Tâm lí học sáng tạo (Phần 2)

Chương 3. CÁC VẤN ĐỀTÂM LÍ TRONG  
HOẠT ĐỘNGSÁNGTẠO  
GILÍ HỌC SÁNG TẠO  
Created by AM Word CHM  
2
 
1. CƠ CHẾTÂM LÍ CỦA HOẠT ĐỘNG  
SÁNGTẠO  
1.1. Cơ sở sinh lí của sáng tạo  
Một trong những cơ sở sinh lí rất quan trọng  
của sáng tạo đó là sự phát triển não bộ. Những  
nghiên cứu về não bộ cho thấy hoạt động tích cực của  
bán cầu đại não là tiền đề rất quan trọng để sự sáng  
tạo xuất hiện. Trong hoạt động sáng tạo của con  
người, bán cầu đại não là cơ sở để những ý tưởng  
xuất hiện khi nó hoạt động một cách tập trung theo  
nguyên tắc "khai sáng".  
Dưới góc độ giải phẫu sinh lí, giữa bán cầu  
não trái và bán cầu não phải có sự khác biệt nhất định.  
Nếu như trước đây, một số người cho rằng "não trái" là  
ưu thế và ngược lại, bán cầu não phải là "không ưu  
thế" thì đến thời điểm này cần nhìn nhận về vấn đề này  
một cách nghiêm túc. Những nghiên cứu về hoạt động  
song hành, đồng bộ giữa hai bán cầu cũng như  
những cơ sở vững chắc về vấn đề "định khu chức  
năng" đã chứng minh rằng sự sáng tạo của con người  
 
vẫn phải dựa trên hoạt động chuyên biệt của não bộ.  
Sự khác biệt về chức năng của hai bán cầu  
não được đánh giá bởi các hoạt động của mỗi bán  
cầu não. Bán cầu trái là trung tâm điều khiển các chức  
năng trí tuệ như: trí nhớ, ngôn ngữ, lí luận, tính toán,  
sắp xếp, phân loại, viết, phân tích, tư duy hội tụ. Bán  
cầu não phải là trung tâm điều khiển các chức năng  
như: trực giác, ngoại cảm, thái độ và cảm xúc, các liên  
hệ thị giác - không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp  
điệu, vũ điệu, các hoạt động có sự phối hợp cơ thể,  
các quá trình tư duy phân kì. Tư duy của não phải là "tố  
chất" của sự sáng tạo. Các chức năng của não trái có  
đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trong khi não phải có  
đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn. Não trái có thể  
ghép các mảnh rời rạc thành một tổng thể có tổ chức,  
trong khi não phải theo bản năng nhìn thấycái tổng thể  
trước sau đó mới đến từng phần nhỏ. Hai bán cầu não  
cần phải hoạt động cân bằng và phối hợp với nhau để  
con người phát triển toàn diện, hài hoà và sức khoẻ  
tinh thần cũng như thể chất được cân bằng  
(A.W.Mubzert, 1994).  
Tác giả Ganong (1983) đã đề nghị thay thế  
khái niệm "ưu thế" bằng khái niệm "phân công": bán  
cầu não phải có chức năng xử lí các quan hệ nghe và  
nhìn trong không gian, gọi là bán cầu biểu tượng  
(Representatinonal Hemisphere); còn bán cầu não trái  
có chức năng ngôn ngữ và phân tích, gọi là bán cầu  
minh  
bạch  
(Sequetial  
Analysis,  
Categorical  
Hemisphere).  
Xét trên phương diện chức năng cơ bản của  
não, có thể chia thành ba khối hay ba bộ máy cơ bản  
của nó mà sự tham gia của chúng rất cần thiết đối với  
việc điều khiển các hoạt động tâm lí. Hoạt động sáng  
tạo của con người cùng dựa trên nền tảng đặc biệt  
này:  
- Khối điều hành trương lực hay trạng thái  
thức tỉnh.  
- Khối tiếp nhận, cải biến và bảo tồn thông tin  
từ bên ngoài tác động vào.  
- Khối lập trình, điều khiển và kiểm tra hoạt  
động tâm lí.  
Có thể nhận thấy mỗi một khối cơ bản đều có  
cấu trúc thứ bậc và cấu trúc ít nhất từ ba dạng được  
xếp theo thứ bậc của các vùng não: vùng tiên phát (hay  
phóng chiếu), vùng thứ phát (phóng chiếu - liên hợp)  
và vùng não cấp ba (vùng mở). Bán cầu đại não của  
con người hoạt động và những ý tưởng mới dù có  
được loé sáng vẫn phải dựa trên nền tảng của hoạt  
động não bộ dựa trên những chức năng mà vùng não  
cấp ba tham gia chi phối trực tiếp để tạo ra sản phẩm  
của sự sáng tạo.  
1.2. Cơ chế tâm lí của sáng tạo  
Để tìm ra cơ chế tâm lí của sáng tạo thì có  
khá nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, có thể  
quan tâm đến những quan điểm cơ bản như: sáng tạo  
là một quá trình được thực hiện theo cơ chế logic -  
sáng tạo dựa trên những giai đoạn được kết cấu mở  
mà vai trò trọng tâm ở đây là tư duy, sáng tạo có mắt  
xích trung tâm là linh cảm trực giác,...  
Có thể phân tích một số quan điểm cơ bản:  
a. Cơ chế logic của sáng tạo  
Nhiều nhà nghiên cứu về sáng tạo mà đặc  
biệt là Tâm lí học sáng tạo đã tìm hiểu cơ chế tâm lí  
của sáng tạo hay diễn tiến của việc tạo ra sản phẩm  
sáng tạo theo cấu trúc nhất định. Các hành động cụ  
thể trong hoạt động sáng tạo được tồn tại như một thứ  
logic. Có thể đề cập đầu tiên đến Wallas (1926), tác  
giả cho rằng quá trình sáng tạo gồm bốn giai đoạn kế  
tiếp nhau: giai đoạn chuẩn bị (Preparation), giai đoạn  
ấp ủ (Incubation), giai đoạn chiếu sáng (Illumination)  
và giai đoạn phát minh (Vertification). Mô hình bốn giai  
đoạn của Wallas về quá trình sáng tạo cho thấy các  
giai đoạn diễn ra theo một kết cấu logic để giúp cho  
việc tìm hiểu cơ chế tâm lí của hoạt động sáng tạo  
theo một sơ đồ khung để nhìn nhận sự sáng tạo một  
cách có hệ thống.  
Theo quan điểm cơ chế logic của sự sáng  
tạo, thì nhiều nhà Tâm lí học quan tâm đặc biệt đến sự  
tham gia của yếu tố tư duy trong khi sáng tạo. Những  
quan niệm này đi đến khẳng định trong tư duy có sáng  
tạo và trong hoạt động sáng tạo có tư duy. Có thể nói,  
tư duy là một yếu tố quan trọng đặc biệt trong cơ chế  
logic của sáng tạo.  
Ngay từ năm 1934, A.N.Leonchiev đã có công  
trình nghiên cứu "Tư duy là mắt xích trung tâm của  
hoạt động sáng tạo". Trong báo cáo này, tác giả tập  
trung vào phân tích và chỉ rõ rằng tư duy đóng một vai  
trò cực kì quan trọng và cần thiết trong sáng tạo nếu  
như không muốn nói là trọng tâm. Những yếu tố khác  
như xúc cảm, linh cảm trực giác,... chưa được quan  
tâm và đề cập trong báo cáo này.  
Một quan niệm cũng khá đặc biệt theo hướng  
này là tập trung nghiên cứu gần 2000 nhà khoa học  
khác nhau và yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình sáng  
tạo. Yếu tố ngẫu nhiên được đánh giá là rất quan trọng  
nhưng nền tảng của nó vẫn dựa trên sự tham gia đặc  
biệt của tư duytrong cơ chế logic của sự sáng tạo.  
Theo hướng này, quan niệm hoạt động sáng  
tạo theo ba bước được nhiều cá nhân nghiên cứu sâu:  
- Bước 1: Cảm nhận được vấn đề.  
+ Cảm thấyđang tồn tại vướng mắc nào đó về  
lí luận hoặc thực tiễn.  
+ Biểu đạt được vướng mắc của mình.  
+ Mong muốn giải quyết vấn đề.  
- Bước 2: Đưa ra giả thuyết, giải pháp dự kiến.  
+ Gắn vấn đề với tri thức, kinh nghiệm.  
+ Đưa ra những giải pháp.  
+ Chọn một giải pháp.  
- Bước 3: Kiểm tra giả thuyết.  
+ Thực thi giả thuyết, giải pháp đã chọn.  
+ Đánh giá giải pháp trên cơ sở kết quả của  
nó.  
Có thể đề cập đến Anghermayer đã chia quá trình  
sáng tạo thành các giai đoạn khác nhau:  
- Giai đoạn 1: Hoạt động của cảm nhận, ước  
muốn làm xuất hiện ý tưởng.  
- Giai đoạn 2: Nhận thức, lập luận, xây dựng  
mô hình và kế hoạch.  
- Giai đoạn 3: Thiết kế và thực hiện những  
phát minh  
Tác giả M.A.Blok cũng tìm hiểu cơ chế tâm lí  
của hoạt động sáng tạo và chia thành ba giai đoạn:  
- Giai đoạn 1: Xuất hiện những ý tưởng, ý đồ  
gần với sự sáng tạo hoặc giả thuyết sáng tạo.  
- Giai đoạn 2: Chứng minh các giả thuyết đã  
nghĩ  
- Giai đoạn 3: Thực hiện các ý đồ, ý tưởng  
Một quan niệm cũng được nhiều người tán  
đồng khi nhìn nhận về cơ chế tâm lí của việc tạo ra  
những cải tiến trong cuộc sống trên góc nhìn tạo ra ý  
tưởng. Quan niệm này cho rằng cơ chế tâm lí của sự  
sáng tạo gồm các giai đoạn:  
- Hoạt động của cảm hứng, tưởng tượng làm  
xuất hiện những ý tưởng sáng tạo.  
- Sắp xếp một cách hợp lí những ý nghĩ,  
những tư tưởng nhờ vào quá trình trừu tượng hoá, khái  
quát hoá của tư duy.  
- Thực hiện các ý tưởng sáng tạo.  
Có thể quan tâm đến ý tưởng của Jack Foster  
(chuyên gia giảng dạy về quảng cáo) đến các bước  
logic của sáng tạo. Ông cho rằng có các bước cụ thể  
sau:  
- Định nghĩa vấn đề;  
- Thu thập thông tin;  
- Tìm ý tưởng;  
- Quên phắt nó đi;  
- Biến ý tưởng thành hành động.  
Ngoài ra, có thể đề cập thêm đến ý tưởng của  
James Webb Young khi ông mô tả năm bước của việc  
sản sinh sản phẩm sáng tạo:  
- Trí não thu thập vật liệu ròng;  
- Trí não tiêu hoá những vật liệu thu thập  
được;  
- Buông lơi chủ đề và tống khứ vấn đề ra khỏi  
đầu óc càng trọn vẹn càng tốt;  
- Ý tưởng sẽ xuất hiện từ chốn không;  
- Đưa ý tưởng nhỏ bé ấyvào thực tế.  
Xem xét việc sáng tạo như là một thời kì  
chuẩn bị cao độ về mặt trí tuệ và có sự tham gia của tư  
duy, các giai đoạn thực hiện hoạt động sáng tạo được  
nêu ra như sau:  
- Có nhu cầu sáng tạo;  
- Xác định hayphát hiện vấn đề;  
- Nảysinh ý tưởng và hình thành nhiệm vụ;  
- Tìm cách giải quyết nhiệm vụ;  
- Phát hiện những nguyên tắc, phát minh,  
sáng chế;  
- Thực hiện ý đồ, ý tưởng sáng tạo.  
Nhà Tâm lí học người ThụySĩ Jones đã tìm ra  
các giai đoạn của sự sáng tạo như sau:  
- Giai đoạn rối trí;  
- Giai đoạn thu thập thông tin;  
- Giai đoạn sắp xếp thông tin;  
- Giai đoạn loé sáng và tạo ra ý nghĩ mới;  
- Giai đoạn thực hiện, kiểm tra.  
Nhà nghiên cứu H.Lavsa cho rằng quy trình  
sáng tạo gồm giai đoạn định hướng, giai đoạn chuẩn  
bị tiếp tục và tìm thông tin, giai đoạn phát minh, giai  
đoạn kiểm tra - đánh giá:  
Triết gia người Đức Helmhotzcho cho rằng  
ông thường sử dụng chiến lược ba bước để lấy ý  
tưởng mới:  
- Thứ nhất là cần "chuẩn bị". Đó là thời gian  
khảo sát vấn đề "ở mọi khía cạnh".  
- Thứ hai là "ấp ủ". Đó là lúc suy nghĩ một  
cách có ý thức đến vấn đề hữu quan.  
- Thứ ba là "phát kiến". Đó là lúc mà những ý  
tưởng may mắn đến một cách bất ngờ mà không mất  
chút công sức nào, tựa như linh cảm mách bảo.  
Mặt khác, nhìn về các giai đoạn sáng tạo theo  
tiến trình logic, Charles S. Wakefield cho rằng có năm  
giai đoạn trí não để thực hiện hoạt động sáng tạo:  
- Nhận thức vấn đề;  
- Định nghĩa vấn đề;  
- Bão hoà về vấn đề và những dữ kiện liên  
quan đến vấn đề đó;  
- Ấp ủ vấn đề ở bề mặt yên tĩnh;  
- Sự bùng nổ - nội chứng và thực hiện bước  
nhảy đột ngột vượt trên logic, vượt trên những giải  
pháp bình thường;  
Không thể không đề cập đến nhà nghiên cứu  
N.Luk đã nghiên cứu hoạt động sáng tạo và đưa ra  
các giai đoạn sau:  
- Tích luỹ tri thức, tích luỹ kinh nghiệm cần  
- Tập trung - nỗ lực - tìm kiếm, bổ sung thông  
- Nung nấu - "thai nghén" vấn đề, "thai nghén"  
thiết;  
tin;  
nhiệm vụ;  
- Thời kì linh cảm haybừng sáng.  
Cũng không thể bỏ qua quan niệm quá trình  
sáng tạo diễn ra theo một số bước nhất định trong cấu  
trúc logic "chặt". Nhiều quan niệm đồng ý rằng quá  
trình sáng tạo diễn ra sáu bước sau:  
- Nhận ra vấn đề;  
- Phân tích vấn đề thành các tiểu vấn đề;  
- Gắn vấn đề vào những quan hệ với những  
lĩnh vực tri thức chuyên biệt nhất định, nhận thức tái  
tạo;  
- Xâydựng giả thuyết, giải pháp dự kiến;  
- Kiểm chứng giả thuyết;  
- Xác định giải pháp mới, nhận thức mới, đạt  
được cái mới.  
Mô hình này cũng thể hiện rõ tính rành mạch  
trong việc hình thành một cái mới trải qua những giai  
đoạn nhất định trong sự hoạt động tích cực của tâm lí  
cá nhân.  
Bên cạnh đó, có thể phân tích thêm cơ chế  
logic của sáng tạo bằng một quan niệm cũng khá cụ  
thể. Quan niệm này gắn với quá trình sáng tạo của  
người học khi tiếp nhận tri thức và hoạt động cùng  
chúng. Có thể phân tích cơ chế nàythông qua ba bước  
sau:  
- Nhận ra vấn đề  
Người học nhận thức được vấn đề mình đang  
quan tâm, suynghĩ haycần giải quyết và biểu đạt được  
mong muốn, nhu cầu đó một cách cụ thể.  
- Đưa ra các giả thuyết, giải pháp  
Người học gắn vấn đề với tri thức, kinh  
nghiệm và đưa ra các giải pháp dự kiến để sau đó  
chọn lọc giải pháp tối ưu.  
- Kiểm tra giả thuyết  
Người học thực thi giải pháp đã chọn cũng  
như đánh giá hiệu quả của nó dưới góc nhìn sáng tạo.  
Như vậy, dù cho các tác giả có những quan  
niệm khác nhau nhưng có thể thấy trong cơ chế của  
sáng tạo nảysinh các bước cơ bản sau:  
- Nhận thức vấn đề và chuẩn bị  
Ở giai đoạn này, các cá nhân sáng tạo  
thường chuẩn bị bằng cách nhận thức vấn đề và tìm  
những phương tiện để giải quyết vấn đề. Để thực hiện  
điều nàythì sự tham gia của hoạt động nhận thức là vô  
cùng quan trọng.  
Trong giai đoạn này, cá nhân phải vận dụng  
những kinh nghiệm cũ, sắp xếp logic theo mục đích  
giải quyết nhiệm vụ đã được xác lập. Nếu có sự nghèo  
nàn về kiến thức, kinh nghiệm, hứng thú, xúc cảm thì  
sẽ nghèo nàn tưởng tượng và kéo theo đó là giai đoạn  
chuẩn bị cũng hết sức khó khăn.  
- Giai đoạn phát sinh  
Ở giai đoạn này chủ thể sáng tạo thường  
nung nấu, thai nghén vấn đề và có thể nói rằng sự  
tưởng tượng vượt khung hay những yếu tố thuộc về  
cảm nhận rất có giá trị.  
- Giai đoạn phát minh  
Giai đoạn này có sự tham gia đặc biệt của  
cảm nhận hay còn gọi là linh cảm trực giác. Kết quả  
của những phát minh chủ yếu bằng trực giác và vấn đề  
có thể bất ngờ được giải quyết hayđược xuất hiện. Đây  
là đỉnh của hoạt động sáng tạo.  
- Giai đoạn kiểm tra  
Thông qua những bằng chứng, vấn đề mới  
sẽ được kiểm tra kết quả. Đây là giai đoạn rất cần thiết  
để một lần nữa xác lập tính khả thi của ý tưởng hay  
giải pháp.  
Ngoài ra, nhìn nhận về sáng tạo như là sự  
nhạy bén của tư duy thì tác giả Phan Dũng cho rằng  
sáng tạo sẽ xuất hiện khi rào cản tâm lí lớn, làm cản  
trở quá trình tư duy bình thường diễn ra. Ông khẳng  
định chính rào cản tâm lí sẽ thách thức làm cho não  
bộ phải hoạt động một cách cực kì mạnh mẽ và độc  
đáo, chính kiểu hoạt động đặc thù này mới tạo ra sự  
sáng tạo một cách đích thực.  
Trên cơ sở này, tác giả đưa ra mô hình quá  
trình tư duy bình thường và sơ đồ về tính nhạy bén của  
tư duyđể minh hoạ:  
Hình 1. Sơ đồ quá trình tư duy bình thường (Theo PGS.  
TS Phan Dũng).  
Ở hình này, vấn đề cần chú ý đó chính là mối  
tương quan giữa yêu cầu và nhiều loại ý tưởng. Chính  
cơ sở này là yếu tố quan trọng để tư duy hoạt động tích  
cực.  
Hình 2. Sơ đồ tính nhạy bén của tư duy.  
Từ hình 2, ta thấy chủ thể phải có đường suy  
nghĩ 1 ở trong đầu thể hiện nhu cầu giải một bài toán  
nào đó.Đường 2 là đường cung cấp thông tin (nhiều  
khi không cố ý, mang tính chất tình cờ, ngẫu nhiên),  
trong đó có thông tin đem lại giá trị giải bài toán.Chủ  
thể lập được đường liên hệ giữa đường 1 và đường 2,  
tức là tìm được sự liên quan giữa thông tin được cung  
cấp và bài toán cần giải. Tuỳ thuộc vào mức độ khao  
khát giải được bài toán, cách liên kết đường 1 và  
đường 2 của người giải, mức độ rõ ràng của thông tin  
cung cấp mà có thể xảyra một trong hai hiệu ứng: hiệu  
ứng nhảy cầu hoặc hiệu ứng đường hầm giúp chủ thể  
vượt qua rào cản tâm lí để đi đến ý tưởng dẫn đến lời  
giải.  
Để tăng tính nhạy bén của tư duy, chủ thể cần  
tạo những đường 1 ở trong đầu và cách liên kết bằng  
việc tự đề ra những câu hỏi đối với những kiến thức  
lưu giữ trong trí nhớ.  
Rõ ràng trong quan điểm của tác giả, sự  
tham gia của tư duy cũng như trí nhớ là điều vô cùng  
quan trọng. Tuy vậy, những dữ liệu có được chỉ là yếu  
tố ban đầu vì lời giải độc đáo phải tạo ra được từ hiệu  
ứng cầu nhảy mà hiệu ứng này luôn đưa ra những  
"sản phẩm độc đáo" và lí thú. Đó chính là cơ chế của  
sự sáng tạo ở con người.  
Như vậy, dù cho có chia cắt các thành phần  
hay các giai đoạn khác nhau trong hoạt động sáng tạo  
nhưng mỗi giai đoạn đều đóng vai trò rất quan trọng  
để hướng đến sự đồng bộ và các giai đoạn cùng tồn  
tại, cùng đan xen một cách chặt chẽ và thống nhất. Các  
giai đoạn này không thể vượt khỏi "tiến trình" của việc  
giải quyết vấn đề dù rằng trong từng giai đoạn sẽ có  
những đặc trưng rất riêng khác với quá trình tư duy của  
con người. Yếu tố đặc trưng ở đây là hướng đến cái  
mới nhất bằng những cách thức rất độc đáo và hiệu  
quả nhất.  
b. Cơ chế linh cảm trực giác của sáng tạo  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 161 trang Thùy Anh 13280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tâm lí học sáng tạo (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftam_li_hoc_sang_tao_phan_2.pdf