Tâm lí học sáng tạo (Phần 2)
1. CƠ CHẾTÂM LÍ CỦA HOẠT ĐỘNG
SÁNGTẠO
1.1. Cơ sở sinh lí của sáng tạo
Một trong những cơ sở sinh lí rất quan trọng
của sáng tạo đó là sự phát triển não bộ. Những
nghiên cứu về não bộ cho thấy hoạt động tích cực của
bán cầu đại não là tiền đề rất quan trọng để sự sáng
tạo xuất hiện. Trong hoạt động sáng tạo của con
người, bán cầu đại não là cơ sở để những ý tưởng
xuất hiện khi nó hoạt động một cách tập trung theo
nguyên tắc "khai sáng".
Dưới góc độ giải phẫu sinh lí, giữa bán cầu
não trái và bán cầu não phải có sự khác biệt nhất định.
Nếu như trước đây, một số người cho rằng "não trái" là
ưu thế và ngược lại, bán cầu não phải là "không ưu
thế" thì đến thời điểm này cần nhìn nhận về vấn đề này
một cách nghiêm túc. Những nghiên cứu về hoạt động
song hành, đồng bộ giữa hai bán cầu cũng như
những cơ sở vững chắc về vấn đề "định khu chức
năng" đã chứng minh rằng sự sáng tạo của con người
vẫn phải dựa trên hoạt động chuyên biệt của não bộ.
Sự khác biệt về chức năng của hai bán cầu
não được đánh giá bởi các hoạt động của mỗi bán
cầu não. Bán cầu trái là trung tâm điều khiển các chức
năng trí tuệ như: trí nhớ, ngôn ngữ, lí luận, tính toán,
sắp xếp, phân loại, viết, phân tích, tư duy hội tụ. Bán
cầu não phải là trung tâm điều khiển các chức năng
như: trực giác, ngoại cảm, thái độ và cảm xúc, các liên
hệ thị giác - không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp
điệu, vũ điệu, các hoạt động có sự phối hợp cơ thể,
các quá trình tư duy phân kì. Tư duy của não phải là "tố
chất" của sự sáng tạo. Các chức năng của não trái có
đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trong khi não phải có
đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn. Não trái có thể
ghép các mảnh rời rạc thành một tổng thể có tổ chức,
trong khi não phải theo bản năng nhìn thấycái tổng thể
trước sau đó mới đến từng phần nhỏ. Hai bán cầu não
cần phải hoạt động cân bằng và phối hợp với nhau để
con người phát triển toàn diện, hài hoà và sức khoẻ
tinh thần cũng như thể chất được cân bằng
(A.W.Mubzert, 1994).
Tác giả Ganong (1983) đã đề nghị thay thế
khái niệm "ưu thế" bằng khái niệm "phân công": bán
cầu não phải có chức năng xử lí các quan hệ nghe và
nhìn trong không gian, gọi là bán cầu biểu tượng
(Representatinonal Hemisphere); còn bán cầu não trái
có chức năng ngôn ngữ và phân tích, gọi là bán cầu
minh
bạch
(Sequetial
Analysis,
Categorical
Hemisphere).
Xét trên phương diện chức năng cơ bản của
não, có thể chia thành ba khối hay ba bộ máy cơ bản
của nó mà sự tham gia của chúng rất cần thiết đối với
việc điều khiển các hoạt động tâm lí. Hoạt động sáng
tạo của con người cùng dựa trên nền tảng đặc biệt
này:
- Khối điều hành trương lực hay trạng thái
thức tỉnh.
- Khối tiếp nhận, cải biến và bảo tồn thông tin
từ bên ngoài tác động vào.
- Khối lập trình, điều khiển và kiểm tra hoạt
động tâm lí.
Có thể nhận thấy mỗi một khối cơ bản đều có
cấu trúc thứ bậc và cấu trúc ít nhất từ ba dạng được
xếp theo thứ bậc của các vùng não: vùng tiên phát (hay
phóng chiếu), vùng thứ phát (phóng chiếu - liên hợp)
và vùng não cấp ba (vùng mở). Bán cầu đại não của
con người hoạt động và những ý tưởng mới dù có
được loé sáng vẫn phải dựa trên nền tảng của hoạt
động não bộ dựa trên những chức năng mà vùng não
cấp ba tham gia chi phối trực tiếp để tạo ra sản phẩm
của sự sáng tạo.
1.2. Cơ chế tâm lí của sáng tạo
Để tìm ra cơ chế tâm lí của sáng tạo thì có
khá nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, có thể
quan tâm đến những quan điểm cơ bản như: sáng tạo
là một quá trình được thực hiện theo cơ chế logic -
sáng tạo dựa trên những giai đoạn được kết cấu mở
mà vai trò trọng tâm ở đây là tư duy, sáng tạo có mắt
xích trung tâm là linh cảm trực giác,...
Có thể phân tích một số quan điểm cơ bản:
a. Cơ chế logic của sáng tạo
Nhiều nhà nghiên cứu về sáng tạo mà đặc
biệt là Tâm lí học sáng tạo đã tìm hiểu cơ chế tâm lí
của sáng tạo hay diễn tiến của việc tạo ra sản phẩm
sáng tạo theo cấu trúc nhất định. Các hành động cụ
thể trong hoạt động sáng tạo được tồn tại như một thứ
logic. Có thể đề cập đầu tiên đến Wallas (1926), tác
giả cho rằng quá trình sáng tạo gồm bốn giai đoạn kế
tiếp nhau: giai đoạn chuẩn bị (Preparation), giai đoạn
ấp ủ (Incubation), giai đoạn chiếu sáng (Illumination)
và giai đoạn phát minh (Vertification). Mô hình bốn giai
đoạn của Wallas về quá trình sáng tạo cho thấy các
giai đoạn diễn ra theo một kết cấu logic để giúp cho
việc tìm hiểu cơ chế tâm lí của hoạt động sáng tạo
theo một sơ đồ khung để nhìn nhận sự sáng tạo một
cách có hệ thống.
Theo quan điểm cơ chế logic của sự sáng
tạo, thì nhiều nhà Tâm lí học quan tâm đặc biệt đến sự
tham gia của yếu tố tư duy trong khi sáng tạo. Những
quan niệm này đi đến khẳng định trong tư duy có sáng
tạo và trong hoạt động sáng tạo có tư duy. Có thể nói,
tư duy là một yếu tố quan trọng đặc biệt trong cơ chế
logic của sáng tạo.
Ngay từ năm 1934, A.N.Leonchiev đã có công
trình nghiên cứu "Tư duy là mắt xích trung tâm của
hoạt động sáng tạo". Trong báo cáo này, tác giả tập
trung vào phân tích và chỉ rõ rằng tư duy đóng một vai
trò cực kì quan trọng và cần thiết trong sáng tạo nếu
như không muốn nói là trọng tâm. Những yếu tố khác
như xúc cảm, linh cảm trực giác,... chưa được quan
tâm và đề cập trong báo cáo này.
Một quan niệm cũng khá đặc biệt theo hướng
này là tập trung nghiên cứu gần 2000 nhà khoa học
khác nhau và yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình sáng
tạo. Yếu tố ngẫu nhiên được đánh giá là rất quan trọng
nhưng nền tảng của nó vẫn dựa trên sự tham gia đặc
biệt của tư duytrong cơ chế logic của sự sáng tạo.
Theo hướng này, quan niệm hoạt động sáng
tạo theo ba bước được nhiều cá nhân nghiên cứu sâu:
- Bước 1: Cảm nhận được vấn đề.
+ Cảm thấyđang tồn tại vướng mắc nào đó về
lí luận hoặc thực tiễn.
+ Biểu đạt được vướng mắc của mình.
+ Mong muốn giải quyết vấn đề.
- Bước 2: Đưa ra giả thuyết, giải pháp dự kiến.
+ Gắn vấn đề với tri thức, kinh nghiệm.
+ Đưa ra những giải pháp.
+ Chọn một giải pháp.
- Bước 3: Kiểm tra giả thuyết.
+ Thực thi giả thuyết, giải pháp đã chọn.
+ Đánh giá giải pháp trên cơ sở kết quả của
nó.
Có thể đề cập đến Anghermayer đã chia quá trình
sáng tạo thành các giai đoạn khác nhau:
- Giai đoạn 1: Hoạt động của cảm nhận, ước
muốn làm xuất hiện ý tưởng.
- Giai đoạn 2: Nhận thức, lập luận, xây dựng
mô hình và kế hoạch.
- Giai đoạn 3: Thiết kế và thực hiện những
phát minh
Tác giả M.A.Blok cũng tìm hiểu cơ chế tâm lí
của hoạt động sáng tạo và chia thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Xuất hiện những ý tưởng, ý đồ
gần với sự sáng tạo hoặc giả thuyết sáng tạo.
- Giai đoạn 2: Chứng minh các giả thuyết đã
nghĩ
- Giai đoạn 3: Thực hiện các ý đồ, ý tưởng
Một quan niệm cũng được nhiều người tán
đồng khi nhìn nhận về cơ chế tâm lí của việc tạo ra
những cải tiến trong cuộc sống trên góc nhìn tạo ra ý
tưởng. Quan niệm này cho rằng cơ chế tâm lí của sự
sáng tạo gồm các giai đoạn:
- Hoạt động của cảm hứng, tưởng tượng làm
xuất hiện những ý tưởng sáng tạo.
- Sắp xếp một cách hợp lí những ý nghĩ,
những tư tưởng nhờ vào quá trình trừu tượng hoá, khái
quát hoá của tư duy.
- Thực hiện các ý tưởng sáng tạo.
Có thể quan tâm đến ý tưởng của Jack Foster
(chuyên gia giảng dạy về quảng cáo) đến các bước
logic của sáng tạo. Ông cho rằng có các bước cụ thể
sau:
- Định nghĩa vấn đề;
- Thu thập thông tin;
- Tìm ý tưởng;
- Quên phắt nó đi;
- Biến ý tưởng thành hành động.
Ngoài ra, có thể đề cập thêm đến ý tưởng của
James Webb Young khi ông mô tả năm bước của việc
sản sinh sản phẩm sáng tạo:
- Trí não thu thập vật liệu ròng;
- Trí não tiêu hoá những vật liệu thu thập
được;
- Buông lơi chủ đề và tống khứ vấn đề ra khỏi
đầu óc càng trọn vẹn càng tốt;
- Ý tưởng sẽ xuất hiện từ chốn không;
- Đưa ý tưởng nhỏ bé ấyvào thực tế.
Xem xét việc sáng tạo như là một thời kì
chuẩn bị cao độ về mặt trí tuệ và có sự tham gia của tư
duy, các giai đoạn thực hiện hoạt động sáng tạo được
nêu ra như sau:
- Có nhu cầu sáng tạo;
- Xác định hayphát hiện vấn đề;
- Nảysinh ý tưởng và hình thành nhiệm vụ;
- Tìm cách giải quyết nhiệm vụ;
- Phát hiện những nguyên tắc, phát minh,
sáng chế;
- Thực hiện ý đồ, ý tưởng sáng tạo.
Nhà Tâm lí học người ThụySĩ Jones đã tìm ra
các giai đoạn của sự sáng tạo như sau:
- Giai đoạn rối trí;
- Giai đoạn thu thập thông tin;
- Giai đoạn sắp xếp thông tin;
- Giai đoạn loé sáng và tạo ra ý nghĩ mới;
- Giai đoạn thực hiện, kiểm tra.
Nhà nghiên cứu H.Lavsa cho rằng quy trình
sáng tạo gồm giai đoạn định hướng, giai đoạn chuẩn
bị tiếp tục và tìm thông tin, giai đoạn phát minh, giai
đoạn kiểm tra - đánh giá:
Triết gia người Đức Helmhotzcho cho rằng
ông thường sử dụng chiến lược ba bước để lấy ý
tưởng mới:
- Thứ nhất là cần "chuẩn bị". Đó là thời gian
khảo sát vấn đề "ở mọi khía cạnh".
- Thứ hai là "ấp ủ". Đó là lúc suy nghĩ một
cách có ý thức đến vấn đề hữu quan.
- Thứ ba là "phát kiến". Đó là lúc mà những ý
tưởng may mắn đến một cách bất ngờ mà không mất
chút công sức nào, tựa như linh cảm mách bảo.
Mặt khác, nhìn về các giai đoạn sáng tạo theo
tiến trình logic, Charles S. Wakefield cho rằng có năm
giai đoạn trí não để thực hiện hoạt động sáng tạo:
- Nhận thức vấn đề;
- Định nghĩa vấn đề;
- Bão hoà về vấn đề và những dữ kiện liên
quan đến vấn đề đó;
- Ấp ủ vấn đề ở bề mặt yên tĩnh;
- Sự bùng nổ - nội chứng và thực hiện bước
nhảy đột ngột vượt trên logic, vượt trên những giải
pháp bình thường;
Không thể không đề cập đến nhà nghiên cứu
N.Luk đã nghiên cứu hoạt động sáng tạo và đưa ra
các giai đoạn sau:
- Tích luỹ tri thức, tích luỹ kinh nghiệm cần
- Tập trung - nỗ lực - tìm kiếm, bổ sung thông
- Nung nấu - "thai nghén" vấn đề, "thai nghén"
thiết;
tin;
nhiệm vụ;
- Thời kì linh cảm haybừng sáng.
Cũng không thể bỏ qua quan niệm quá trình
sáng tạo diễn ra theo một số bước nhất định trong cấu
trúc logic "chặt". Nhiều quan niệm đồng ý rằng quá
trình sáng tạo diễn ra sáu bước sau:
- Nhận ra vấn đề;
- Phân tích vấn đề thành các tiểu vấn đề;
- Gắn vấn đề vào những quan hệ với những
lĩnh vực tri thức chuyên biệt nhất định, nhận thức tái
tạo;
- Xâydựng giả thuyết, giải pháp dự kiến;
- Kiểm chứng giả thuyết;
- Xác định giải pháp mới, nhận thức mới, đạt
được cái mới.
Mô hình này cũng thể hiện rõ tính rành mạch
trong việc hình thành một cái mới trải qua những giai
đoạn nhất định trong sự hoạt động tích cực của tâm lí
cá nhân.
Bên cạnh đó, có thể phân tích thêm cơ chế
logic của sáng tạo bằng một quan niệm cũng khá cụ
thể. Quan niệm này gắn với quá trình sáng tạo của
người học khi tiếp nhận tri thức và hoạt động cùng
chúng. Có thể phân tích cơ chế nàythông qua ba bước
sau:
- Nhận ra vấn đề
Người học nhận thức được vấn đề mình đang
quan tâm, suynghĩ haycần giải quyết và biểu đạt được
mong muốn, nhu cầu đó một cách cụ thể.
- Đưa ra các giả thuyết, giải pháp
Người học gắn vấn đề với tri thức, kinh
nghiệm và đưa ra các giải pháp dự kiến để sau đó
chọn lọc giải pháp tối ưu.
- Kiểm tra giả thuyết
Người học thực thi giải pháp đã chọn cũng
như đánh giá hiệu quả của nó dưới góc nhìn sáng tạo.
Như vậy, dù cho các tác giả có những quan
niệm khác nhau nhưng có thể thấy trong cơ chế của
sáng tạo nảysinh các bước cơ bản sau:
- Nhận thức vấn đề và chuẩn bị
Ở giai đoạn này, các cá nhân sáng tạo
thường chuẩn bị bằng cách nhận thức vấn đề và tìm
những phương tiện để giải quyết vấn đề. Để thực hiện
điều nàythì sự tham gia của hoạt động nhận thức là vô
cùng quan trọng.
Trong giai đoạn này, cá nhân phải vận dụng
những kinh nghiệm cũ, sắp xếp logic theo mục đích
giải quyết nhiệm vụ đã được xác lập. Nếu có sự nghèo
nàn về kiến thức, kinh nghiệm, hứng thú, xúc cảm thì
sẽ nghèo nàn tưởng tượng và kéo theo đó là giai đoạn
chuẩn bị cũng hết sức khó khăn.
- Giai đoạn phát sinh
Ở giai đoạn này chủ thể sáng tạo thường
nung nấu, thai nghén vấn đề và có thể nói rằng sự
tưởng tượng vượt khung hay những yếu tố thuộc về
cảm nhận rất có giá trị.
- Giai đoạn phát minh
Giai đoạn này có sự tham gia đặc biệt của
cảm nhận hay còn gọi là linh cảm trực giác. Kết quả
của những phát minh chủ yếu bằng trực giác và vấn đề
có thể bất ngờ được giải quyết hayđược xuất hiện. Đây
là đỉnh của hoạt động sáng tạo.
- Giai đoạn kiểm tra
Thông qua những bằng chứng, vấn đề mới
sẽ được kiểm tra kết quả. Đây là giai đoạn rất cần thiết
để một lần nữa xác lập tính khả thi của ý tưởng hay
giải pháp.
Ngoài ra, nhìn nhận về sáng tạo như là sự
nhạy bén của tư duy thì tác giả Phan Dũng cho rằng
sáng tạo sẽ xuất hiện khi rào cản tâm lí lớn, làm cản
trở quá trình tư duy bình thường diễn ra. Ông khẳng
định chính rào cản tâm lí sẽ thách thức làm cho não
bộ phải hoạt động một cách cực kì mạnh mẽ và độc
đáo, chính kiểu hoạt động đặc thù này mới tạo ra sự
sáng tạo một cách đích thực.
Trên cơ sở này, tác giả đưa ra mô hình quá
trình tư duy bình thường và sơ đồ về tính nhạy bén của
tư duyđể minh hoạ:
Hình 1. Sơ đồ quá trình tư duy bình thường (Theo PGS.
TS Phan Dũng).
Ở hình này, vấn đề cần chú ý đó chính là mối
tương quan giữa yêu cầu và nhiều loại ý tưởng. Chính
cơ sở này là yếu tố quan trọng để tư duy hoạt động tích
cực.
Hình 2. Sơ đồ tính nhạy bén của tư duy.
Từ hình 2, ta thấy chủ thể phải có đường suy
nghĩ 1 ở trong đầu thể hiện nhu cầu giải một bài toán
nào đó.Đường 2 là đường cung cấp thông tin (nhiều
khi không cố ý, mang tính chất tình cờ, ngẫu nhiên),
trong đó có thông tin đem lại giá trị giải bài toán.Chủ
thể lập được đường liên hệ giữa đường 1 và đường 2,
tức là tìm được sự liên quan giữa thông tin được cung
cấp và bài toán cần giải. Tuỳ thuộc vào mức độ khao
khát giải được bài toán, cách liên kết đường 1 và
đường 2 của người giải, mức độ rõ ràng của thông tin
cung cấp mà có thể xảyra một trong hai hiệu ứng: hiệu
ứng nhảy cầu hoặc hiệu ứng đường hầm giúp chủ thể
vượt qua rào cản tâm lí để đi đến ý tưởng dẫn đến lời
giải.
Để tăng tính nhạy bén của tư duy, chủ thể cần
tạo những đường 1 ở trong đầu và cách liên kết bằng
việc tự đề ra những câu hỏi đối với những kiến thức
lưu giữ trong trí nhớ.
Rõ ràng trong quan điểm của tác giả, sự
tham gia của tư duy cũng như trí nhớ là điều vô cùng
quan trọng. Tuy vậy, những dữ liệu có được chỉ là yếu
tố ban đầu vì lời giải độc đáo phải tạo ra được từ hiệu
ứng cầu nhảy mà hiệu ứng này luôn đưa ra những
"sản phẩm độc đáo" và lí thú. Đó chính là cơ chế của
sự sáng tạo ở con người.
Như vậy, dù cho có chia cắt các thành phần
hay các giai đoạn khác nhau trong hoạt động sáng tạo
nhưng mỗi giai đoạn đều đóng vai trò rất quan trọng
để hướng đến sự đồng bộ và các giai đoạn cùng tồn
tại, cùng đan xen một cách chặt chẽ và thống nhất. Các
giai đoạn này không thể vượt khỏi "tiến trình" của việc
giải quyết vấn đề dù rằng trong từng giai đoạn sẽ có
những đặc trưng rất riêng khác với quá trình tư duy của
con người. Yếu tố đặc trưng ở đây là hướng đến cái
mới nhất bằng những cách thức rất độc đáo và hiệu
quả nhất.
b. Cơ chế linh cảm trực giác của sáng tạo
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tâm lí học sáng tạo (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tam_li_hoc_sang_tao_phan_2.pdf

