Giáo trình Dịch tễ. Sức khỏe môi trường

GIỚI THIỆU HỌC PHẦN  
DỊCH TỄ - SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG  
Đối tượng: Cao đẳng Điều dưỡng  
- Số tín chỉ:  
- Phân bổ thời gian:  
+ Lý thuyết:  
02 (02/00)  
28 tiết (02 tiết/ tuần)  
02 tiết  
+ Kiểm tra:  
+ Tꢀ hꢁc:  
60 giꢂ  
- Điều kiện tiên quyết: Sinh viên đã học xong học phần dược lý , điều dưỡng cơ sở.  
- Thời điểm thực hiện:  
Học kỳ IV  
MỤC TIÊU CỦA HỌC PHẦN:  
1. Trình bày được những kiến thức cơ bản về những nội dung và nguyên tắc chính  
của dịch tễ học và ứng dụng được những nguyên tắc này trong công tác phòng chống  
dịch bệnh bảo vệ sức khỏe nhân dân.  
2. Trình bày và phân tích được nguyên tắc điều tra và Giám sát một vụ dịch, hình  
thành thái độ đúng đắn, khẩn trương, nghiêm túc đối với công tác phòng chống dịch.  
3. Nhận thức được vai trò của dịch tễ học trong công tác phòng chống dịch bệnh  
bảo vệ sức khỏe nhân dân và có thái độ đúng đắn, khẩn trương, nghiêm túc đối với  
công tác phòng chống dịch.  
4. Nhận thức được vai trò của môi trường đối với sức khỏe và bệnh tật của con  
người, từ đó lựa chọn ra những nội dung, phương pháp Giáo dục sức khỏe làm thay đổi  
hành vi sức khỏe của cá nhân, cộng đồng.  
5. Nhận thức được trách nhiệm giáo dục cộng đồng về vệ sinh môi trường, tiếp  
cận trao quyền sức khỏe cho cộng đồng.  
NỘI DUNG HỌC PHẦN  
STT  
Tên bài  
Trang số  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Đại cương dịch tễ học  
Quá trình dịch  
Điều tra, xử lý dịch  
Giám sát dịch tễ học  
Đo lường trong dịch tễ học  
Dịch tễ học nhiễm trùng  
Đại cương dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm  
Đại cương về sức khỏe môi trường  
Những chất thải độc hại và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe  
3
15  
24  
32  
39  
43  
49  
57  
66  
1
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
Ô nhiễm đất  
Ô nhiễm nước  
72  
77  
81  
85  
92  
Ô nhiễm môi trường không khí  
Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp  
Nhiễm độc nghề nghiệp và biện pháp dự phòng  
Các tác hại nghề nghiệp do yếu tố sinh học  
Vệ sinh bệnh viện  
98  
102  
106  
111  
Tai nạn lao động và các biện pháp phòng hộ tai nạn lao động  
Tổng  
ĐÁNH GIÁ:  
- Hình thức thi: Tự luận + Vấn đáp  
- Thang điểm:10  
+ Điểm thường xuyên: 2 bài kiểm tra tự luận, hệ số 1  
+ Điểm kiểm tra định kỳ: 01 bài kiểm tra tự luận, hệ số 2  
+ Điểm thi kết thúc học phần: Thi tự luận + vấn đáp trọng số 70%  
Cách tính điểm:  
(Điểm thường xuyên + (Điểm KT thường xuyên x 2)/3) x 30% + Điểm thi kết  
thúc học phần x 70%.  
2
Bài 1  
ĐẠI CƯƠNG DỊCH TỄ HỌC  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được định nghĩa, mục tiêu, đối tượng, nội dung nhiệm vụ dịch tễ  
học.  
2. Giải thích được một số nguyên lý, quan điểm ,thuật ngữ thường dùng trong  
dịch tễ học.  
NỘI DUNG  
1. Định nghĩa dịch tễ học  
Trong quá trình phát triển, đã có nhiều định nghĩa về môn dịch tễ học, mỗi định  
nghĩa đều đánh dấu một bước phát triển ở thời kỳ đó. Gần đây, các nhà dịch tễ học đã  
đưa ra một định nghĩa như sau:  
Dịch tễ học là một khoa học nghiên cứu sự phân bố một tần số mắc hoặc chết đối  
với một các bệnh trạng cùng với những yếu tố quy định sự phân bố của các yếu tố đó.  
Trong định nghĩa này, chúng ta cần chú ý tới hai thành phần có quan hệ chặt chẽ  
với nhau đó là:  
- Sự phân bố tần số  
- Các yếu tố quy định sự phân bố đó.  
Sự phân bố các tần số mắc và tần số chết đối với một bệnh trạng nhất định được  
nhìn dưới ba góc độ của dịch tễ học: con người, không gian, thời gian, để trả lời được  
câu hỏi là một bệnh trạng nào đó được phân bố như thế nào? Nghĩa là phải trả lời rõ là  
có làm mắc hay không làm mắc, mắc nhiều hay ít, những ai mắc (tuổi nào, nghề nghiệp  
nào, dân tộc nào, nam giới hay nữ giới…chúng ta phải nhận thức được rằng trong rất  
nhiều bệnh, do hành vi lối sống giữa nam giới và nữ giới có sự khác biệt rõ ràng. Ví dụ:  
Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở nam giới là 85% trong khi tỷ lệ này ở nữ giới chiếm 15%. Sự  
khác biệt này do rất nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân rất quan trọng là tỷ lệ  
nam giới tiêm chích ma tuý cao hơn nữ giới mà đường lây truyền HIV/AIDS ở Việt  
Nam chủ yếu theo con đường này), ở đâu, (vùng địa lý nào, nước nào…) vào thời gian  
nào (trước kia, hiện nay, vào những năm tháng nào…).  
Các yếu tố qui định sự phân bố các bệnh trạng bao gồm mọi yếu tố nội và ngoại  
sinh được nhiều lĩnh vực, bào chất khác nhau có ảnh hưởng đến sự mất cân bằng đối với  
một cơ thể, khiến cơ thể đó không duy trì được tình trạng sức khoẻ được nữa. Nghiên  
cứu những yếu tố qui định sự phân bố tần số bệnh trạng đó để xem tại sao có sự phân  
bố bệnh trạng như vậy từ đó mới có thể giải thích được các yếu tố nguyên nhân và yếu  
tố nguy cơ hoặc các yếu tố phòng ngừa đối với từng bệnh trạng nhất định.  
3
Cả hai thành phần của định nghĩa này đều có liên quan chặt chẽ đến tần số mắc  
và tần số chết. Nói khác đi là phải định lượng được các hiện tượng sức khoẻ đó dưới các  
dạng số tuyệt đối, số đếm chính xác và dưới các dạng tỷ số để có thể đem so sánh được.  
Sự hiểu biết và nắm vững hai thành phần liên quan chặt chẽ với nhau đó trong  
định nghĩa dịch tễ học là một bước phát triển rất lớn và rất quan trọng trong quá trình  
lập luận dịch tễ học. Quá trình lập luận dịch tễ học thường được bắt đầu bằng sự nghi  
ngờ về những ảnh hưởng có thể có của một phơi nhiễm đặc thù nào đó đan xen sự xuất  
hiện, duy trì diễn biến, suy tàn của một bệnh trạng nhất định. Sự nghi ngờ này có thể  
nảy sinh với những thực hành lâm sàng, xét nghiệm, những báo cáo thu thập tình hình  
các bệnh trạng, từ những nghiên cứu mô tả dịch tễ học các bệnh trạng để phác thảo nên  
những giả thiết về sự liên quan giữa một phơi nhiễm đối với một bệnh trạng: Giả thiết  
về một quan hệ nhân quả. Giả thiết quan hệ nhân quả này sẽ được kiểm định bằng các  
nghiên cứu dịch tễ học trên quần thể với một nghiên cứu và một nhóm đối chứng để so  
sánh một cách hợp lý, để xác định xem có một kết hợp thống kê không bao hàm cả việc  
loại trừ các yếu tố sai số hệ thống, loại trừ các may rủi và nhiều. Sau đó tiến hành một  
luận cứ xem kết hợp thống kê đó có hoặc không có biểu thị một kết hợp nhân quả giữa  
một phơi nhiễm và bệnh.  
2. Lịch sử phát triển của Dịch tễ học  
Dịch tễ học dựa trên cơ sở một quan niệm bao trùm là mọi bệnh trạng của con  
người không thể tự nó xuất hiện ngẫu nhiên được. Mà tất cả các bệnh trạng đều có những  
yếu tố qui định nhất định. Những yếu tố này đều có thể xác định được nhờ những tìm  
tòi nghiên cứu một cách hệ thống cơ bản rộng lớn, kiên trì với những phương pháp dịch  
tễ học.  
Dịch tễ học là một môn hoa học rất cổ. Từ đầu thế kỷ thứ tư trước công nguyên,  
trong sách của mình. Hyppocrate đã xác định rằng điều tra y học thích hợp cần phải  
quan tâm tới các mùa trong năm, nguồn nước, phương hướng cửa nhà trong thành phố,  
các tục lệ địa phương và các nghề nghiệp của cư dân trong nghiên cứu. Hyppocrate đã  
chỉ ra rằng sự phát triển bệnh tật của con người có thể liên quan đến các yếu tố môi  
trường bên ngoài. Có thể nói Hyppocrate là người đặt nền móng cho môn học này.  
Nhưng vào thời kỳ đó và một thời gian dài tiếp theo, dịch tễ học phát triển rất chậm.  
Để đi tới được quan niệm như hiện nay, lịch sử phát triển của dịch tễ học trải qua  
nhiều thời kỳ, nổi bật nhất là ba cột mốc đánh dấu những bước phát triển đặc biệt góp  
phần hình thành cơ sở phát triển dịch tễ học hiện đại: John Graunt, William farr và John  
Snow.  
John Graunt là một nhà tiên phong trong lĩnh vực dịch tễ học, ông là người đầu  
tiên đã định lượng các hiện tượng sức khoẻ và bắt đầu chú ý rằng tần số đó khác nhau ở  
lứa tuổi khác nhau, giới tính khác nhau. Năm 1662, ông đã phân tích số sinh, tử ở Luân  
Đôn và thấy rằng cả sinh và tử ở nam giới đều cao hơn nữ giới. Tỷ lệ chết ở trẻ em cao  
hơn tất cả các lứa tuổi khác. Tác phẩm “Những quan sát tự nhiên và chính trị” của ông  
được phát hành năm 1692 là một trường hợp điển hình nói lên sự cấp thiết của thống kê  
sinh tử một cách chính xác để cung cấp số liệu cho nghiên cứu khoa học. Ngoài ra ông  
4
còn cho thấy rằng số mắc dịch hạch trong số dân Luôn Đôn có khác nhau ở những năm  
khác nhau và ông cũng nêu lên các đặc điểm của những năm có dịch xảy ra.  
+ Năm 1837, William Farr đã thiết lập một hệ thống đếm số chết và nguyên nhân  
chết ở cả Anh và xứ Wales liền trong 40 năm và nhấn mạnh đến sự khác nhau ở những  
người có vợ và những người sống độc thân, ở những nghề nghiệp khác nhau, sự chết  
của Tả ở những độ cao khác nhau….trong đó ông đã đóng góp rất nhiều cho việc hình  
thành phương pháp nghiên cứu dịch tễ học hiện tại như định nghĩa quần thể có nguy cơ,  
phương pháp so sánh giữa các đối tượng khác nhau, chọn nhóm so sánh thích hợp và rất  
coi trọng đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến bệnh, chết theo tuổi, thời gian phơi nhiễm  
và tình trạng sức khoẻ chung.  
Sau nghiên cứu của William Farr, vào những năm 1890, Florence Nightingale đã  
ứng dụng thực hiện những thống kê chi tiết và thông báo sự ưu tiên cho điều kiện sức  
khoẻ của quân đội trong cuộc chiến tranh Crimeal. Trên cơ sở các thông báo này, bà đã  
nhận được sự tài trợ để làm giảm tỷ lệ tử vong một cách rõ ràng số bệnh nhân Anh tại  
bệnh viện. Nightingale tiếp tục sử dụng mô hình dịch tễ học trong công tác Điều dưỡng  
của bà để xác định vai trò của môi trường đối với sức khoẻ và mối quan hệ của nó với  
mô hình bệnh.  
Mặc dù cả John Graunt và William Farr đã đề cập đến các mức độ khác nhau,  
đến sự phân bố tần số và coi trọng sự phân bố tần số này là khác nhau ở những thời gian  
khác nhau và ở những nơi khác nhau nhưng chưa lý giải được tại sao lại có sự khác nhau  
đó.  
+ John Snow là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về một yếu tố bên ngoài có liên  
quan chặt chẽ với một bệnh. Ông đã bỏ ra rất nhiều công sức để quan sát dịch tả ở Luôn  
Đôn vào những năm 40 của thế kỷ XIX, lúc đó:  
Tất cả các công ty cấp nước cho Luôn Đôn là Lambeth, South Wark và Vauxhall  
đều lấy nước từ sông Thames, ở điểm bị bẩn nặng về nguồn nước thải của thành phố.  
Sau đó, khoảng giữa thời gian 1849-1854, công ty Lambeth chuyển địa điểm lấy nước  
trên phía thượng nguồn, nơi không bị ô nhiễm nước thải của thành phố thì thấy tỷ lệ mắc  
tả giảm hẳn. Từ những quan sát đó, John Snow đã đưa ra giả thuyết rằng nước của South  
Wark và Vauxhall đã làm tăng nguy cơ mắc tả. Ông cũng nhấn mạnh rằng, có thể có  
những yếu tố khác tham gia vào nữa, nhưng rõ ràng là tả lan truyền theo đường nước  
(mặc dù lúc đó cơ chế lan truyền theo nước còn chưa được biết đến). Đây là một giả  
thuyết mà sau đó được kiểm định (kết quả của ông đã chỉ rõ rằng tỷ lệ mắc tả của những  
người sử dụng nguồn nước của công ty South Wark và Vauxhall cao gấp 8 đến 9 lần so  
với những người không sử dụng nguồn nước của công ty này) và vẫn còn giữ nguyên  
vẹn đến ngày nay.  
Như vậy, John Snow là người đầu tiên đã nêu đầy đủ các thành phần của định  
nghĩa dịch tễ học, ông cũng có những quan niệm đúng đắn về một đề cập dịch tễ học mà  
dịch tễ học hiện đại ngày nay đang sử dụng đó là không những hình thành giả thuyết mà  
còn kiểm định giả thuyết đó nữa.  
5
Từ đó đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học cơ bản và y học cơ  
sở, hiện nay dịch tễ học đã có thể cung cấp những phương pháp dịch tễ học tin cậy trong  
việc hình thành nghiên cứu tất cả các lĩch vực của y học. Một trong những phương pháp  
đáng chú ý nhất là các phương pháp thiết kế nghiên cứu dịch tễ học và các kỹ thuật thu  
thập và phân tích các dữ kiện dịch tễ học. Phương pháp nghiên cứu của dịch tễ học đã  
tạo điều kiện rễ ràng cho việc đánh giá vai trò của các yếu tố nguy cơ đối với một bệnh  
mãn tính (ví dụ bệnh Pellagra do thiếu vitamin trong chế độ ăn) cũng như áp dụng những  
nguyên lý, phương pháp nghiên cứu dịch tễ học, tiến hành và phân tích các thực nghiệm  
lâm sàng để nghiên cứu các yếu tố nguy cơ và các yếu tố dự phòng khác.  
Với sự phát triển của máy vi tính và các phần mềm ứng dụng, các kỹ thuật và  
phương pháp dịch tễ học ngày nay có thể triển khai trên qui mô rộng lớn, với nhiều  
những diến biến khác nhau trong những thời gian khá dài đã làm tăng độ chính xác và  
độ tin cậy của các công trình nghiên cứu dịch tễ học trong mọi lĩnh vực y tế tiến hành  
trên quần thể người, góp phần giải quyết dịch trong việc bảo vệ và nầng cao sức khoẻ  
cộng đồng ngay cả trước khi những cơ chế cơ bản của một bệnh trạng đặc biệt nào đó  
chưa được biết.  
3. Mục tiêu của dịch tễ học  
Với những quan điểm và định nghĩa như dịch tễ học đã nêu, dịch tễ học có mục  
tiêu khái quát là đè xuất được những biện pháp can thiệp hữu hiệu nhất để phòng ngừa,  
kiểm soát, hạn chế và thanh toán những tình trạng không có lợi cho sức khoẻ con người.  
Từ đó, mọi hoạt động của dịch tễ học nói chung đều nhằm vào những mục tiêu sau:  
3.1 Xác định sꢀ phân bố các hiện tượng sức khoẻ - bệnh trạng:  
Sự phân bố các yếu tố nội, ngoại sinh quần thể theo 3 góc độ con người - không  
gian - thời gian, nhằm định hướng cho sự phát triển các chương trình và các dịch vụ sức  
khoẻ.  
3.2 Làm bộc lộ các nguy cơ và các yếu tố căn nguyên của tình hình sức khoẻ:  
Bệnh trạng đó nhằm phục vụ cho các kế hoạch chăm sóc sức khoẻ, phòng ngừa,  
kiểm soát hoặc thanh toán các bệnh trạng.  
3.3. Cung cấp những phương pháp đánh giá hiệu lꢀc của các biện pháp:  
Áp dụng trong các dịch vụ y tế giúp cho việc lựa chọn, hoàn thiện các biện pháp  
phòng ngừa các bệnh trạng, cải thiện sức khoẻ cộng đồng.  
4. Đối tượng nghiên cứu của dịch tễ học  
Dịch tễ học nghiên cứu các qui luật phát sinh và diễn biến của các hiện tượng sức  
khoẻ khác nhau xảy ra trong quần thể người (cộng đồng) trên những qui mô nhất định  
làm ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ cộng đồng và sức khoẻ sản xuất của xã hội.  
Sự phát sinh (xuất hiện, tái diễn) và sự diễn biến (gia tăng, thu hẹp, giữ nguyên,  
lụi tàn, kết thúc) của một bệnh trạng dù với qui mô nào cũng tuân theo những qui luật  
riêng của nó trong một quần thể bất kỳ, trong những điều kiện nhất định của tự nhiên,  
xã hội sinh thái của chính chủ thể con người đang sống, lao động bình thường.  
Các bệnh trạng được kể ở đây bao gồm:  
6
+ Các bệnh đã được định nghĩa rõ ràng: Các bệnh truyền nhiễm, các bệnh  
mãn tính nổi lên rõ nét hiện nay như tiểu đường, ung thư, tim mạch, các bệnh do cơ địa,  
các bệnh rối loạn chuyển hoá, các bệnh di truyền.  
+ Mọi trạng thái không bình thường về thể chất, tâm thần, xã hội của dân  
chúng.  
Cũng như đối với các phạm trù khác, các bệnh trạng đó phát sinh và diễn biến, mà  
ngày nay người ta dần dần thức được một cách sáng tỏ với một quan niệm bao trùm là  
mọi bệnh trạng đều không phải tự nhiên vô cớ sinh ra, mà nhất định phải có những nguyên  
nhân nhất định, và các nguyên nhân đó nhất định có thể tìm ra được.  
Trong mối quan hệ của chúng, các bệnh trạng chịu ảnh hưởng tác động qua lại  
chặt chẽ nhiều hoặc ít của vô vàn yếu tố bên trong và bên ngoài khác nhau. Những yếu  
tố này sẽ được con người dần dần khai thác qua sự hiểu biết của mình để phục vụ cho  
công cuộc bảo vệ sức khoẻ con người.  
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của dịch tễ học là quy luật phân bố các bệnh trạng  
xảy ra trong quần thể dân chúng nhất định với các yếu tố nguyên nhân chi phối tình  
trạng phân bố đó trong những điều kiện nhất định theo thời gian, không gian và chủ thể  
con người (nam giới và nữ giới).  
Chúng ta hiểu sự phân bố đó cùng với những yếu tố căn nguyên không tĩnh lại  
mà thay đổi không đồng đều theo không gian và thời gian và theo các chủ thể bên trong,  
các phản ứng của cơ thể con người trước những yếu tố của môi trường xung quanh trong  
mối tương tác thời gian và quần thể mà các cá thể đó đang sống.  
Trong mối liên hệ thời gian, ngoài việc chứng kiến một cách hiếm hoi một vài  
bệnh bị tiêu diệt và phát sinh, người ta thường quan tâm đến diễn biến của các bệnh  
trạng hoặc ổn định hoặc tăng giảm trong những khoảng thời gian ngắn hoặc dài tuỳ theo  
tính chất của từng bệnh trạng, tuỳ theo khả năng phản ứng và nhận thức của con người  
về bệnh trạng đó (như mấy trục năm gần đây, người ta thấy xu hướng tăng nhiều của  
ung thư hô hấp, giảm nhiều của ung thư dạ dày và ổn định của ung thư đại tràng).  
Trong mối quan hệ không gian, cùng với những giới hạn lệ thuộc, người ta có thể  
nghiên cứu những qui mô khác nhau, từ những khu vực rộng lớn như quốc gia này, quốc  
gia khác đến những vùng địa lý hành chính nhỏ hơn khi có những đặc thù khác nhau,  
ảnh hưởng khác nhau đến bệnh trạng của quần thể dân cư.  
Đối với chủ thể của con người, bên cạnh những đặc điểm về tuổi, nam giới và nữ  
giới, phong tục tập quán, chủng tộc, dân tộc...người ta còn quan tâm đến những đặc thù  
sinh học, tâm lý học...trong mối tương tác toàn diện (lồng ghép giới) với các đặc điểm  
tự nhiên, xã hội trong đó các cá thể trong quần thể sinh sống bình thường.  
Ngoài ba góc độ kể trên được nghiên cứu riêng biệt, nhiều khi người ta còn nghiên  
cứu các hiện tượng sức khoẻ dưới tập hợp từng cặp hoặc dưới cả ba góc độ đó cùng một  
lúc như không gian - thời gian, hiện tượng tập quần cùng khoảng sinh, hiện tượng di cư.  
5. Nhiệm vụ và nội dung của dịch tễ học  
Ứng dụng các kiến thức và thành tựu các ngành y học liên quan, cùng với những  
phương pháp riêng của mình, dịch tễ học có khả năng thực hiện những nhiệm vụ chiến  
7
lược của mình là xác định các căn nguyên của các hiện tượng sức khoẻ cộng đồng ở  
mức thấp nhất đồng thời tìm ra những yếu tố nguy cơ đặc thù cùng với những yếu tố  
nguy cơ nghi ngờ chi phối sự phát sinh, phát triển và diễn biến của bệnh trạng để rồi từ  
đó đề xuất những biện pháp đúng đắn hữu hiệu nhằm hạn chế và thu hẹp dần phân bố  
tần số các bệnh trạng tiến tới thanh toán các bệnh trạng đó trong quần thể.  
Để thực hiện nhiệm vụ đó, dịch tễ học có một tập hợp các nhiệm vụ thông qua  
các nội dung hoạt động cụ thể sau:  
Mô tả bệnh trạng với sự phân bố tần số của chúng dưới các góc độ: Chủ thể con  
người - không gian - thời gian trong mối quan hệ tương tác thường xuyên của cơ thể  
cùng các yếu tố nội, ngoại sinh nhằm làm bộc lộ ra những yếu tố mang tính căn nguyên  
của các bệnh trạng trong quần thể để có phác thảo, hình thành nên những giả thuyết về  
mối quan hệ nhân quả giữa ýêu tố nguy cơ và bệnh trạng: Dịch tễ học mô tả.  
- Phân tích các dữ liệu thu thập được từ dịch tễ học mô tả cùng với việc tìm cách  
giải thích những yếu tố căn nguyên có thể chịu trách nhiệm với bệnh trạng, tiến hành  
những nghiên cứu phân tích về cả thống kê học và y sinh học để xác định căn nguyên  
đặc thù đó cùng với các tác động của chúng trên hiện tượng sức khoẻ nghiên cứu. Thực  
chất là kiểm định những giả thuyết được hình thành từ dịch tễ học mô tả, trên cơ sở đó  
đề xuất các biện pháp can thiệp thích hợp: Dịch tễ học phân tích.  
- Để kiểm tra, đánh giá và xác nhận một cách chủ động tính chính xác và sát hợp  
những kết luận của dịch tễ học phân tích về phân bố bệnh trạng với những tác động của  
các ýêu tố căn nguyên đặc thù của chúng, dịch tễ học tìm cách thử nghiệm lại mô hình  
tương tác giữa bệnh trạng và căn nguyên của chúng trong tự nhiên để đối chiếu, so sánh  
lại một cách chắc chắn và xác nhận tính đúng đắn của những giả thuyết đã hình thành  
và kiểm định: Dịch tễ học thực nghiệm.  
- Xây dựng những mô hình lý thuyết của bệnh trạng đã được nghiên cứu, trên cơ  
sở khái quát hoá sự phân bố cùng với những mối tương tác có căn nguyên của chúng  
giúp cho việc phòng ngừa, ngăn chặn khả năng phát hiện, xu hướng gia tăng và phân bố  
rộng rãi của bệnh trên thực tế trong những quần thể tương tự khác: Dịch tễ học lý thuyết  
khác.  
Những nhiệm vụ cụ thể trên đây cũng là những phương hướng chiến lược của  
dịch tễ học và chúng qui định những phương pháp nghiên cứu của dịch tễ học tương ứng  
mà chúng ta sẽ nghiên cứu tiếp ở phần sau. Với những nội dung cụ thể của nó trong các  
phương pháp điều tra quan sát, mô tả, phân tích, thực nghiệm, lý thuyết toán dịch tễ.  
Đứng về phương pháp nghiên cứu dịch tễ học, có thể phân chia một cách đơn  
giản ra hai loại phương pháp theo sơ đồ:  
- Phương pháp mô tả quan sát:  
+ Các nghiên cứu lịch sử.  
+ Các nghiên cứu ngang (nghiên cứu hiện mắc).  
+ Các nghiên cứu dọc (nghiên cứu mới mắc) bao gồm nghiên cứu hồi cứu và  
nghiên cứu tương lai.  
+ Phương pháp phân tích căn nguyên.  
8
+ Các nghiên cứu có nhóm đối chứng (quan sát trên các quần thể tự nhiên) bao  
gồm nghiên cứu hồi cứu (nghiên cứu bệnh - chứng) và nghiên cứu thuần tập (nghiên  
cứu tương lai)  
+ Các nghiên cứu thực nghiệm (người, súc vật) là nghiên cứu tương lai có nhóm  
đối chứng nhưng là quan sát trên những quần thể thực nghiệm.  
+ Các nghiên cứu lý thuyết: Xây dựng những mô hình toán học về kết hợp nhân  
- quả, đó là những biểu thị toán học mô tả và giải thích các kết hợp đó ngày cả khi các  
điều kiện trong thực tế thay đổi như thế nào thì kết hợp đó vẫn đúng.  
Chú ý:  
Cả hai phương pháp mô tả và phân tích đều có thể tiến hành trên thực địa và tuỳ  
theo mục đích của việc triển khai nghiên cứu, lúc đó người ta chia ra dịch tễ học thực  
thi hay dịch tễ học đánh giá.  
6. Một số nguyên lý, quan điểm, mô hình , thuật ngữ thường dùng trong dịch tễ  
học  
6.1. Quá trình phát triển tꢀ nhiên của bệnh  
Bất kỳ một loại bệnh nào cũng có một thời gian tiến triển nhất định trên cơ thể  
người, từ khi khoẻ mạnh đến khi mắc bệnh rồi sau đó hoặc khỏi hoặc tàn phế. Trong  
cùng một bệnh cũng có thể khác nhau chi tiết tuỳ từng trường hợp cụ thể, nhưng nhìn  
chung mỗi một loại bệnh đều có một quá trình diễn biến tự nhiên theo một qui luật riêng,  
trong một thời gian nhất định.  
Quá trình phát triển tự nhiên của bệnh là quá trình diễn biến của bệnh khi không  
có sự can thiệp của điều trị, một số tác giả gọi là lịch sử tự nhiên của bệnh. Cần phải xác  
định quá trình tự nhiên của bệnh mới có thể đề cập khác nhau trong việc phòng ngừa và  
kiểm soát bệnh.  
* Giai đoạn cảm nhiễm: Là giai đoạn bệnh chưa phát triển nhưng cơ thể đã bắt  
đầu phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ (yếu tố nguy cơ là những yếu tố lý, hoá, sinh học...mà  
tác động của chúng làm tăng khả năng có thể phát triển một bệnh nhất định) có thể làm  
cho cơ thể xuất hiện bệnh tương ứng.  
Ví dụ: Mệt nhọc hoặc uống rượu làm cho cơ thể cảm nhiễm cao với viêm phổi.  
* Giai đoạn tiền lâm sàng: Cơ thể cũng chưa có một triệu chứng lâm sàng nào  
của bệnh nhưng đã bắt đầu có những thay đổi bệnh lý do sự tác động qua lại giữa cơ thể  
và yếu tố nguy cơ nhưng những thay đổi này còn ở dưới ngưỡng bệnh lý.  
* Giai đoạn lâm sàng: Đến giai đoạn này, các thay đổi về cơ thể và chức năng đã  
đủ để biểu hiện ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng có thể chẩn đoán được về phương diện  
lâm sàng.  
* Giai đoạn hậu lâm sàng: Sau giai đoạn lâm sàng, nhiều bệnh tiến tới khỏi hoàn  
toàn (hoặc tự khỏi hoặc phải điều trị) sau một giai đoạn ngắn có hoặc không có biến  
chứng cấp tính. Đối với một số bệnh khác, dưới những điều kiện nhất định sau giai đoạn  
lâm sàng có thể gây nên những khuyết tật nhất thời hoặc vĩnh viễn ở nhiều mức độ tàn  
phế khác nhau nhưng trầm trọng hơn cả là những khuyết tật vĩnh viễn rất cần được chú  
ý.  
9
6.2. Các cấp độ dꢀ phòng  
Phòng bệnh cấp một là việc phòng cho những người khoẻ mạnh không bị mắc  
bệnh bằng những biện pháp thuộc hai lĩnh vực chủ yếu: Biện pháp nâng cao sức khoẻ  
và biện pháp bảo vệ đặc hiệu.  
Phòng bệnh cấp hai là việc phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời để có thể chữa  
khỏi hẳn ngay từ đầu hoặc làm chậm lại quá trình tiến triển của bệnh hoặc phòng ngừa  
các biến chứng hoặc hạn chế được các khuyết tật và hạn chế khả năng lây lan rộng đối  
với các bệnh truyền nhiễm. Dự phòng cấp hai là nhiệm vụ của tất cả các thày thuốc đặc  
biệt là thầy thuốc y tế cộng đồng.  
Dự phòng cấp ba là điều trị với hiệu quả tối đa cho những người đã mắc bệnh  
nhằm hạn chế các tật nguyền do các bệnh trạng để lại, phục hồi lại các chức năng để  
khắc phục các tật nguyền đó một cách tốt nhất có thể được bên cạnh việc hạn chế tử  
vong cho những người đã mắc bệnh.  
6.3. Quan điểm về căn nguyên đa yếu tố  
Bệnh trạng phát sinh ra trong một hệ sinh thái nhất định, cho nên bất kỳ một bệnh  
trạng nào cũng không thể chỉ liên quan đến một yếu tố đơn thuần nào đó mà liên quan  
đến nhiều yếu tố khác. Nghĩa là bệnh trạng nảy sinh và phát triển liên quan tới nhiều  
yếu tố căn nguyên khác nhau thường gọi là Lưới nguyên nhân. Trong đó, khi có một  
yếu tố bắt buộc phải có để bệnh phát sinh thì yếu tố này được gọi là yếu tố tác nhân.  
Người ta phân chia các yếu tố làm cho bệnh phát triển làm hai nhóm: yếu tố của túc chủ  
(còn gọi là yếu tố bên trong), và các yếu tố môi trường (các yếu tố bên ngoài).  
6.3.1. Yếu tố bên trong:  
Ngày nay, người ta mới biết rõ được một số điểm còn nhiều điểm chưa được biết  
rõ ràng đầy đủ. Các yếu tố bên trong bao gồm:  
- Yếu tố di truyền: Người có nhóm máu A thì có nguy cơ lớn về ung thư dạ dày.  
- Yếu tố tâm lý (tính cách): Những người có tính cách mạnh có nguy cơ cao hơn  
với bệnh nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành. Thường thì nam giới được dạy dỗ để trở  
thành những người can đảm, mạnh mẽ (tính cách mạnh) do đó nam giới có tỷ lệ bệnh  
mạch vành cao hơn nữ giới.  
- Tầng lớp xã hội: Người ở tầng lớp nghèo thì hay mắc bệnh hơn người giàu.  
6.3.2. Yếu tố bên ngoài:  
Các yếu tố bên ngoài hay các yếu tố môi trường có rất nhiều và đều có thể ảnh  
hưởng đến sự phát sinh, phát triển của bệnh thông qua các yếu tố bên trong cơ thể:  
* Các yếu tố môi trường sinh học:  
+ Các tác nhân gây các bệnh nhiễm khuẩn.  
+ Ổ chứa nhiễm khuẩn (cơ thể người và súc vật, các loại động vật khác, đất...).  
+ Các cơ thể truyền bệnh: Muỗi, chuột, ruồi...  
+ Cây cỏ và động vật khác.  
* Các yếu tố môi trường xã hội:  
10  
- Thể chế chính trị (tổ chức kinh tế và chính trị của một xã hội): Hệ thống chăm  
sóc sức khoẻ, trang thiết bị, trình độ cán bộ...Những ýêu tố này ảnh hưởng lớn tới sức  
khoẻ người dân  
- Phong tục, tập quán trong sinh hoạt. ăn uống....  
- Trình độ dân trí.  
- Nếp sống văn hoá.  
6.4. Mô hình sinh thái hꢁc  
Mô hình sinh thái học chính là sự tương tác của yếu tố bên trong và yếu tố bên  
ngoài. Việc thiết lập các mô hình sinh thái để tìm ra cơ chế và hậu quả của tất cả những  
tác động tới việc hình thành và xuất hiện bệnh như thế nào. Có 3 mô hình sinh thái là:  
6.4.1. Mô hình tam giác : được áp dụng rộng rãi trong nhiều trong tài liệu dịch tễ.  
Mô hình này gồm 3 thành phần: Tác nhân, vật chủ, môi trường.  
Tác nhân:  
Thuộc mọi bản chất  
(lý hoá, sinh học, xã hội)  
Vật chủ:  
Môi trường:  
Cơ thể sống với các đặc trưng của  
chúng như nam giới/nữ giới, chế  
độ dinh dưỡng miễn dịch  
Các phức hợp hoạt động của  
môi trường nói chung như: Kinh  
tế, văn hoá, xã hội  
6.4.2. Mô hình mạng: Mac Mahon và cộng sự đã đề sướng mô hình này (1970) với quan  
niệm rằng hậu quả đối với cơ thể con người không bao giờ chỉ phụ thuộc vào các nguyên  
nhân thấy được mà còn phụ thuộc, mà nó là kết quả của một chuỗi các nguyên nhân.  
6.4.3. Mô hình bánh xe:  
Là mô hình đề cập để phát hiện những quan hệ giữa người và môi trường.  
Mô hình này được chia làm hai vòng tròn, ở giữa là một vòng biểu trưng cho vật  
chủ và người (1) với hệ thông tin di truyền của mình; Vòng tròn thứ hai bao quanh vòng  
tròn thứ nhất biểu trưng cho môi trường, được chia làm 3 loại môi trường.  
- A là môi trường sinh học.  
- B là môi trường xã hội.  
11  
- C là môi trường lý học.  
Độ lớn của từng phần "bánh xe" phụ thuộc vào từng bệnh cụ thể mà ta nghiên  
cứu, trong đó khi xem xét về môi trường xã hội cần lưu ý tới ảnh hưởng của nó tới sức  
khoẻ của nam giới và nữ giới. Cũng như mô hình mạng, mô hình này đòi hỏi nhiều ýêu  
tố căn nguyên của bệnh mà không cần nhấn mạnh đến tác nhân.  
6.5. Một số thuật ngữ thưꢂng gặp  
6.5.1. Hiện tượng sức khoẻ cộng đồng  
Dịch tễ học quan tâm tới hiện tượng tập thể như: các hiện tượng sinh lý (sự sinh  
trưởng già cỗi...), các hiện tượng bệnh lý, các hiện trạng về thể chất, tinh thần, xã hội,  
các dịch vụ y tế, các chương trình y tế...  
Các hiện tượng tập thể bao giờ cũng gắn với khung cảnh sinh học - xã hội đặc  
biệt là khung cảnh kinh tế - xã hội vì khi muốn can thiệp vào một hiện tượng sức khoẻ  
nào đó trong phạm vi cả nước cần phải có sự lãnh đạo, quản lý, thúc đẩy ở cấp Nhà nước  
về mọi khía cạnh: Khoa học, kinh tế, chính trị, xã hội...và cả vấn đề tự nhiên. Trong  
khung cảnh kinh tế xã hội đó, vì nhiều nguyên nhân mà nữ giới thường dễ bị tổn thương  
hơn nam giới do đó trong quá trình xem xét các hiện tượng sức khoẻ, chúng ta cần phải  
chú ý quan tâm hơn tới nữ giới.  
6.5.2. Nguy cơ, yếu tố nguy cơ  
Nguy cơ là xác xuất xuất hiện một biến cố không có lợi cho sức khoẻ của mỗi cá  
nhân hoặc một quần thể.  
Yếu tố nguy cơ toàn bộ các yếu tố nội, ngoại sinh có ảnh hưởng đến việc hình  
thành, diễn biến của bệnh trạng trong quần thể. Tuỳ thuộc vào mức độ ảnh hưởng mà  
người ta chia ra yếu tố nguy cơ nghi ngờ, yếu tố nguy cơ căn nguyên.  
6.5.3. Các khái niệm về quần thể  
Quần thể định danh: Là một tập hợp các cá thể có chung những tính chất nhất  
định, hình thành một xác suất mắc bệnh tương tự nhau đối với mỗi bệnh trạng nào đó  
trước những yếu tố nguy cơ nhất định. Như vậy quần thể định danh là phải đồng nhất  
với nhau về nhiều tính chất đồng nhất và đồng nhất tối đa về nguy cơ trước bệnh trạng.  
Trong quần thể định danh người ta có thể chọn ra quần thể có nguy cơ, quần thể  
có nguy cơ cao và quần thể bị đe doạ.  
Quần thể toàn bộ  
Quần thể có nguy cơ  
Quần thể có  
nguy cơ cao  
Quần thể bị đe doạ  
Các quần thể định danh  
6.5.4. Dịch và dịch địa phương  
12  
Dịch địa phương: Là một loại bệnh thường xuyên xảy ra trong khu vực địa lý  
nhất định, với một tỷ lệ hiện mắc nhất định tuỳ thuộc vào sự có mặt của những yếu tố  
nguy cơ của bệnh mà những yếu tố nguy cơ này do điều kiện tự nhiên và xã hội ở nội  
khu vực đó qui định.  
Dịch: Hiểu một cách chung nhất là: Một bệnh gây thành dịch khi trong một  
khoảng thời gian nhất định, tỷ lệ hiện mắc vượt quá tỷ lệ mắc trung bình ở khu vực đó  
trong một thời gian dài.  
7. Chu trình nghiên cứu dịch tễ học  
Dịch tễ học bắt đầu từ những nghiên cứu mô tả sự phân bố của bệnh trong những  
nhóm quần thể theo ba góc độ: Con người - không gian - thời gian nhằm cung cấp số  
liệu cho việc kế hoạch hoá, xây dựng các chương trình y tế và hình thành các giả thuyết  
về nguyên nhân bệnh. Sau đó là các nghiên cứu phân tích nhằm kiểm định lại kết luận  
từ các nghiên cứu mô tả.  
Sau khi giả thuyết đề xuất từ các nghiên cứu mô tả được kiểm định là đúng bởi  
các nghiên cứu phân tích tiến hành trên quần thể thì tất yếu phải có một nghiên cứu can  
thiệp. Nghiên cứu này đề xuất các biện pháp tác động vào yếu tố nguy cơ nhằm làm  
giảm khả năng mắc hoặc chết với bệnh. Nếu các biện pháp của nghiên cứu can thiệp  
không hoàn toàn vô hại, trước khi áp dụng ở quần thể thì phải tiến hành các nghiên cứu  
thực nghiệm trên Labo (vacxin, thuốc diệt mới...)  
Để xác định hiệu quả của các biện pháp can thiệp người ta tiến hành các cuộc  
điều tra đánh giá.  
Với các bước như vậy, nếu chân lý được tiếp cận, người ta có thể xây dựng được  
các mô hình dịch tễ của bệnh trạng đã nghiên cứu.  
CHU TRÌNH NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC  
Hình thành giả  
thuyết nhân quả  
NC mô tả  
NC phân tích  
NC can thiệp  
NC thực nghiệm  
Đánh giá  
Xây dựng mô hình dịch  
13  
LƯỢNG GIÁ  
1. Giải thích định nghĩa của dịch tễ học  
2. Nêu rõ mục tiêu, đối tượng và nội dung của dịch tễ học  
3. Nêu các nguyên lý, quan điểm, mô hình, thuật ngữ thường dùng trong dịch tễ  
học  
4. Giải thích rõ chu trình nghiên cứu dịch tễ học  
14  
BÀI 2  
QUÁ TRÌNH DỊCH  
MỤC TIÊU:  
1. Mô tả được các mắt xích trong sự lây lan của bệnh nhiễm trùng và phân loại  
bệnh nhiễm trùng theo đường lây truyền.  
2. Trình bày được khái niệm về quá trình dịch trong các bệnh nhiễm trùng.  
3. Mô tả được các mắt xích cơ bản của quá trình dịch.  
4. Phân tích được vai trò của yếu tố tự nhiên và xã hội đối với quá trình dịch.  
5. Áp dụng được luận thuyết về quá trình dịch trong phòng chống và kiểm soát  
các bệnh nhiễm trùng.  
NỘI DUNG  
I. KHÁI NIỆM VỀ QUÁ TRÌNH DỊCH  
1. Định nghĩa  
Quá trình dịch là một chuổi các tình trạng nhiễm trùng (bệnh nhân và người mang  
trùng) nối liền với nhau, quá trình dịch biểu hiện dưới dạng các tiêu điểm nhiểm trùng  
(foyers infectieux) bao gồm một hay nhiều bệnh nhân và những người mang trùng. Như  
vậy có thể nói quá trình dịch là một chuổi những ổ dịch có liên quan với nhau, mối dây  
liên hệ giữa các ổ dịch này tùy thuộc vào các điều kiện quyết định bởi môi trường xã  
hội, nơi quá trình dịch phát triển.  
Quá trình dịch của các bệnh khác nhau thì mang những nét đặc trưng khác nhau,  
đối với một bệnh nhiễm trùng, quá trình dịch cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử  
khác nhau, đặc biệt quá trình dịch chịu tác động rất lớn của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã  
hội, điều kiện sống của một quần thể.  
2. Các mắt xích của quá trình dịch  
Để tồn tại một quá trình dịch phải có 3 yếu tố bắt buộc: Một nguồn tác nhân gây  
bệnh, một cơ chế truyền bệnh nhiễm trùng và một tập thể tiếp thụ bệnh. Chúng ta có thể  
gọi vắn tắt 3 yếu tố nầy là:  
− Nguồn truyền nhiễm  
− Cơ chế truyền nhiễm  
− Khối cảm thụ.  
Cơ chế truyền nhiễm làm cho quá trình dịch được duy trì với các thành phần của  
chuổi dây xích minh họa cho 3 giai đoạn:  
- Giai đoạn 1: Vi sinh vật ra khỏi cơ thể ký chủ, cửa ra có thể là đường hô hấp,  
tiêu hóa, đường da niêm mạc, hoặc đường máu. Cửa ra của tác nhân gây bệnh phụ thuộc:  
+ Vị trí gây bệnh  
+ Vi sinh vật lưu thông tự do trong cơ thể ký chủ, hay hạn chế ở một cơ quan, hệ  
15  
thống  
+ Đường lây truyền  
Tác nhân gây bệnh có thể có một (bệnh cúm) hay nhiều cửa ra (liên cầu khuẩn,  
trực khuẩn than).  
- Giai đoạn 2: Tác nhân gây bệnh tồn tại ở môi trường bên ngoài. Môi trường nầy  
cũng tùy thuộc vào đường ra của tác nhân gây bệnh. Sự truyền nhiễm có thể xảy ra trực tiếp  
hay gián tiếp, có thể nói trong trường hợp truyền nhiễm theo cơ chế trực tiếp giai đoạn 2  
nầy chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.  
Các yếu tố của môi trường góp phần vào cơ chế truyền nhiễm là không khí, đất,  
nước, thực phẩm, đồ dùng cá nhân, đồ dùng công cộng và dụng cụ y tế, chúng ta gọi đó  
là những yếu tố truyền nhiễm. Các vectors trung gian truyền bệnh cũng có thể được xem  
là yếu tố truyền nhiễm.  
- Giai đoạn 3: Tác nhân gây bệnh xâm nhập vào một ký chủ mới. Cửa vào của  
các tác nhân gây bệnh, cũng gồm các cửa như cửa ra.  
NGUỒN  
ĐƯỜNG  
KHỐI  
TRUYỀN NHIỄM  
TRUYỀN NHIỄM  
CẢM THỤ  
CỬA  
CỬA  
RA  
VÀO  
- Người bệnh  
- Người lành  
- Tình trạng SK  
chung  
- Dinh dưỡng  
- Di truyền  
- Miễn dịch  
- Tiếp xúc trực tiếp  
- Giọt nước bọt  
- Đồ dùng cá nhân  
- Nước, thực phẩm  
- Tiết túc  
- Người mang trùng  
- Ổ chứa động vật  
- Ổ chứa không phải  
động vật  
- Hệ hô hấp  
- Hệ tiêu hóa  
- Hệ hô hấp  
- Hệ tiêu hóa  
- Da niêm mạc (tiết niệu, sinh  
- Da niêm mạc (tiết niệu, sinh  
dục)  
dục)  
- Đường máu, vết đốt tiết túc  
- Đường máu, vết đốt tiết túc hút  
hút máu  
máu  
Hình 2.1: Chuỗi lan truyền của một bệnh truyền nhiễm  
II. NGUỒN TRUYỀN NHIỄM  
Nguồn truyền nhiễm có thể là người bệnh, người mang trùng, hay động vật. Một  
tiêu điểm dịch hay ổ dịch trong cộng đồng hay một ổ dịch trong thiên nhiên có thể là  
điểm khởi phát của nhiễm trùng.  
16  
Nhiều tác giả xem các ổ chứa vi trùng không phải là động vật như sữa, thịt, phân  
như là nguồn nhiễm trùng.  
1. Người  
1.1. Ngưꢂi ốm  
Người ốm là nguồn truyền nhiễm quan trọng nhất, vì có thể giải phóng ra môi  
trường bên ngoài một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh đang có độc lực cao, có một  
số biểu hiện lâm sàng của bệnh thúc đẩy vi sinh vật gây bệnh lan truyền mạnh mẽ triệu  
chứng đi tiêu nhiều lần trong bệnh tả, lỵ. Nhưng người ốm lại là nguồn truyền nhiễm rõ  
rệt nên dễ phát hiện cách ly.  
Ở các thời kỳ khác nhau của bệnh nhiễm trùng, tính chất lây lan cũng thay đổi:  
- Trong thời kỳ ủ bệnh, tính chất truyền nhiễm ít quan trọng. Càng về cuối thời  
kỳ ủ bệnh, khả năng lây nhiễm càng lớn.  
- Trong thời kỳ toàn phát, trong hầu hết các bệnh nhiễm trùng, mức độ lây lan  
cao nhất thường trùng với thời kỳ ủ bệnh.  
- Ở thời kỳ hồi phục: khả năng lây lan giảm dần nhưng trong đa số các bệh truyền  
nhiễm cơ thể còn tiếp tục đào thải tác nhân gây bệnh cho đến cuối thời kỳ hồi phục như  
đối với bạch hầu, thương hàn, tả...Có bệnh như thương hàn có khi thời gian mang vi  
trùng rất dài và trở thành người khỏi bệnh mang vi trùng.  
- Người mắc bệnh nhiễm trùng mãn tính như lao, mắt hột, về mặt dịch tễ học là  
nguồn truyền nhiễm lâu dài nếu không chú ý phát hiện và có biện pháp đề phòng thì khó  
tránh được lây lan  
- Người bệnh không điển hình: khả năng lây lan tuỳ thuộc từng loại bệnh, từng  
thể lâm sàng khác nhau.  
1.2. Vai trò truyền nhiễm của ngưꢂi mang vi trùng  
- Người khỏi bệnh mang vi trùng  
Trong một số bệnh truyền nhiễm người bệnh đã khỏi lâm sàng, vẫn còn tác nhân  
gây bệnh trong cơ thể, trong một thời gian có khi các xét nghiệm không tìm thấy. Người  
bệnh vẫn có khả năng lây lan, nên trạng thái mang trùng này có ý nghĩa lớn về mặt DTH,  
nhất là khi người mang trùng làm việc trong các cơ sở công cộng như nhà ăn, cung cấp  
nước, nhà trẻ.  
- Người lành mang trùng  
Người lành mang trùng thường chỉ là nguồn truyền nhiễm trong một thời gian  
tương đối ngắn, ít quan trọng về mặt dịch tễ học.  
1.3. So sánh tính chất truyền nhiễm của ngưꢂi ốm và ngưꢂi mang trùng  
Người mang trùng tuy chỉ bài tiết ra môi trường số lượng ít, ít lây hơn so với  
người ốm, nhưng nhiều khi khó phát hiện, do đó là nguồn truyền nhiễm lâu dài. trong  
khi đó, người bệnh tuy lây lan nhiều hơn nhưng khi đã phát hiện và đươc cách ly điều  
trị lại trở nên ít nguy hiểm và giảm khả năng lây lan.  
2. Động vật  
Các bệnh truyền từ động vật sang người chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong các bệnh nhiễm  
trùng ở người. Các bệnh như bệnh than, bệnh dại, bệnh xoắn khuẩn, bệnh dịch hạch là  
những bệnh truyền từ động vật sang người, quá trình dịch tự nhiên là ở động vật, tuy  
17  
nhiên khi quá trình dịch có cơ chế lây lan giữa động vật và người, người cũng có thể có  
khả năng tiếp thụ bệnh cao, thì có nhiều người bị lây bệnh từ động vật là chủ yếu, chứ  
không phải từ người. Người ta gọi người trong trường hợp này là ký chủ cơ hội  
(occasional host).  
Những động vật trở thành nguồn truyền nhiễm cho người cần có điều kiện:  
- Về đặc điểm sinh vật học: động vật là loài tiếp cận với loài người ví dụ động  
vật có vú là nguồn truyền nhiễm nhiều bệnh hơn loài chim.  
- Trong hoạt động hằng ngày người có tiếp xúc với động vật. Như nghề nghiệp  
chăn nuôi, săn bắn, thú y hoặc sử dụng thịt, da, lông của động vật bị ốm.  
III. CÁC YẾU TỐ TRUYỀN NHIỄM VÀ CƠ CHẾ TRUYỀN NHIỄM  
Cơ chế truyền nhiễm của một bệnh nhiễm trùng đặc trưng bằng đường truyền  
nhiễm với lối ra của tác nhân gây bệnh khỏi ký chủ và lối vào của tác nhân đó ở ký chủ  
mới, cùng với phương thức tồn tại của tác nhân ở bên ngoài cơ thể ký chủ. Các yếu tố  
truyền nhiễm như: không khí, đất, nước, thực phẩm, tiết túc có vai trò trung gian trong  
một khoảng thời gian nào đó giúp vi sinh vật gây bệnh sống sót khi ra khỏi cơ thể ký  
chủ và đưa vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể ký chủ mới.  
1. Vai trò truyền nhiễm của không khí  
Không khí là yếu tố truyền nhiễm các bệnh đường hô hấp theo phương thức: giọt  
nước bọt và bụi.  
Các giọt nước bọt thoát ra từ người ốm hoặc người mang mầm bệnh có chứa tác  
nhân gây bệnh, người lành hít thở không khí có giọt nước bọt chứa tác nhân gây bệnh  
có thể bị lây.  
Môi trường không khí không thuận lợi cho vi sinh vật, cơ chế truyền qua giọt  
nước bọt chỉ có tác dụng nếu ở gần nguồn truyền nhiễm (khoảng cách 1,5-2 m). Các  
bệnh lây truyền theo cơ chế này như cúm, sởi, ho gà chỉ xảy ra khi có sự tiếp xúc rất gần  
giữa người ốm với người khỏe.  
Một số bệnh có thể lây truyền qua bụi có chứa tác nhân gây bệnh trong không khí,  
bụi chứa tác nhân gây bệnh có thể có nguồn gốc từ giọt nước bọt khô đi và tác nhân có  
sức đề kháng cao đối với ngoại cảnh như vi trùng lao có thể tồn tại được trong bụi. Một  
số tác nhân gây bệnh cho động vật cũng có thể truyền sang người qua bụi, như trực khuẩn  
bệnh than từ da lông súc vật, sốt thỏ rừng từ phân.  
Bệnh truyền nhiễm qua không khí lây lan nhanh vì chỉ cần hít thở không khí có  
tác nhân gây bệnh là có thể bị lây bệnh. Bệnh lan truyền qua không khí rất khó cách ly,  
bệnh càng lây lan nhanh chóng trong khu vức dân cư đông đúc.  
2. Vai trò truyền nhiễm của nước  
Nước là yếu tố truyền nhiễm quan trọng của nhiều bệnh đường ruột. Nước bị  
nhiễm bẩn với các chất bài tiết của người và động vật, sông hồ có thể bị nhiễm phân  
người và động vật, do nước cống rảnh đổ vào, do người bệnh và người mang trùng đến  
tắm giặt, do nước thải của bệnh viện hoặc nhà máy.  
Vi sinh vật gây bệnh đường ruột có thể sống trong nước một thời gian.  
- Phẩy khuẩn tả có thể sống trong nước đến 20 ngày.  
- Trực khuẩn thương hàn cũng sống được vài ngày đến vài tuần.  
18  
- Lỵ Amíp, đặc biệt thể kén có thể tồn tại lâu đến 8 tháng.  
Nhiều vụ dịch tả lan rộng vì lây lan qua đường nước.  
Một số bệnh da niêm mạc có thể lây qua đường nước, ví dụ viêm kết mạc mắt do  
virus, bệnh đau mắt hột.  
Một vài bệnh từ súc vật truyền qua người thông qua nước, ví dụ bệnh xoắn khuẩn  
Leptospira, nước tiểu của loài gậm nhấm, trâu bò làm nhiễm bẩn nguồn nước, người bị  
nhiễm trùng khi uống, tắm giặt, làm việc đồng áng, nhân viên công trình đô thị nạo vét  
cống rãnh có thể lây bệnh vì Leptospira có thể xâm nhập qua da và niêm mạc bị tổn  
thương.  
Trong một số bệnh sán, nước không những là đường truyền nhiễm mà còn là nơi  
ký sinh vật trải qua một chu trình phát triển trong cơ thể vật chủ trung gian.  
3. Vai trò truyền nhiễm của đất  
Cũng như nước, đất bị nhiễm bẩn bởi chất bài tiết của người và súc vật, mức độ  
nhiễm bẩn của đất cao hơn vì đa số động vật sống trên đất, nhưng đất ít tiếp xúc với  
người nên vai trò truyền nhiễm của đất thấp hơn nước. Nước uống có thể truyền vi trùng  
bệnh đường ruột cho người một cách trực tiếp trong khi đất chỉ có thể truyền gián tiếp  
thông qua nước hoặc rau quả mới vào ruột, đường truyền nhiễm trong trường hợp này  
phải qua một thời gian dài nên phần lớn mất tác dụng.  
Đất là yếu tố truyền nhiễm độc lập trong một số bệnh như bệnh lao, bệnh than. Nó  
cũng có tác dụng bảo vệ nha bào của vi trùng uốn ván, hoại thư sinh hơi.  
Đất có vai trò lớn trong sự truyền bệnh giun sán, trứng giun được bảo tồn lâu vài  
tháng trong đất, khi trứng giun đũa, giun móc vào đất cùng với phân, chúng qua một  
giai đoạn phát triển trong đất, sau đó xâm nhập vào cơ thể người qua miệng, hoặc ấu  
trùng chui qua da (giun móc)  
4. Vai trò truyền nhiễm của thực phẩm  
Thực phẩm là yếu tố truyền nhiễm quan trọng trong bệnh đường ruột. Nhiều loại  
vi sinh vật gây bệnh có thể tồn tại trong thức ăn trong một thời gian dài, một số còn có  
thể sinh  
sản được trong thức ăn. Thức ăn nhiều chất đạm thường là môi trường tố cho vi  
trùng.  
Thức ăn có thể bị nhiểm bẩn gián tiếp qua đất, nước, ruồi nhặng, hoặc trực tiếp  
qua tay người ốm hay người mang mầm bệnh.  
Các bệnh truyền qua nước như tả, lỵ, thương hàn đều có thể truyền qua thức ăn.  
Các bệnh giun sán do đất đều truyền qua thức ăn nhiễm bẩn.  
Các bệnh súc vật có thể truyền qua người do ăn thịt, trứng, sữa của súc vật ốm.  
Vi khuẩn sốt làn sóng có thể tồn tại 1-2 tháng trong sữa dê cừu và phó mát làm từ sữa  
của dê cừu bị ốm.  
Thức ăn là yếu tố truyền nhiễm độc nhất trong nhóm bệnh nhiễm trùng nhiễm  
độc thức ăn do các vi trùng gây bệnh là Salmonella, Staphylococci và Clostridium  
botulinum.  
5. Vai trò truyền nhiễm của các vật dụng  
Các bệnh da, tóc có thể truyền qua quần áo lót, mũ, gối. Bệnh đau mắt hột lây do  
dùng chung khăn, chậu rửa mặt. Đồ dùng ăn uống cũng như đồ chơi của trẻ em, là có  
19  
thể làm lây các bệnh đường hô hấp và tiêu hóa. Đồ chơi trẻ em có thể bảo tồn vi trùng  
bạch hầu trong vài tháng.  
Các dụng cụ ở nơi công cộng như tay vịn cầu thang, quả đấm cửa, nút giật nước  
trong cầu tiêu đều có thể bị nhiễm các chất thải của người mang mầm bệnh.  
Vai trò truyền nhiễm của các dụng cụ y tế có tầm quan trọng đặc biệt, có thể  
truyền nhiều bệnh trong bệnh viện giữa bệnh nhân này với bệnh nhân khác.  
6. Vai trò truyền nhiễm của côn trùng tiết túc  
Các động vật tiết túc nên được xếp vào các yếu tố truyền nhiễm hơn là nguồn  
truyền nhiễm vì chúng chỉ làì môi giới trung gian truyền bệnh. Các động vật tiết túc gồm  
côn trùng (insect) và ve (tick).  
Quá trình truyền nhiễm phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm giải phẩu và sinh lý  
của tiết túc như cấu tạo bộ máy tiêu hóa, cách thức ăn uống của chúng.  
Khả năng sinh sản nhanh hay chậm, thời kỳ biến thái dài hay ngắn quyết định  
mức độ nguy hiểm của tiết túc.  
Phương pháp di động như bay, nhảy hay bò sẽ quyết định cự ly di động và tốc độ  
di động của tiết túc và do đó quyết định mức độ nguy hiểm của môi giới.  
Về cơ chế truyền nhiễm, người ta chia động vật tiết túc làm 2 nhóm:  
− Nhóm tiết túc hút máu, là loại vector truyền bệnh đường máu, như muỗi, bọ  
chét, rận...Đây là nhóm môi giới sinh học vì tác nhân gây bệnh qua một thời gian ở trong  
cơ thể của chúng, có nhiều khi sinh sản ở trong cơ thể tiết túc, và thậm chí trải qua một  
chu kỳ sinh sản cần thiết trong cơ thể tiết túc nữa.  
− Nhóm thứ hai là nhóm môi giới truyền bệnh cơ học, chủ yếu là ruồi nhặng, vi  
sinh vật gây bệnh chỉ tồn tại ở bên ngoài cơ thể của tiết túc hoặc trong ống tiêu hóa của  
chúng trong một thời gian ngắn (2-3 ngày).  
Các bệnh truyền nhiễm do tiết túc liên quan đến sự phát triển của chúng, khi nào có  
điều kiện thuận lợi cho sự biến động, phát triển của tiết túc thì những bệnh này có khả năng  
lan truyền mạnh. Do đó các điều kiện địa lý tự nhiên như khí hậu, thời tiết, đầm lầy, các yếu  
tố xã hội như đô thị hóa, trình độ y tế vệ sinh, ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến  
sự phát triển các bệnh dịch lây truyền do tiết túc.  
IV. TÍNH CẢM THỤ VÀ TÍNH MIỄN DỊCH  
1. Tính cảm thụ  
Tính cảm thụ bệnh của một cá thể là khả năng của một người (hay động vật tiếp  
thụ một bệnh truyền nhiễm nếu tác nhân xâm nhập vào cơ thể. tính cảm nhiễm này có  
tính chất theo loài và di truyền qua các thế hệ.  
- Nhóm các bệnh nhiễm trùng riêng cho loài người: chỉ có loài người mới cảm  
thụ bệnh như sởi, scalatin, lậu..., ngay cả truyền nhân tạo cũng không gây bệnh cho loài  
vật được.  
- Nhóm các bệnh nhiễm trùng riêng cho loài vật: bệnh sổ mũi ngựa, bệnh dịch tả  
gà (chỉ lây cho loài chim)...  
- Nhóm các bệnh nhiễm trùng chung cho động vật và loài người: Bệnh từ động  
vật truyền sang người, như bệnh than, bệnh dịch hạch.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 112 trang Thùy Anh 18660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Dịch tễ. Sức khỏe môi trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_dich_te_suc_khoe_moi_truong.pdf