. Giám sát NKBV còn là tiền đề cho việc thực  
hiện các nghiên cứu về KSNK.  
- Chương trình giám sát cũng cần bao gồm chương trình kiểm soat kháng sinh.  
Cần đưa ra được những quy định chính sách sử dụng kháng sinh. Cần hạn chế những  
hoạt động tiếp thị của các hãng thuốc trong bệnh viện, đặc biệt tại các bệnh viện có đào  
tạo.  
5.5. Về thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn  
- Tổ chức thực hiện các biện pháp cách ly phòng ngừa như: Phòng ngừa chuẩn,  
phòng ngừa bổ sung (dựa theo đường lây truyền bệnh)  
- Tổ chức thực hiện các hướng dẫn và kiểm tra các biện pháp thực hành KSNK  
theo tác nhân, cơ quan và bộ phận bị NKBV.  
5.6. Đảm bảo các điều kiện cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn  
- Các bộ phân (đơn vị) khử khuẩn – tiệt khuẩn tập trung đạt tiêu chuẩn và có đủ  
các phương tiện để làm sạch, cọ rửa , khử khuẩn, tiệt khuẩn và kho đựng dụng sạch và  
đựng dụng cụ vô khuẩn.  
- Có nhà giặt thiết kế 1 chiều, đủ trang bị và phương tiện như máy giặt, máy sấy,  
phương tiện là (ủi) đồ vải, xe vận chuyển đồ vải bẩn, sạch; bể (thùng) chứa hoá chất khử  
khuẩn để ngâm đồ vải nhiễm khuẩn, tủ lưu giữ đồ vải; xà phòng giặt hoá chất khử khuẩn.  
- Có cơ sở hạ tầng để đảm bảo xử lý an toàn chất thải lỏng, chất thải rắn, và chất  
thải y tế theo Quy định về quản lý chất thải y tế.  
- Các khoa lâm sàng phải có buồng để đồ bẩn và xử lý dụng cụ y tế, buồng cách  
ly được trang bị các phương tiện, buồng thủ thuật có đủ trang thiết bị, thiết kế đáp ứng  
yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn: Có bồn rửa tay, vòi nước, nước sạch, xà phòng, hoặc  
dung dịch rửa tay, khăn lau tay, bàn chải trà tay, bàn làm thủ thuật, tủ đựng dụng cụ vô  
khuẩn, thùng đựng chất thải.  
- Buồng phẫu thuật và buồng chăm sóc đặc biệt được trang bị hệ thống thông khí,  
lọc khí thích hợp đảm bảo yêu cầu vô khuẩn.  
8
- Phòng xét nghiệm phải đảm bảo điều kiện an toàn sinh hoạt phù hợp với từng  
cấp độ và chỉ được tiến hành xét ngiệm trong phạm vi chuyên môn theo Quy định của  
Luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.  
- Khoa truyền nhiễm phải có đủ phương tiện phòng ngừa lây truyền bệnh và có  
khoảng cách an toàn với các khoa và khu dân cư theo quy định của pháp luật về phòng,  
chống bệnh truyền nhiễm.  
- Cơ sở vật chất chế biến, phân phối thực phẩm trong bệnh viện phải được xây  
dựng và thiết kế theo đúng các quy định pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm.  
- Có đủ phương tiện vệ sinh chuyên dụng. Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa  
bệnh hợp đồng với Công ty cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp thì hợp đồng phải xác  
định rõ yêu cầu về trang thiết bị, hoá chất, tiêu chuẩn vệ sinh, quy trình vệ sinh, đào tạo  
nhân viên vệ sinh theo chương trình tài liệu của Bộ Y Tế và kiểm tra đánh giá chất  
lượng.  
- Có đủ phương tiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải. Thùng, túi lưu giữ  
chất thải phải đảm bảo đủ số lượng, chất lượng và đúng màu quy định.  
- Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn được trang bị các phương tiện văn phòng để phục  
vụ công tác giám sát đào tạo như máy vi tính, máy in; các phương tiện khác phục vụ  
công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng môi trường và KSNK.  
5.7. Nhân lực chuyên trách kiểm soát nhiễm khuẩn.  
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đảm bảo nhân lực cho khoa (tổ) KSNK hoạt  
động. Ngoài nhân lực cho các bộ phận như khử khuẩn, tiệt khuẩn, giặt là, bộ phận giám  
sát nhiễm khuẩn phải đảm bảo tối thiểu cứ 150 giường bệnh có 01 nhân lực chuyên trách  
giám sát nhiễm khuẩn, nhân viên này phải được đào tạo về KSNK.  
9
BÀI 2  
NHIỄM KHUẨN LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC Y TẾ  
1. KHÁI NIỆM NHIỄM KHUẨN LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC Y TẾ  
Nhiễm khuẩn liên quan đến CSYT là chỉ số chất lượng chuyên môn, chỉ số an  
toàn của người bệnh, chỉ số đánh giá sự tuân thủ về thực hành của nhân viên y tế  
(NVYT), chỉ số đánh giá hiệu lực của công tác quản lý và là một chỉ số rất nhạy cảm  
đối với người bệnh và xã hội.  
2. NGUY CƠ NHIỄM KHUẨN ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH VÀ NVYT  
2.1. Đối với người bệnh  
Nhiễm khuẩn liên quan đến CSYT là yếu tố hàng đầu đe doạ sự an toàn của người  
bệnh trong các cơ sở y tế. Đặc biệt trong thời kỳ gia tăng số người nhiễm HIV/AIDS,  
viêm gan B, viêm gan C và các bệnh dịch nguy hiểm, người bệnh đứng trước nguy cơ  
có thể bị mắc thêm bệnh khi nằm viện hoặc khi nhận các dịch vụ y tế.  
Các điều tra quy mô vùng, quốc gia và liên quốc gia của các nước và Tổ chức Y  
tế Thế giới đều ghi nhận tỷ lệ NKBV từ 3,5% đến 10% người bệnh nhập viện. Một số  
điều tra ban đầu về NKBV ở nước ta cho thấy tỷ lệ NKBV hiện mắc từ 3 - 7% tùy theo  
tuyến và hạng bệnh viện. Càng ở bệnh viện tuyến trên, nơi có nhiều can thiệp thủ thuật,  
phẫu thuật thì nguy cơ nhiễm khuẩn càng lớn.  
2.2. Đối với nhân viên y tế  
Ngày nay, tuy kiến thức kiểm soát NKBV đã được nâng cao, phương tiện phòng  
hộ cá nhân đầy đủ hơn nhưng NVYT vẫn phải đối mặt với nguy cơ cao về phơi nhiễm  
nghề nghiệp đối với các tác nhân gây bệnh tại nơi làm việc. Bức tranh nhân viên y tế  
phơi nhiễm nghề nghiệp thường không đầy đủ do thiếu hệ thống báo cáo tin cậy. Các  
nghiên cứu ban đầu của Viện Y học Lao động và Vụ Điều trị Bộ Y tế (2004) cho thấy  
tỷ lệ nhân viên y tế báo cáo bị tai nạn rủi ro do vật sắc nhọn từ 35% đến 54% trong một  
năm.  
3. NGUYÊN NHÂN NHIỄM KHUẨN LIÊN QUAN ĐẾN CSYT  
3.1. Đối với người bệnh  
- Các yếu tố nội sinh: Là các yếu tố liên quan đến người bệnh như mắc các bệnh  
mãn tính, mắc các bệnh tật làm suy giảm khả năng phòng vệ của cơ thể, trẻ sơ sinh non  
tháng và người già. Đặc biệt các vi sinh vật cư trú trên da, các hốc tự nhiên của cơ thể  
người bệnh có thể gây nhiễm trùng cơ hội, những người bệnh dùng thuốc kháng sinh  
kéo dài  
- Các yếu tố ngoại sinh như: Vệ sinh môi trường, nước, không khí, chất thải, quá  
tải bệnh viện, nằm ghép, dụng cụ y tế, các phẫu thuật, các can thiệp thủ thuật xâm lấn ...  
- Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ của NVYT: NVYT không tuân thủ theo  
các nguyên tắc vô khuẩn; đặc biệt bàn tay của nhân viên y tế là vật trung gian làm lây  
truyền các tác nhân gây bệnh đáng kể.  
3.2. Nguyên nhân phơi nhiễm nghề nghiệp đối với NVYT  
Ba nguyên nhân chính làm cho nhân viên y tế bị phơi nhiễm nghề nghiệp với các  
tác nhân gây bệnh qua đường máu là:  
- Tai nạn rủi ro từ kim tiêm và vật sắc nhọn nhiễm khuẩn  
10  
- Bắn máu và dịch từ người bệnh vào niêm mạc mắt, mũi, miệng khi làm thủ  
- Da tay không lành lặn tiếp xúc với máu và dịch sinh học của người bệnh có  
thuật;  
chứa tác nhân gây bệnh.  
4. HẬU QUẢ CẢU NHIỄM KHUẨN LIÊN QUAN ĐẾN CSYT  
- Tăng biến chứng  
- Tăng tử vong  
- Tăng ngày điều trị  
- Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật  
- Tăng giá thành điều trị  
- Giảm chất lượng điều trị  
- Giảm uy tín của bệnh viện  
5. MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KSNK  
5.1. Mục tiêu  
- An toàn cho người bệnh thông qua việc làm giảm nhiễm khuẩn cho người bệnh  
liên quan đến cơ sở khám, chữa bệnh.  
- An toàn cho nhân viên y tế thông qua giảm phơi nhiễm nghề nghiệp.  
- Tạo môi trường làm việc an toàn cho mọi người.  
5.2. Các biện pháp  
- Thiết lập hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn trong các bệnh viện (Hội đồng  
KSNK, khoa KSNK, mạng lưới KSNK).  
- Tổ chức giám sát NKBV để có cơ sở dữ liệu về NKBV như tỷ lệ mắc NKBV,  
tác nhân gây bệnh, vi khuẩn kháng thuốc...).  
- Xây dựng và áp dụng các quy định về KSNK.  
- Đào tạo nhân viên y tế cập nhật kiến thức, kỹ năng và các quy trình KSNK.  
- Tổ chức thực hiện Phòng ngừa chuẩn và Phòng ngừa bổ sung dựa theo đường  
lây truyền trong các cơ sở khám, chữa bệnh.  
- Triển khai chương trình vệ sinh bàn tay.  
- Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.  
- Xử lý dụng cụ y tế tập trung.  
- Xử lý an toàn đồ vải.  
- Xử lý an toàn chất thải y tế (rắn, lỏng).  
- Vệ sinh môi trường bệnh viện.  
- Phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp cho NVYT.  
6. HỆ THỐNG TỔ CHỨC KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG NGỪA NKBV TRONG  
CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH  
6.1 Sự cần thiết  
11  
Việc tập trung người bệnh tại một nơi để chữa bệnh có ưu điểm rất cơ bản là tập  
trung được các nhà chuyên môn và kỹ thuật cao để tiến hành công việc điều trị và chăm  
sóc. Tuy nhiên, chừng nào người bệnh còn được tập hợp lại trong một ngôi nhà chung  
để điều trị thì chừng đó còn nguy cơ NKBV. Ngày nay, kiểm soát NKBV và ngăn ngừa  
sự trỗi dậy của các dòng vi khuẩn kháng kháng sinh đang là một trong những thách đố  
của những người quản lý, cũng như những thầy thuốc và điều dưỡng thực hành tại bệnh  
viện.  
Bệnh viện càng ứng dụng mới các công nghệ khoa học tiên tiến vào lĩnh vực điều  
trị và chăm sóc lâm sàng như ghép các phủ tạng, phẫu thuật tim hở, nối các mạch máu  
.... càng đòi hỏi phải nâng cao chuẩn mực về kiểm soát nhiễm khuẩn. Bệnh viện là trung  
tâm khoa học về sức khoẻ nên sẽ không thể chấp nhận được nếu bệnh viện chứa đựng  
các nguy cơ tiềm tàng gây nhiễm khuẩn chéo có hại cho sức khoẻ cho người bệnh, nhân  
viên y tế và môi trường.  
Để đương đầu với các nguy cơ làm tăng NKBV, trên thế giới đã xuất hiện môn  
Dịch tễ học bệnh viện "Hospital Epidemiology" nhằm nghiên cứu tần xuất, sự phân bổ,  
yếu tố nguy cơ và tìm ra các tác nhân gây NKBV để có biện pháp can thiệp thích hợp.  
Hầu hết bệnh viện của các nước đã thiết lập một mạng lưới tầm soát nhiễm khuẩn  
và phân công các nhân viên chuyên trách như bác sĩ kiểm soát nhiễm khuẩn (infection  
Control Doctor) và điều dưỡng kiểm soát nhiễm khuẩn (infection Control Nurse) để giúp  
cho Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn và giám đốc bệnh viện trong việc quản lý và giám  
sát thực hành kiểm soát NKBV. Ngoài ra, ở Mỹ còn có Trung tâm kiểm soát bệnh  
(Centre for Diseases Control - CDC) để giúp Bộ Y tế đưa ra các chính sách và những  
hướng dẫn về kiểm soát NKBV.  
Ở nước ta, mặc dù công tác kiểm soát nhiễm khuẩn đã được nói tới từ lâu, nhưng  
mãi tới năm 1997 Bộ Y tế mới chính thức đưa công tác kiểm soát NKBV thành một Quy  
chế riêng và từ đó tạo ra hành lang pháp lý cho việc tổ chức màng lưới cũng như tăng  
cường các biện pháp kiểm soát NKBV.  
6.2. Hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn  
Hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn ở nước ta đang trong quá trình vừa hình thành,  
vừa thực hiện và vừa rút kinh nghiệm để xây dựng một mô hình thích hợp. Nhiều địa  
phương đã thành lập hệ thống chỉ đạo kiểm soát NKBV và hoạt động đang đi vào nề  
nếp như thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác. Dưới đây phác thảo một  
số nét chính về tổ chức và nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn ở các cấp với  
mục đích giúp các địa phương tham khảo và áp dụng một cách thích hợp với hoàn cảnh  
cụ thể của mình.  
6.2.1. Ban chỉ đạo kiểm soát nhiễm khuẩn Bộ Y tế  
Ban chỉ đạo kiểm soát nhiễm khuẩn Bộ Y tế cần có thành phần gồm: Lãnh đạo  
Bộ là trưởng ban và thành viên là đại diện các vụ liên quan của Bộ Y tế. Ban có tổ thư  
ký giúp việc có các nhiệm vụ:  
- Xây dựng chính sách, quy chế kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế.  
- Chỉ đạo thực hiện thông tư 18 về tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn  
trong các cơ sở y tế.  
- Xây dựng các hướng dẫn chung về thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn  
- Giám sát và đánh giá việc thực hiện tại các cơ sở y tế.  
6.2.2. Ban kiểm soát nhiễm khuẩn cꢀp Sở y tế.  
12  
Thành phần của Ban chỉ đạo kiểm soát nhiễm khuẩn cấp sở gồm: Lãnh đạo Sở,  
đại diện một số Phòng ban có liên quan, Ban có thư ký giúp việc là trưởng/phó phòng  
Nghiệp vụ Y. Nhiệm vụ:  
- Phổ biến và hướng dẫn thực hiện quy chế, chính sách kiểm soát nhiễm khuẩn  
của Bộ Y tế ban hành.  
- Huấn luyện và đào tạo cho cán bộ chuyên trách của bệnh viện về kiểm soát  
nhiễm khuẩn.  
- Tổ chức giám sát và đánh giá việc triển khai thực hiện thông tư 18 về kiểm  
soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế.  
6.2.3. Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn cꢀp bệnh viện  
Để tăng cường chức năng tư vấn chuyên môn cho giám đốc bệnh viện về các biện  
pháp thực hành và ngăn ngừa NKBV, mỗi bệnh viện cần xây dựng mạng lưới kiểm soát  
nhiễm khuẩn.  
* Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn:  
Hội đồng có 5-10 thành viên: Chủ tịch Hội đồng trong giai đoạn hiện nay tốt nhất  
là thành viên của ban giám đốc bệnh viện. Hội đồng có thành viên gồm đại diện các  
phòng ban liên quan, trưởng khoa ngoại, khoa hồi sức, khoa truyền nhiễm, khoa vi  
sinh, khoa kiểm soát nhiễm khuẩn...  
Nhóm thư ký thường trực: Giúp việc cho Hội đồng có nhóm thư ký thường trực  
gồm khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng Điều dưỡng, phòng kế hoạch tổng hợp và khoa  
vi sinh.  
Tại các Khoa/Phòng có trưởng khoa và điều dưỡng trưởng khoa tham gia, tạo ra  
mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn cơ sở y tế  
* Nhiệm vụ của Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn:  
- Thông qua kế hoạch chương trình kiểm soát NKBV trong toàn bệnh viện.  
- Thông qua các quy định, các quy trình kiểm soát NKBV.  
- Tư vấn cho Giám đốc bệnh viện và các khoa về những vấn đề liên quan tới thực  
hành kiểm soát nhiễm khuẩn.  
- Tham gia huấn luyện nhân viên bệnh viện về thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn.  
- Tổ chức đánh giá hiệu quả của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn.  
6.2.4. Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn  
* Tổ chức khoa kiểm soát nhiễm khuẩn:  
Căn cứ vào quy mô và xếp hạng bệnh viện dưới đây đề xuất các bộ phận của khoa  
kiểm soát nhiễm khuẩn :  
- Lãnh đạo khoa (trưởng phó khoa, Điều dưỡng trưởng).  
- Tổ giám sát và đào tạo.  
- Tổ tiệt khuẩn  
- Tổ giặt là  
- Tổ vệ sinh và xử lý chất thải  
* Nhiệm vụ  
13  
Qua đánh giá thực tế hoạt động của các khoa kiểm soát nhiễm khuẩn cho thấy  
nhiệm vụ của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn cần được sửa đổi và tập trung vào các vấn  
đề sau:  
Tổ chức thực hiện thông tư 18 về kiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn bệnh viện.  
Xây dựng kế hoạch và các biện pháp thực hành chống nhiễcm khuẩn để thông  
qua Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn đề nghị Giám đốc bệnh viện phê duyệt.  
Kiểm tra và hướng dẫn thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn bệnh viện.  
Phối hợp đào tạo nhân viên y tế về NKBV.  
Giám sát NKBV và phản hồi với các khoa như: Tỷ lệ NKBV thông qua các nghiên  
cứu ca hiện mắc hoặc mắc mới trong bệnh viện. Thu thập, phân tích, lưu giữ và báo cáo  
các dữ liệu về tình hình NKBV.  
Chỉ đạo tổ giặt là, sấy hấp và vệ sinh, xử lý chất thải bệnh viện  
Theo dõi và báo cáo tại nạn nghề nghiệp trong nhân viên y tế (nếu bệnh viện có  
Y tế cơ quan, hai đơn vị này cần phối hợp chặt chẽ công tác này).  
Lượng giá hiệu quả hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện theo định  
kỳ.  
6.2.5. Nhiệm vụ của các nhân viên trong mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn tại các  
khoa.  
Theo kinh nghiệm của các nước như Úc, Thái lan.. thường chọn điều dưỡng ở  
các khoa tham gia vào mạng lưới kiểm soát NKBV. ở Việt nam trong giai đoạn hiện  
nay, có lẽ chọn điều dưỡng trưởng khoa sẽ phù hợp hơn vì điều dưỡng trưởng khoa có  
vai trò tổ chức thực hiện thực hành chăm sóc trong đó liên quan rất nhiều đến công tác  
kiểm soát nhiễm khuẩn. Nhiệm vụ gồm:  
Phổ biến các quy định của bệnh viện về thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn.  
Triển khai công tác kiểm soát nhiễm khuẩn của khoa.  
Giám sát và báo cáo các trường hợp NKBV cho khoa kiểm soát nhiễm khuẩn.  
14  
Ban chỉ đạo kiểm soát nhiễm khuẩn  
Bộ y tế  
Ban chỉ đạo kiểm soát nhiễm khuẩn  
Sở y tế  
Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện  
Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn  
MẠNG LƯỚI CHỐNG NHIỄM KHUẨN TẠI CÁC KHOA, PHÒNG  
Chủ tịch hội đồng  
(Lãnh đạo bệnh viện)  
Nhóm thường trực  
- Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn - Khoa Vi sinh  
- P. điều dưỡng  
- Phòng KHTH  
Phòng  
điều  
dưỡng  
Phòng  
KHTH  
Phòng  
HCQT  
Khoa  
Khoa  
Kiểm  
soát  
nhiễm  
khuẩn  
Khoa  
Dược  
Khoa  
HSCC  
Khoa  
Truyền  
nhiễm  
Vi sinh  
Khoa  
ngoại  
Sơ đồ 2.1. Mạng lưới chống nhiễm khuẩn bệnh viện  
15  
BAN LÃNH ĐẠO KHOA  
(Trưởng khoa , Phó khoa , ĐD trưởng)  
Tổ giặt là và  
cung cấp  
Tổ tiệt khuẩn  
và cung cấp  
Tổ ngoại  
Giám sát &  
cảnh và Xử  
lý chất thải  
huấn luyện  
Sơ đồ 2.2. Tổ chức khoa chống nhiễm khuẩn bệnh viện (áp dụng cho bệnh viện  
hạng I và II)  
16  
BÀI 3  
PHÒNG NGỪA CHUẨN TRONG CÁC CƠ SỞ KHÁM, CHỮA BỆNH  
1. PHÂN LOẠI CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÒNG NGỪA  
Hội đồng Tư vấn về Kiểm soát Nhiễm khuẩn và Trung tâm kiểm soát bệnh Hoa  
Kỳ khuyến cáo bốn phương pháp phòng ngừa tác nhân gây bệnh truyền nhiễm trong các  
cơ sở khám, chữa bệnh là:  
- Phòng ngừa chuẩn  
- Phòng ngừa lây truyền qua đường tiếp xúc  
- Phòng ngừa lây truyền qua đường giọt bắn  
- Phòng ngừa lây truyền qua đường không khí  
Ba phương pháp phòng ngừa lây truyền qua đường tiếp xúc, đường giọt bắn và  
qua đường không khí được gọi chung là phòng ngừa bổ sung, nghĩa là ba phương pháp  
phòng ngừa này nhằm bổ sung cho phòng ngừa chuẩn nhưng không thay thế được Phòng  
ngừa chuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh.  
1.1. Phòng ngừa chuẩn  
Phòng ngừa chuẩn là các thực hành nhằm làm giảm sự lây truyền các tác nhân gây  
bệnh qua đường máu, dịch cơ thể, các chất tiết (trừ mồ hôi), từ các nguồn lây bệnh đã  
được hoặc chưa được xác định. Đó là các thực hành cơ bản và tối thiểu được áp dụng  
trong quá trình chăm sóc và điều trị cho mọi người bệnh tại các cơ sở khám, chữa bệnh,  
không phân biệt chẩn đoán và thời điểm chăm sóc.  
Việc áp dụng Phòng ngừa chuẩn trong quá trình chăm sóc cho mỗi người bệnh  
dựa vào bản chất của sự tác động qua lại giữa cán bộ y tế với người bệnh, khả năng phơi  
nhiễm với máu, dịch sinh học và các chất tiết của cơ thể để lựa chọn các phương tiện và  
các thực hành thích hợp.  
Việc tuân thủ các quy định của phòng ngừa chuẩn là chiến lược quan trọng nhất  
để làm giảm nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế cho người bệnh, làm giảm phơi  
nhiễm nghề nghiệp cho nhân viên y tế và bảo đảm cho môi trường chăm sóc y tế an toàn  
cho cả người bệnh, nhân viên y tế và khách đến thăm.  
1.2. Phòng ngừa lây truyền qua đường tiếp xúc  
Truyền bệnh qua tiếp xúc xảy ra khi các tác nhân gây bệnh lây truyền trực tiếp  
từ người bệnh sang người bệnh hoặc từ người bệnh sang nhân viên y tế mà không qua  
các vật trung gian.  
Sự lây truyền xảy ra do sự tiếp xúc giữa da và da. Bệnh lây truyền qua đường này  
hay gặp nhất là Herpes Simplex, chốc, ghẻ, chấy rận, đậu mùa, zona, nhiễm vi sinh vật  
đa kháng như tụ cầu vàng kháng Methiciline (MRSA).  
Những biện pháp phòng ngừa lây truyền bệnh qua tiếp xúc bao gồm: Rửa tay  
thường quy, bố trí người bệnh nằm phòng riêng hoặc cùng phòng với người bệnh nhiễm  
cùng tác nhân gây bệnh, mang găng tay sạch, áo choàng, bao giày trước khi vào phòng  
bệnh và thay ngay trước khi ra khỏi phòng cách ly. Dụng cụ chăm sóc người bệnh nên  
sử dụng riêng cho từng người bệnh, đồng thời xử lý đúng quy định trước khi sử dụng  
cho người bệnh khác.  
17  
1.3. Phòng ngừa lây truyền qua đường giọt bắn  
Phương thức lây bệnh qua giọt bắn khác với phương thức lây bệnh qua đường  
tiếp xúc là ở chỗ tác nhân gây bệnh chứa trong các giọt bắn phát ra khi người bệnh ho,  
hắt hơi, nói chuyện bắn vào kết mạc mắt, niêm mạc mũi, miệng của người tiếp xúc; các  
tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có trong các giọt bắn có thể truyền bệnh từ người sang  
người trong một khoảng cách ngắn (<1 mét). Các giọt bắn có kích thước rất khác nhau,  
thường >5 μm, có khi lên tới 30 μm hoặc lớn hơn. Một số tác nhân gây bệnh qua đường  
giọt bắn cũng có thể truyền qua đường tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gián tiếp.  
Những bệnh lây truyền theo đường này gồm: Ho gà, bạch hầu, hội chứng viêm  
đường hô hấp cấp tính (SARS), cúm A (H5N1), cúm A (H1N1), quai bị, viêm màng  
não...  
Những biện pháp phòng ngừa lây truyền bệnh qua giọt bắn bao gồm: Rửa tay,  
mang khẩu trang, nhất là với những thao tác tiếp xúc gần trong phạm vi 1 mét với người  
bệnh, bố trí người bệnh nằm phòng riêng hoặc cùng phòng với người bệnh nhiễm cùng  
tác nhân gây bệnh, tuân thủ khoảng cách xa tối thiểu 1 mét giữa những người bệnh, hạn  
chế tối đa vận chuyển người bệnh nếu cần phải chuyển thì phải mang khẩu trang cho  
người bệnh.  
1.4. Phòng ngừa lây truyền qua đường không khí  
Lây truyền qua đường không khí xảy ra do các giọt bắn li ti chứa tác nhân gây  
bệnh, có kích thước < 5μm. Các giọt bắn li ti phát sinh ra khi người bệnh ho hay hắt hơi,  
sau đó phát tán vào trong không khí và lưu chuyển đến một khoảng cách xa, trong một  
thời gian dài tùy thuộc vào các yếu tố môi trường.  
Những bệnh có khả năng lây truyền bằng đường không khí như lao phổi, sởi,  
thủy đậu, cúm, SARS khi có làm thủ thuật tạo khí dung ...  
Những biện pháp phòng ngừa qua đường không khí bao gồm: Sắp xếp người bệnh  
nằm phòng cách ly có ít nhất 12 luồng khí trao đổi trong một giờ hoặc tối ưu là phòng có  
áp lực âm. Để đạt được 12 luồng khí trao đổi trong một giờ bằng phương pháp thông khí  
tự nhiên, cần chọn phòng ở cuối chiều gió và mở cửa sổ đối lưu để đạt thông khí tối đa.  
Phòng ngừa qua đường không khí bao gồm việc mang khẩu trang có hiệu lực lọc cao  
(N95); hạn chế vận chuyển người bệnh, chỉ vận chuyển trong những trường hợp hết sức  
cần thiết và người bệnh phải mang khẩu trang khi ra khỏi phòng.  
Chú ý: Trong thực tế, tác nhân gây bệnh thường không được xác định ngay tại  
thời điểm nhập viện nên Phòng ngừa cách ly cần được áp dụng theo kinh nghiệm của  
các cán bộ lâm sàng, căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng để áp dụng biện pháp phòng  
ngừa và sau đó điều chỉnh cho phù hợp khi đã xác định được tác nhân gây bệnh hoặc  
tác nhân gây bệnh đã được loại bỏ. Điểm quan trọng cần chú ý là phải luôn luôn áp dụng  
Phòng ngừa chuẩn cho mọi người bệnh và bổ sung thêm Phòng ngừa theo đường lây  
truyền (tiếp xúc, giọt bắn hay không khí) tùy thuộc vào các triệu chứng bệnh lý.  
2. MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG PHÒNG NGỪA CHUẨN  
2.1. Mục đích phòng ngừa chuẩn  
Phòng ngừa chuẩn nhằm ngăn ngừa các tác nhân lây truyền bệnh qua máu, dịch  
sinh học, các chất tiết của cơ thể (trừ mồ hôi), da tay không nguyên vẹn và niêm mạc.  
2.2. Nguyên tắc áp dụng phòng ngừa chuẩn  
Tất cả máu, dịch sinh học, các chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy  
cơ lây bệnh truyền nhiễm.  
18  
Phòng ngừa chuẩn áp dụng cho tất cả người bệnh trong các cơ sở khám bệnh,  
chữa bệnh, không tùy thuộc vào chẩn đoán và tình trạng nhiễm trùng của người bệnh.  
Phòng ngừa chuẩn là các thực hành cơ bản và tối thiểu được áp dụng mọi lúc,  
mọi nơi trong mọi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.  
Việc áp dụng các biện pháp của Phòng ngừa chuẩn trong quá trình chăm sóc  
người bệnh dựa vào dự đoán của cán bộ y tế về bản chất của sự tác động qua lại giữa cán  
bộ y tế với người bệnh, khả năng phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể và tác nhân gây bệnh,  
để lựa chọn các phương tiện và các thực hành thích hợp . Ví dụ: Trong đa số các trường  
hợp tiêm tĩnh mạch cho người bệnh thì mang găng tay là thực hành thiết yếu nhất; khi đặt  
nội khí quản cho người bệnh thì ngoài việc mang găng phải mang khẩu trang y tế, áo bảo  
hộ và nếu cần phải mang kính bảo hộ hoặc mặt nạ.  
2.3. Máu và các chất tiết của cơ thể có thể truyền tác nhân gây bệnh  
- Tất cả máu và sản phẩm của máu  
- Tất cả các chất tiết nhìn thấy máu  
- Dịch âm đạo, Tinh dịch  
- Dịch màng phổi, màng tim, não tuỷ, màng bụng, màng khớp  
- Nước ối, Sữa mẹ  
Chú ý: Máu và chất tiết, dịch tiết kể trên không chỉ có thể truyền bệnh từ người  
bệnh mà còn có thể truyền bệnh từ môi trường bị vấy máu, dịch tiết, chất tiết.  
2.4. Nội dung phòng ngừa chuẩn  
- Vệ sinh tay: Vệ sinh tay là thành phần cơ bản của Phòng ngừa chuẩn và là biện  
pháp hiệu quả nhất trong nỗ lực kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ  
sở khám, chữa bệnh. Những biện pháp cơ bản để cải thiện vệ sinh tay bao gồm: Cung  
cấp phương tiện rửa tay, đào tạo, giám sát tuân thủ, thông tin phản hồi cho NVYT.  
- Mang trang phục phòng hộ, bao gồm: Găng, khẩu trang, tạp dề; kính, mặt nạ.  
Việc sử dụng các trang phục phòng hộ phải căn cứ vào việc đánh giá nguy cơ và dự  
đoán khả năng và phương thức phơi nhiễm với máu, dịch sinh học của người bệnh mà  
NVYT có thể sử dụng một hoặc nhiều trang phục phòng hộ khi khám, điều trị và chăm  
sóc cho người bệnh.  
- Vệ sinh hô hấp: Áp dụng khi nghi ngờ hoặc xác định có nguy cơ phát tán tác  
nhân gây bệnh qua đường hô hấp như SARS, Cúm A-H5N1, Cúm A-H1N1... Vệ sinh  
hô hấp áp dụng cho nhân viên y tế, người bệnh, người chăm sóc và người đến thăm  
người bệnh trong các cơ sở khám, chữa bệnh và là chìa khóa để ngăn ngừa sự phát tán  
các tác nhân lây bệnh đường hô hấp.  
- Xử lý dụng cụ y tế để dùng lại: Mọi dụng cụ y tế sau khi sử dụng đã nhiễm bẩn  
và nhiễm khuẩn. Nếu sử dụng lại phải phân loại và xử lý theo mục đích sử dụng, thực  
hiện đúng quy trình xử lý dụng cụ từ khâu khử nhiễm, làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn và  
bảo quản đúng cách; dụng cụ tiệt khuẩn phải đảm bảo vô khuẩn đến khi sử dụng cho  
người bệnh. Nhân viên khi tiếp xúc dụng cụ nhiễm khuẩn cần mang trang phục phòng hộ  
cá nhân thích hợp.  
- Tiêm an toàn và xử trí tai nạn rủi ro nghề nghiệp: Được bổ sung thêm vào Phòng  
ngừa chuẩn nhằm giảm nguy cơ nhiễm chéo cho người bệnh và nguy cơ phơi nhiễm  
nghề nghiệp đường máu cho NVYT.  
19  
- Xử lý đồ vải: Xử lý an toàn đồ vải để kiểm soát nguy cơ lây truyền bệnh cho nhân  
viên y tế trong quá trình thu gom, vận chuyển, xử lý và an toàn cho người bệnh sử dụng.  
- Vệ sinh môi trường: Môi trường các cơ sở khám, chữa bệnh, các bề mặt và các  
đồ vật trong các cơ sở y tế là nguồn chứa các tác nhân gây bệnh, nguồn phát tán tác nhân  
gây bệnh truyền nhiễm. Môi trường bệnh viện phải được làm sạch, đảm bảo an toàn cho  
cả người bệnh và nhân viên y tế.  
- Xử lý chất thải rắn y tế: Chất thải rắn y tế là nguồn chứa tác nhân vi sinh vật gây  
bệnh, tác động tiềm tàng đến sức khỏe, ảnh hưởng tới môi trường nước và không khí.  
Đồng thời, rủi ro do vật sắc nhọn là nguy cơ bị nhiễm tác nhân gây bệnh đường máu cho  
nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng. Vì vậy, chất thải rắn y tế phải được thu gom,  
xử lý và tiêu hủy an toàn, đặc biệt quan tâm xử lý an toàn chất thải sắc nhọn sau tiêm.  
3. TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÒNG NGỪA CHUẨN  
3.1. Các bước triển khai  
- Đánh giá thực trạng và năng lực triển khai  
- Lập kế hoạch triển khai  
- Hoàn thiện, ban hành các quy định, quy trình phòng ngừa chuẩn  
- Các hoạt động xây dựng và cải tạo lại cơ sở vật chất, trang thiết bị  
- Mua sắm, cung cấp các phương tiện, hoá chất cần thiết  
- Bố trí và đào tạo nhân lực  
- Tổ chức và triển khai các hoạt động thông tin, truyền thông  
- Triển khai các biện pháp phòng ngừa chuẩn  
- Đánh giá kết quả.  
3.2. Trách nhiệm thực hiện Phòng ngừa chuẩn:  
Điều 4 Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 về Hướng dẫn  
tổ chức, thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa  
bệnh quy định như sau:  
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tuyên truyền, huấn luyện cho thầy thuốc,  
nhân viên y tế, người bệnh, người nhà người bệnh, khách thăm thực hiện các biện pháp  
phòng ngừa cách ly thích hợp.  
2. Nhân viên y tế phải áp dụng các biện pháp Phòng ngừa chuẩn khi tiếp xúc với  
máu, dịch sinh học khi chăm sóc, điều trị với mọi người bệnh không phân biệt bệnh  
được chẩn đoán và áp dụng các dự phòng bổ sung theo đường lây.  
3. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thiết lập hệ thống quản lý, giám sát, phát  
hiện, xử trí và báo cáo tai nạn rủi ro nghề nghiệp ở nhân viên y tế.  
4. Những người bệnh khi nghi ngờ hoặc xác định được căn nguyên gây bệnh  
truyền nhiễm cần áp dụng ngay các biện pháp phòng ngừa cách ly thích hợp theo đúng  
quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.  
5. Thầy thuốc, nhân viên y tế làm việc trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh  
được tiêm phòng vắc xin phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, cúm và  
các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác.  
6. Những người bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng thuốc phải được áp  
dụng biện pháp phòng ngừa cách ly phù hợp với đường lây truyền của bệnh.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 88 trang Thùy Anh 24382 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_kiem_soat_nhiem_khuan_trong_cac_co_so_y_te.pdf