Chính sách kinh tế mới của V.I. Lê-nin với việc vận dụng của đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Văn Gầu
CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V.I. LÊ-NIN
VỚI VIỆC VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
NEW ECONOMIC POLICY OF V.I.LENIN WITH THE APPLICATION
OF THE VIETNAM COMMUNIST PARTY IN THE IMPLEMENTATION
OF THE SOCIALIST-ORIENTED MARKET ECONOMY
VŨ VĂN GẦU
TÓM TẮT: Chính sách kinh tế mới của V.I.Lê-nin được công bố cách đây một thế kỷ, song những
lời dạy của Người vẫn là ánh hào quang soi sáng cho các quốc gia sản xuất tiểu nông bằng con
đường quá độ gián tiếp đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở kế thừa tiền đề lý luận của Chính sách
kinh tế mới, từ thực tiễn đổi mới hơn 30 năm qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo, bổ sung phát
triển lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của V.I.Lê-nin. Nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là chủ trương đúng đắn của Đảng ta, nhờ đó đã
đưa nước ta “từ một nước nhược tiểu, nghèo đói, ngày nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước
có thu nhập trung bình, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao, nhiều thành tựu
về phát triển kinh tế - xã hội được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao” [9, tr.4].
Từ khóa: Chính sách kinh tế mới; Đảng Cộng sản Việt Nam; kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
ABSTRACT: The new economic policy of V.I.Lenin was announced one century ago, but his
teachings are still a light that illuminates the small agricultural producing nations through an
indirect transition to the Socialist. On the basis of inheriting the theoretical premise of the New
Economic Policy, from the practice of innovation over the past 30 years, our Party has applied
creatively and supplemented, developed the theory of the socialist-oriented market economy of
V.I.Lenin. The socialist-oriented market economy in Vietnam is the right policy of our Party,
thereby bringing our country “from a poor, impoverished country, today Vietnam has become a
country with the average income, people's lives are constantly being improved, better, many
achievements in socio-economic development have been recognized and appreciated by the
international community”.
Key words: New economic policy; NEP; Vietnam Communist Party; socialist-oriented market economy.
thần kỳ” đối với bất kỳ quốc gia nào đang
hướng tới các giá trị xã hội chủ nghĩa. Nội
dung của Chính sách kinh tế mới là cốt lõi
trong ý tưởng của V.I.Lê-nin về một con đường
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chính sách kinh tế mới của V.I.Lê-nin
(NEP) được công bố cách đây một thế kỷ,
nhưng tư tưởng cơ bản của nó là “cẩm nang
PGS.TS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
14
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 25, Tháng 01 - 2021
mới nhằm xây dựng xã hội chủ nghĩa trong
hoàn cảnh đặc thù của nước Nga, một nước tiểu
nông, lại bị chiến tranh làm cho kiệt quệ. Tư
tưởng chủ đạo của Chính sách kinh tế mới có ý
nghĩa sâu sắc mà thực chất, đó là việc xây dựng
nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị
trường tiến lên xã hội chủ nghĩa trong suốt một
thời kỳ lịch sử lâu dài, thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản.
Bị thất bại trong cuộc chiến tranh công
khai chống lại chính quyền Xô viết, giai cấp tư
sản thế giới vạch ra những kế hoạch hòng bóp
nghẹt về mặt kinh tế. Trước sự khủng hoảng về
kinh tế và chính trị của nước Nga, V.I.Lê-nin
buộc phải dùng mọi biện pháp để thu mua
lương thực và nguyên liệu công nghiệp nhằm
cứu cách mạng, cứu chính quyền Xô viết. Vì
thế, kế hoạch quá độ lên chủ nghĩa xã hội do
V.I.Lê-nin đề ra mùa xuân năm 1918 bị dừng
lại và thay vào đó là chính sách cộng sản thời
chiến. Khi thực hiện chính sách này, V.I.Lê-nin
nhận thấy tính hai mặt của nó. Về mặt chính trị
nó đã đánh thắng kẻ thù trong và ngoài nước,
giữ vững chính quyền Xô viết, vì vậy nó “có
công”; nhưng về mặt kinh tế, trong việc cải tạo
nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế mới, chính
sách đó là một sai lầm, vì nó “không kết hợp
với kinh tế nông dân”.
Việt Nam từ một nước với nền kinh tế
tiểu nông nhất thiết phải trải qua một thời kỳ
quá độ gián tiếp để đi lên xã hội chủ nghĩa
thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, là mắt
xích trung gian giữa sản xuất nhỏ và xã hội chủ
nghĩa, là phương pháp để phát triển nhanh
chóng lực lượng sản xuất, đồng thời thực hiện
kiểm kê, kiểm soát.
Năm 1986, bước vào thời kỳ đổi mới,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trước hết
là đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới tư duy là trở
về với những nguyên tắc của Chính sách kinh
tế mới mà V.I.Lê-nin đã vạch ra. Thực tiễn
công cuộc đổi mới ở Việt Nam chứng minh
rằng trong thời gian qua, dù phải vượt qua
muôn ngàn khó khăn, kinh tế tăng trưởng, xã
hội ổn định, “tốc độ tăng trưởng GDP đạt trên
7% thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng
cao nhất khu vực và thế giới” [1, tr.3].
Mùa xuân 1921, mùa màng thất bát làm
cho quần chúng lao động thêm điêu đứng, việc
cung cấp lương thực cho công nhân và nhân
dân thành phố đã phải nhiều lần giảm định suất.
Bên cạnh đó, do lãng phí trong xây dựng và sự
gián đoạn trong vận tải đường sắt vì thiếu nhiên
liệu đã xảy ra đình công ở nhiều nhà máy. Số
đông công nhân do đói kém và nhà máy ngừng
sản xuất đã ùn ùn kéo về nông thôn gây nên
nạn đầu cơ lương thực. Chính quyền Xô viết
đứng trước nguy cơ về kinh tế và chính trị
nghiêm trọng chưa từng có. Tháng 3-1921 đã
xảy ra cuộc bạo động của thủy thủ và nông dân
ở Crônxtát (Kronstadt).
2. NỘI DUNG
2.1. Bối cảnh ra đời và tính tất yếu của
Chính sách kinh tế mới của V.I.Lê-nin
Chiến tranh thế giới 1914-1918 và nội
chiến diễn ra 1918-1921 làm cho 3/4 lãnh thổ
của nước Cộng hòa Xô viết, những vùng sản
xuất lương thực và sản xuất nguyên liệu quan
trọng bị bọn đế quốc và bọn phản loạn chiếm
đóng nên việc cung cấp lương thực cực kỳ khó
khăn. Đất nước lâm vào cảnh đói kém, nạn
thiếu nhiên liệu trầm trọng, đa số xí nghiệp
nằm không, nhiều tuyến đường ngưng hoạt
động. Tình hình kinh tế vô cùng gay go làm
cho tình hình chính trị trở nên rất phức tạp.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, trong điều
kiện lúc đó, nước Nga không thể ưu tiên phát
triển đại công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp
nặng. V.I.Lê-nin đã nhấn mạnh rằng, “vấn đề cấp
thiết hiện nay là dùng những biện pháp có thể để
phục hồi ngay những lực lượng sản xuất của kinh
tế nông dân. Chỉ có bằng con đường ấy chúng ta
mới có thể cải thiện được đời sống của công
nhân, muốn cải thiện đời sống của công nhân thì
15
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Văn Gầu
phải có bánh mì và nhiên liệu, nhằm tăng cường
được liên minh công nông” [6, tr.262-263].
Nội dung chủ yếu của Chính sách kinh tế
mới là xây dựng khối liên minh chặt chẽ giữa
giai cấp công nhân và nông dân, cần phải đảm
bảo sự liên minh công nông vững chắc về kinh
tế, liên minh kinh tế giữa thành thị và nông
thôn, coi đó là nguyên tắc tối cao của chính
quyền vô sản, là cơ sở của chính quyền Xô viết,
là điều kiện quan trọng nhất để xây dựng chủ
nghĩa xã hội thắng lợi [6].
Trong tác phẩm bàn về thuế lương thực,
V.I.Lê-nin đã luận chứng một cách đầy đủ về
những căn cứ và tính tất yếu phải thực hiện
chính sách kinh tế mới, Người chỉ rõ rằng:
“nông dân rất không hài lòng về chế độ trưng
thu lương thực trong thời kỳ cộng sản thời chiến,
họ không muốn tiếp tục sống theo kiểu cũ nữa,
cần phải suy nghĩ lại chính sách đối với người
nông dân. Người nói, muốn cải tạo tiểu nông cần
phải khôi phục và phát triển đại công nghiệp,
cần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nhưng
trước mắt khi mà công nghiệp bị phá hoại
nghiêm trọng cần phải có hàng chục năm để
cung cấp số lượng lớn máy kéo cho nông nghiệp
và thực hiện điện khí hóa. Vì vậy, chúng ta cần
phải chung sống lâu dài với tiểu nông, cần phải
làm bạn nhiều năm với tiểu nông” [6, tr.31-32].
Với năng lực tư duy biện chứng và trên cơ
sở tổng kết thực tiễn của nước Nga lúc đó,
V.I.Lê-nin không chỉ nhận thức lại chính sách
đối với tiểu nông và tìm ra một hình thức liên
minh với tiểu nông, mà còn phải thay đổi căn
bản suy nghĩ về cơ sở của chính sách kinh tế,
về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thích
ứng với một đất nước mà kinh tế tiểu nông
chiếm ưu thế. Những điều kiện để thay đổi
chính sách thời chiến, thực hiện chính sách
kinh tế mới đã chín muồi và trở thành tất yếu.
Ông khẳng định, đưa chính sách kinh tế mới để
xây dựng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội đó
là nhiệm vụ của những người cộng sản Xô viết
“chúng ta đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống
hàng ngày. Đó là nhiệm vụ lúc này, đó là nhiệm
vụ của thời đại chúng ta... từ một nước Nga của
chính sách kinh tế mới sẽ nảy sinh ra nước Nga
xã hội chủ nghĩa” [8, tr.357-358]. Chính sách
kinh tế mới được V.I.Lênin tuyên bố chính thức
tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga (từ ngày 8 đến
16 tháng 3 năm 1921).
Nội dung này mang tính chiến lược của
Chính sách kinh tế mới. Khi xác định phương
pháp và phương thức cụ thể trong chính sách
kinh tế của chuyên chính vô sản, V.I.Lê-nin chỉ
rõ rằng, “Chính sách kinh tế mới là sự tiếp tục
và phát triển kế hoạch đã xây dựng những cơ sở
của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã được vạch
ra vào mùa xuân năm 1918. Chú ý hoàn cảnh
đặc biệt năm 1921, V.I.Lê-nin đã nghiên cứu
một cách tối đa về lợi dụng kinh tế thị trường và
thương nghiệp. Những hình thức liên hệ giữa
công nghiệp và nông nghiệp đã được xác định
dần dần trên cơ sở kinh nghiệm” [6].
Theo đó, V.I.Lê-nin chỉ ra nội dung có ý
nghĩa sách lược của Chính sách kinh tế mới đó là:
1) thay trưng thu lương thực thừa bằng thuế
lương thực để cải thiện đời sống cho người
nông dân, nâng cao lực lượng sản xuất của họ
và qua đó thiết lập liên minh công nông vững
chắc; 2) cho phép trao đổi hàng hóa, tự do buôn
bán, kinh doanh với tư cách là “đòn xeo chủ
yếu của NEP” [6, tr.400], chiếm vị trí hàng đầu
và là cái hết sức cần thiết để kiến lập sự liên
minh kinh tế vững chắc giữa giai cấp vô sản và
giai cấp nông dân; 3) sử dụng chủ nghĩa tư bản
nhà nước dưới hình thức tô nhượng, hợp tác xã
không chỉ với tư cách một biện pháp “quá độ
đặc biệt”; “một mắt khâu trung gian” để quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, mà còn với tư cách là
“chiếc cầu nhỏ vững chắc” mà giai cấp vô sản
cần phải bắc qua để “xuyên qua chủ nghĩa tư
bản Nhà nước” đi vào xã hội chủ nghĩa và đảm
bảo cho chủ nghĩa xã hội được cũng cố”.
2.2. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của Chính
sách kinh tế mới
16
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 25, Tháng 01 - 2021
Chính sách kinh tế mới ra đời không chỉ
có ý nghĩa thời sự mà nó còn có ý nghĩa quốc
tế. “Ngày nay khi ta càng có nhiều dân tộc với
những điều kiện xuất phát khác nhau, lựa chọn
con đường xã hội chủ nghĩa, thì việc nghiên
cứu chính sách kinh tế mới với ý nghĩa là chiến
lược xây dựng chủ nghĩa xã hội càng có ý
nghĩa thời sự và tầm quan trọng đặc biệt. Vì
vậy, cần phải phân tích những vấn đề có ý
nghĩa chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội mà
Chính sách kinh tế mới đã đặt ra” [5, tr.66].
Chính sách kinh tế mới về thực chất nó
chứa đựng những tư tưởng cơ bản, nội dung
chủ yếu của một đường lối phát triển kinh tế -
xã hội của thời kỳ quá độ gián tiếp lên chủ
nghĩa xã hội. Chính sách kinh tế mới không chỉ
có ý nghĩa quốc tế trong bối cảnh của công
cuộc đổi mới xã hội chủ nghĩa hiện nay mà còn
là bài học kinh nghiệm bổ ích cho các nước
đang trong quá trình thực hiện bước quá độ
gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế
tiểu nông. V.I.Lê-nin đã khẳng định rằng: “Con
đường của chúng ta là con đường đúng, vì đó
là con đường mà sớm hay muộn các nước khác
nhất định cũng sẽ đi theo” [7, tr.383].
Chính sách kinh tế mới của V.I.Lê-nin - đây là
một trong những nguyên nhân làm cho họ sụp
đổ. Trong quá trình đổi mới Đảng Cộng sản
Việt Nam đã khẳng định “Phải vận dụng sáng
tạo và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-
nin và và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư
tưởng của V.I.Lê-nin về Chính sách kinh tế
mới, về chủ nghĩa tư bản nhà nước, sáng tạo
nhiều hình thức quá độ, những nấc thang trung
gian đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ
thể để đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội một
cách vững chắc” [2, tr.24].
Vận dụng Chính sách kinh tế mới không
phải trên câu chữ, mà ở chiều sâu của tư duy lý
luận triết học - kinh tế của ông, áp dụng không
theo lối sao chép y nguyên mà là trên tinh thần,
ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của Chính sách
kinh tế mới để từ đó, tự suy nghĩ về những giải
pháp cụ thể cho mỗi giai đoạn, mỗi bước đi phù
hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể trong từng giai
đoạn, từng bước đi ấy.
Cơ sở lý luận của Chính sách kinh tế mới
cho sự vận dụng sáng tạo kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bước
đột phá mở đầu ở Hội nghị Trung ương 6 khóa
IV đã đánh dấu một chủ trương mới “bằng mọi
cách cho sản xuất bung ra”. Từ chủ trương này
để khuyến khích sản xuất, sản phẩm dư thừa
sau khi ổn định nghĩa vụ lương thực được tự do
lưu thông hoặc bán cho nhà nước. Sửa lại thuế
lương thực và giá lương thực, bãi bỏ phân phối
theo định xuất, dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một
giá, xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá
thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất - kinh
doanh sang cơ chế hoạch toán kinh doanh xã
hội chủ nghĩa, lấy nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu trong bố trí cơ cấu kinh tế theo tư tưởng
của V.I.Lê-nin ở nước tiểu nông thì chủ thể
phải là người nông dân, phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.
2.3. Sự vận dụng tư tưởng của Chính sách
kinh tế mới ở Việt Nam
Nền kinh tế nước ta trước đổi mới do duy
trì quá lâu mô hình cơ chế cũ với tập trung
quan liêu và bình quân bao cấp “như các nước
chủ xã hội chủ nghĩa khác” nên đã rơi vào trạng
thái trì trệ từ lâu, không phát triển, thậm chí suy
thoái. Kinh tế sa sút, đời sống nhân dân lao
động khó khăn, cuộc khủng hoảng ở nước ta đã
không dừng lại ở địa hạt kinh tế nữa mà mang
tính chất khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Khi Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh
tế - xã hội thì Liên Xô, các nước xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu cũng lâm vào tình cảnh tương
tự, cả hệ thống xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải
đổi mới để tồn tại và phát triển. Liên Xô và các
nước Đông Âu đã không đứng vững trên lập
trường của chủ nghĩa Mác, không thực hiện
Phân tích thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước Nga tiểu nông, V.I.Lê-nin chỉ ra
17
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Văn Gầu
tính chất nhiều thành phần kinh tế: 1) kinh tế
nông dân kiểu gia trưởng; 2) sản xuất hàng hóa
nhỏ trong đó đại đa số người dân bán lúa mì; 3)
chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4) chủ nghĩa tư bản
nhà nước; 5) chủ nghĩa xã hội. Khi phân tích
cần chú ý không phải để xác định kinh tế quá
độ có bao nhiêu thành phần, mà là phải xác
định được mối quan hệ giữa các thành phần đó
và phân tích xu hướng phát triển của chúng để
trên cơ sở ấy, định vị xem trong những thành
phần kinh tế đó thì thành phần kinh tế nào
chiếm ưu thế. Người kết luận, trong một nước
tiểu nông thì thành phần kinh tế sản xuất hàng
hóa nhỏ của người nông dân chiếm ưu thế, phải
giải phóng lực lượng sản xuất cho người nông
dân, phát triển nền kinh tế nông dân, đồng thời
phải xem xét mối quan hệ giữa các thành phần
kinh tế đó để tìm ra các biện pháp xử lý đúng
đắn mối quan hệ đan xen giữa chúng, xác định
con đường chuyển nền kinh tế nhiều thành
phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
gian nào đó) của chủ nghĩa tư bản vào con
đường chủ nghĩa tư bản nhà nước sang chủ
nghĩa xã hội trong một tương lai gần” [6, tr.268].
“Chính quyền Xô viết dùng để hướng bước
phát triển của chủ nghĩa tư bản vào con đường
chủ nghĩa tư bản nhà nước và cách mà chính
quyền Xô viết “du nhập” chủ nghĩa tư bản nhà
nước, là chế độ “tô nhượng”. Tô nhượng đó là
một giao kèo, một sự liên kết, một liên minh
giữa chính quyền Xô viết, nghĩa là nhà nước Xô
viết, với tư bản nhà nước, chống lại thế lực tự
phát tiểu tư hữu (có tính chất gia trưởng, tiểu
tư sản). Người nhận tô nhượng là những nhà tư
bản họ kinh doanh theo phương thức tư bản để
lấy lợi nhuận, chính quyền Xô viết cũng có ích:
Lực lượng sản xuất phát triển” [6, tr.269].
Như vậy, việc thực hiện chủ nghĩa tư bản
nhà nước không nguy hiểm vì chính quyền vô
sản vẫn nắm trong tay công nhân và nông dân,
cho nhà tư bản thuê một phần tài sản của nhà
nước theo một hợp đồng và trong một thời gian
nhất định, nhưng không trở thành người sở hữu
được. Quyền sở hữu vẫn là của nhà nước Xô
viết, chính quyền Xô viết theo dõi sao cho
người tư bản đi thuê tôn trọng hợp đồng, sao
cho hợp đồng có lợi cho chúng ta, sao cho tình
cảnh công nhân và nông dân được cải thiện.
Đây chính là cơ sở lý luận để thực hiện nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
Từ sự phân tích ấy, V.I.Lê-nin đã chỉ ra “ở
đây không phải là chủ nghĩa tư bản nhà nước
đấu tranh với chủ nghĩa xã hội mà là giai cấp
tiểu tư sản cộng với chủ nghĩa tư bản tư nhân
cùng nhau chống lại cả chủ nghĩa tư bản nhà
nước lẫn chủ nghĩa xã hội. Giai cấp tiểu tư sản
chống lại bất cứ sự can thiệp kiểm kê và kiểm
soát nào của nhà nước, dù là chủ nghĩa tư bản
nhà nước hay chủ nghĩa xã hội nhà nước” [6,
tr.249].
Từ lý luận của V.I.Lê-nin “về kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là kim chỉ
nam cho thực tiễn đổi mới ở Việt Nam, 34 năm
qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển lý
luận ấy trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập quốc tế.
Sự vận dụng sáng tạo lý luận kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng
sản Việt Nam là một quá trình nhận thức. Đại
hội VI, Đảng ta mới chỉ ra đổi mới toàn diện,
trên cơ sở phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần với những hình thức kinh doanh phù hợp.
Tới Đại hội VII cho rằng, nền kinh tế vận động
“Chủ nghĩa tư bản nhà nước không có gì
là đáng sợ đối với chính quyền Xô viết, vì nước
Xô viết là một nước mà trong đó chính quyền
của công nhân và nông dân nghèo được bảo
đảm” [6, tr.252]. Theo đó, V.I.Lê-nin kết luận
“có thể kết hợp, liên hợp, phối hợp nhà nước
Xô viết, chuyên chính vô sản với chủ nghĩa tư
bản nhà nước” [6, tr.268].
Để giải quyết mối quan hệ này chúng ta
phải “tìm ra những phương pháp đúng giúp
chúng ta hướng sự phát triển, không thể tránh
được (đến một trình độ nào đó và trong một thời
18
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 25, Tháng 01 - 2021
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và
các công cụ khác. Sau 10 năm đổi mới, Đại hội
VIII xác định rõ: “Phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa” [3, tr.82].
lực, nguồn lực con người trong sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Theo tư tưởng biện chứng của V.I.Lê-nin
về mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị, chính
trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Đảng ta đã
đưa ra đổi mới hệ thống kinh tế, đồng thời đổi
mới hệ thống chính trị trong định hướng xã hội
chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta
đó chính là động lực thúc đẩy tăng trưởng và
phát triển kinh tế, kinh tế tăng trưởng làm cho
xã hội nước ta ổn định, kinh tế phát triển nhưng
không làm yếu đi vai trò của định hướng chính
trị trong phát triển, bởi vì, sức mạnh của những
sự kiểm soát, giám sát, điều chỉnh theo chức
năng quản lý, đặc biệt của nhà nước, của pháp
luật xã hội chủ nghĩa. Trong tác phẩm Bút ký
Triết học, V.I.Lê-nin đã luận chứng sâu sắc mối
quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng,
giữa tính thống nhất và đa dạng, và căn cứ vào
nhận thức đúng đắn để khảo sát những vấn đề
xã hội hiện thực để thực hiện một cách biện
chứng con đường phát triển quá độ trực tiếp
tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tới Đại hội IX (tháng 4-2001), mới dùng
cụm từ nền “kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa”. Tại Đại hội này, Đảng ta đã
phát triển bổ sung thêm lý luận kinh tế định
hướng xã hội chủ nghĩa của V.I.Lê-nin. Trước
hết, đưa ra khái niệm định hướng xã hội chủ
nghĩa được xem là chỗ để phân biệt “đổi mới”
với “đổi màu” (đổi mới nghĩa là không làm
chệch hướng, không từ bỏ chủ nghĩa xã hội và
rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản). Định
hướng xã hội chủ nghĩa nói lên tính kiên định,
nhất quán với mục tiêu lý tưởng xã hội chủ
nghĩa, quan điểm và thái độ chính trị của Đảng
ta là kiên trì sự lựa chọn con đường xã hội chủ
nghĩa đối với sự phát triển của nước ta, khẳng
định rõ ràng đổi mới không phải là thay đổi chế
độ chính trị mà trái lại làm cho chế độ đó vững
mạnh hơn, xây dựng xã hội chủ nghĩa đúng đắn
và có hiệu quả hơn. Trên cơ sở các nguyên tắc
sau: 1) Định hướng xã hội chủ nghĩa là luôn
luôn giữ vững hệ tư tưởng Mác – Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh; 2) Định hướng nhằm phát
huy sức mạnh của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động, phát huy vai trò làm chủ của họ,
đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế - xã
hội của nhà nước; 3) Đảm bảo giữ vững và tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề hệ
trọng, quyết định nhất để đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, bất luận trong hoàn
cảnh nào, nhất là nền kinh tế thị trường, mở
cửa, hội nhập. Định hướng xã hội chủ nghĩa
không chỉ là định hướng phát triển kinh tế,
chính trị trong đổi mới mà còn là định hướng
phát triển văn hóa, gồm giáo dục - đào tạo,
khoa học - công nghệ, phát huy nguồn nhân
Tại Đại hội IX, một nhận thức mới của
Đảng ta đã đưa ra quan điểm chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần
phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc,
giữ vững an ninh quốc gia, gìn giữ bản sắc dân
tộc, bảo vệ môi trường... Cần phải hiểu đúng
đắn quan điểm của Đảng về nền kinh tế độc lập
tự chủ rằng, nó không phải là nền kinh tế khép
kín, càng không phải là nền kinh tế được bảo hộ
tràn lan, mà đó là nền kinh tế mở và hội nhập.
Sự lựa chọn kinh tế thị trường ở Việt Nam
là kết quả của công cuộc đổi mới tư duy bắt
đầu từ tư duy kinh tế được Đảng ta thông qua
tháng 12-1986. Sự lựa chọn này có cơ sở lý
luận từ Chính sách kinh tế mới của V.I.Lê-nin,
từ đó Đảng ta nhận thức đúng đắn về tính chất
của kinh tế thị trường, nó là sản phẩm của văn
minh nhân loại, có thể tồn tại và thích ứng với
19
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Văn Gầu
nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau; nó
được phát triển với trình độ cao dưới chủ nghĩa
tư bản song không đồng nhất với chủ nghĩa tư
bản và cũng không đối lập với chủ nghĩa xã
hội. Dù không phải là một cơ chế hoàn hảo,
song kinh tế thị trường vẫn chứng tỏ là một cơ
chế thúc đẩy sự sáng tạo, huy động, phân bổ
nguồn lực hợp lý và phát triển toàn diện nền
kinh tế. Song tự thân kinh tế thị trường không
đưa đến chủ nghĩa xã hội, muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội thành công chúng ta phải có Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật và phải học tập các chuyên gia tư bản tư
sản về khoa học, quản lý kinh tế, theo chỉ dẫn
của V.I.Lê-nin “chúng ta có thể và phải học
nhiều hơn nữa ở bọn tư bản” [6, tr.280]. Vai trò
đổi mới tư duy trong việc thực hiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng
đóng vai trò quyết định cho sự thành công xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
“mở”, hiện đại vận hành theo quy luật của thị
trường. Thị trường phân bổ nguồn lực, nhà
nước quản lý bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
là một mô hình kinh tế hoàn toàn mới, chưa có
tiền lệ trong lịch sử. Do vậy, phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một
quá trình hoàn thiện, đổi mới sáng tạo không
ngừng. Đảng ta lãnh đạo hướng tới nền kinh tế
thị trường hiện đại chính là nấc thang cao trong
lịch sử phát triển kinh tế thị trường, nền kinh tế
ấy ngoài những đặc trưng chung mang tính phổ
quát của kinh tế thị trường tự do trước đây nó
còn có những đặc trưng riêng được Đảng ta xác
định một số đặc trưng của kinh tế thị trường
hiện đại, đây chính là sự sáng tạo về mặt lý
luận của Đảng về kinh tế thị trường hiện đại: 1)
Nền kinh tế thị trường hiện đại dựa nền tảng sở
hữu hỗn hợp của các chủ thể thị trường; 2) Nền
kinh tế thị trường hiện đại, dựa trên những
thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại và
kinh tế tri thức; 3) Nền kinh tế thị trường hiện
đại, có cơ cấu hợp lý; 4) Nền kinh tế thị trường
hiện đại dựa trên nguồn nhân lực chất lượng
cao; 5) Nền kinh tế thị trường hiện đại dựa trên
hệ thống an sinh xã hội và một hệ thống phúc lợi
vì mục tiêu phát triển con người toàn diện.
Quan điểm này từng bước được Đảng ta
cụ thể hóa, có nhiều điều chỉnh cho phù hợp
với thực tiễn phát triển của đất nước qua mỗi
giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa. Không
chỉ dừng lại ở việc phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung, mà
được cụ thể hóa nó ở Đại hội XII (2016) “nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ,
đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị
trường, đồng thời đảm bảo định hướng xã hội
chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát
triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường
hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh” [4, tr.102].
Nhờ có đường lối đúng đắn thực hiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của
Đảng mà nền kinh tế nước ta tăng trưởng, xã
hội ổn định. Đúng như đồng chí Nguyễn Phú
Trọng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhận
định rằng: “Chín mươi năm qua dưới sự lãnh
đạo của Đảng, thế và lực của nước ta được tăng
cường, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam
là một quốc gia kinh tế - văn hóa phát triển,
chính trị - xã hội ổn định, có nhiều triển vọng
tốt.... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to
lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay” [9, tr.4].
Đảng ta đã xác định kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một bộ
phận của nền kinh tế thế giới, đó là nền kinh tế
20
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 25, Tháng 01 - 2021
xuất hàng hóa nhỏ không có cách nào khác là
thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước để đi đến
chủ nghĩa xã hội như là một tính quy luật.
Chính sách kinh tế mới vẫn còn nguyên giá trị
lý luận và thực tiễn cấp thiết. Nó vẫn là ánh
sáng soi đường cho Đảng ta trong quá trình
hoàn thiện việc nhận thức và thực hiện nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tới
đây để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn.
3. KẾT LUẬN
Tư tưởng về Chính sách kinh tế mới của
V.I.Lê-nin, đánh dấu sự hoàn thành và xác lập
lý luận của ông về xây dựng cơ sở kinh tế của
chủ nghĩa xã hội thông qua Chính sách kinh tế
mới. V.I.Lê-nin đã tìm thấy con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với nước
Nga, phát triển thêm lý luận của C.Mác về chủ
nghĩa xã hội. Một thế kỷ đã trôi qua, nhưng di
huấn của V.I.Lê-nin về con đường quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội từ một nước tiểu nông, sản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo Nhân dân (2020), Phát huy mọi nguồn lực, xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”,
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trả lời phỏng vấn, Nhân dân Xuân Canh Tý (1).
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa
VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự
thật, Hà Nội.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[5] Trần Ngọc Hiên (1989), Chính sách kinh tế mới của V.I.Lê-nin và sự vận dụng vào điều kiện ở
nước ta, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[6] V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
[7] V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
[8] V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
[9] Thông tấn xã Việt Nam (2020), Khát vọng vì một Việt Nam cường thịnh, Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Nguyễn Phú Trọng trả lời phỏng vấn, Báo Tuần tin tức (14)
Ngày nhận bài: 23-12-2020. Ngày biên tập xong: 02-01-2021. Duyệt đăng: 22-01-2021
21
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách kinh tế mới của V.I. Lê-nin với việc vận dụng của đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chinh_sach_kinh_te_moi_cua_v_i_le_nin_voi_viec_van_dung_cua.pdf

