Đề tài Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÒA BÌNH  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TỈNH  
NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY HỌC  
CHO GIÁO VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ  
CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH HÒA BÌNH  
GÓP PHẦN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG  
HÒA BÌNH, 2018  
- 1-  
1. Cơ quan quản lý đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình  
2. Cơ quan phối hợp thực hiện đề tài:  
- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình  
- Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mai Châu,  
- Phòng Giáo dục và Đào tạo Đà Bắc,  
3. Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình  
4. Chủ nhiệm đề tài:  
- Ông Bùi Trọng Đắc - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình  
5. Các thành viên tham gia đề tài:  
- Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Hiệu trưởng, trường CĐSP Hòa Bình, Thư ký đề tài  
- Bà Lê Thị Thu Hương - Phó trưởng phòng QLKH-BD, trường CĐSP Hòa  
Bình, thành viên  
- Ông Hoàng Minh Hảo - Trưởng khoa THCS, trường CĐSP Hòa Bình, thành  
- Ông Bùi Văn Dược - Trưởng khoa Tiểu học, trường CĐSP Hòa Bình, thành  
- Ông Quách Công Sơn - tổ trưởng tổ LLCT, trường CĐSP Hòa Bình thành  
- Ông Đặng Trọng Nghĩa, Trưởng phòng KT&ĐBCL, trường CĐSP Hòa  
viên  
viên  
viên  
Bình, thành viên  
- Ông Lương Việt Hùng, Chuyên viên phòng TCCB, Sở GD&ĐT, thành viên  
- Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm, Trưởng phòng GD TH, Sở GD&ĐT, thành viên  
- Ông Nguyễn Duy Tiến, Phó trưởng phòng GD TrH, Sở GD&ĐT, thành viên  
- 2-  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT..............................................................................................6  
- 3-  
- 4-  
- 5-  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BGH:  
CBGV:  
CNH:  
GD&ĐT:  
GDTX:  
GV:  
Ban giám hiệu  
Cán bộ giáo viên  
Công nghiệp hóa  
Giáo dục và đào tạo  
Giáo dục thường xuyên  
Giáo viên  
HĐH:  
HS:  
Hiện đại hóa  
Học sinh  
NTM:  
PTDTNT:  
QH:  
Nông thôn mới  
Phổ thông dân tộc nội trú  
Quốc hội  
QLGD:  
TH:  
Quản lý giáo dục  
Tiểu học  
THCS:  
THPT:  
TN-XH:  
TT:  
Trung học cơ sở  
Trung học phổ thông  
Tự nhiên - xã hội  
Thông tư  
UBND:  
Ủy ban nhân dân  
- 6-  
 
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Giáo dục trong mọi thời đại đều được coi là nền tảng cho sự phát triển của xã  
hội, đem lại sự phồn vinh cho nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh cho các  
quốc gia. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban chấp hành Trung  
ương lần thứ 8 khóa XI đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là  
sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát  
triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã  
hội”.  
Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội đã xác định rõ  
mục tiêu về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông là nhằm tạo  
chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; phát  
triển con người Việt Nam toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí,  
thể, mỹ, hướng tới “công dân toàn cầu”, phù hợp với Tuyên bố của tổ chức Giáo dục,  
Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc: “Học để biết - Học để làm - Học để chung  
sống - Học để tự khẳng định mình”.  
Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc khội cũng đã nêu rõ yêu cầu của đổi  
mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông là: “Kế thừa và phát triển  
những ưu điểm của chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông hiện hành, phát  
huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam và phù hợp với xu  
thế quốc tế, đồng thời đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình  
thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát  
triển phẩm chất và năng lực học sinh; ... tăng cường thực hành và gắn với thực tiễn  
cuộc sống...”.  
Trên tinh thần ấy, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp  
hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác  
định rõ nhiệm vụ cơ bản của các trường sư phạm là: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch  
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát  
- 7-  
   
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện  
chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng câp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các  
giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề  
nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm…”.  
Như vậy, muốn đạt được kết quả về công tác đổi mới giáo dục phổ thông trong  
giai đoạn hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, tổ chức dạy  
và học ở phổ thông thì việc xây dựng và thường xuyên bồi dưỡng nâng cao chất  
lượng đội ngũ giáo viên trong các nhà trường đóng vai trò then chốt. Điều đó khẳng  
định rằng trong sự nghiệp đổi mới giáo dục phổ thông thì các trường sư phạm không  
thể đứng ngoài cuộc. Ngược lại, “đổi mới ở trường sư phạm phải gắn bó chặt chẽ,  
hài hòa và song hành cùng đổi mới giáo dục phổ thông. Đổi mới sư phạm là điều  
kiện thành công cho đổi mới giáo dục phổ thông”(1)  
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục Tiểu học (TH) và Trung học cơ sở  
(THCS), việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, trong đó chú trọng về nâng cao  
năng lực dạy học trở thành một nhu cầu cấp bách trên phạm vi quốc gia. Trong khi,  
đặc trưng của chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay là thể hiện mục tiêu  
giáo dục phổ thông; quy định những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh  
cần đạt được sau mỗi cấp học, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình  
thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các  
môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông.(2)  
Sự thay đổi quan trọng này đòi hỏi đội ngũ giáo viên TH và THCS cần phải  
nhanh chóng tiếp cận với các đổi mới về kiến thức mới, không ngừng cập nhật, nâng  
cao kiến thức, năng lực dạy học để đáp ứng nhiệm vụ. Đây là một thách thức lớn đối  
với đa số đội ngũ giáo viên TH và THCS hiện có của tỉnh Hòa Bình, đặc biệt là giáo  
viên người dân tộc thiểu số bởi những hạn chế và bất cập về đặc điểm địa lý, kinh tế  
và xã hội vùng miền.  
1 Bộ GD&ĐT, 2015, tr. 10.  
2 Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Quyết định số 404/QĐ-TTg.  
- 8-  
Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện có 04 nhóm dân tộc được coi là nhóm dân tộc  
thiểu số, gồm: H’mông, Thái, Dao, và Tày. Điều kiện sinh hoạt, đi lại khó khăn, đặc  
trưng văn hóa vùng miền có nhiều rào cản đã tạo ra những hạn chế lớn đến khả năng  
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục và đào tạo (Ủy ban Dân tộc, 2010).  
Việc khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên TH và THCS trên địa bàn tỉnh  
là một yêu cầu, một đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải  
pháp bồi dưỡng và khắc phục những năng lực còn thiếu của đội ngũ giáo viên này,  
góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục tại địa bàn và công tác đổi mới giáo dục toàn  
diện của tỉnh.  
Đề tài “Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp  
tiểu học và trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông”  
hướng tới việc đánh giá đúng thực trạng hiện tại về năng lực dạy học của đội ngũ  
giáo viên người dân tộc thiểu số ở bậc TH và THCS tỉnh Hòa Bình, trên cơ sở đó tìm  
ra những giải pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của đại phương, của ngành để nâng  
cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên người dân tộc, đáp ứng yêu cầu đổi mới  
toàn diện về giáo dục đào tạo.  
2. Đối tượng nghiên cứu  
Một số giải pháp nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên người dân  
tộc thiểu số đang giảng dạy tại các trường TH và THCS tỉnh Hòa Bình.  
3. Phạm vi đề tài  
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân  
tộc thiểu số bậc TH và THCS. Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu tìm ra các giải pháp  
phù hợp nhằm nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu  
số đang giảng dạy bậc TH và THCS, góp phần đáp ứng yêu cầu về đổi mới chương  
trình và sách giáo khoa phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày  
04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện  
giáo dục và đào tạo.  
- 9-  
   
II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI  
Mục tiêu chung: Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu  
số cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình.  
Mục tiêu cụ thể:  
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nâng cao năng lực dạy học.  
- Đánh giá thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số  
bậc TH và THCS tỉnh Hòa Bình.  
- Đề xuất và kiểm chứng giải pháp nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ  
giáo viên người dân tộc thiểu số đang giảng dạy bậc TH và THCS của tỉnh Hòa Bình  
góp phần đổi mới giáo dục phổ thông.  
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính. Phương pháp  
nghiên cứu định lượng gồm điều tra khảo sát và dự giờ quan sát. Phương pháp  
nghiên cứu định tính gồm các phương pháp nghiên cứu lý luận và phỏng vấn. Đề tài  
sử dụng phần mềm xác xuất thống kê SPSS để phân tích số liệu điều tra khảo sát và  
phần mềm NViVo để quản lý và phân tích dữ liệu phỏng vấn.  
3.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận  
- Nghiên cứu các văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước, Luật giáo dục, các  
nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ về đổi mới giáo dục và đào tạo, các tiêu chí  
đánh giá chất lượng giáo viên TH và THCS. Nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa  
học về giáo dục liên quan đến đề tài;  
- Nghiên cứu các tài liệu về khái niệm giáo viên TH, giáo viên THCS, các yếu  
tố cấu thành năng lực dạy học và các phương pháp đánh giá năng lực dạy học của  
giáo viên bậc TH và THCS;  
- Các văn bản, tài liệu liên quan đến đổi mới chương trình và sách giáo khoa  
giáo dục phổ thông, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên  
phổ thông của các cơ sở đào tạo giáo viên.  
3.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
- 10-  
   
- Đề tài sử dụng các phiếu điều tra khảo sát về thực trạng số lượng, chất lượng,  
trình độ, năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số đang giảng  
dạy tại các trường TH và THCS trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Dự kiến lựa chọn các  
trường TH và THCS trên địa bàn 02 huyện Đà Bắc và Mai Châu, nơi tập trung nhiều  
giáo viên người dân tộc thiểu số (Thái, Dao, Tày, H’Mông).  
- Đề tài sử dụng phương pháp quan sát (dự giờ) giáo viên giảng dạy trên lớp  
học. Kết quả sẽ được dùng để đánh giá thực trạng năng lực giảng dạy của giáo viên.  
- Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn các nhà quản lý giáo dục về vấn đề  
nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số bậc TH và THCS.  
- Đề tài dùng phiếu điều tra khảo sát các nhà quản lý giáo dục, giáo viên TH và  
THCS, giảng viên CĐSP về tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp nâng cao năng  
lực đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số bậc TH và THCS.  
3.3 Đối tượng tham gia đề tài  
- Địa bàn khảo sát: Các trường TH và THCS thuộc phòng GD&ĐT hai huyện  
Đà Bắc và Mai Châu.  
- Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi: 200 GV người dân tộc thiểu số  
- Dự giờ: 160 giờ dạy của GV dân tộc thiểu số (80 giờ dạy ở trường TH và 80  
giờ dạy ở trường THCS)  
- Phỏng vấn nhà quản lý: 40 cán bộ quản lý (20 CBQL trường TH, 20 CBQL  
trường THCS).  
- Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi về tính cấp thiết, tính khả thi của các giải  
pháp: 40 cán bộ quản lý giáo dục các cấp, 100 GV dân tộc thiểu số, 10 giảng viên  
CĐSP.  
IV. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU  
- Tháng 01 - 8/2016: Xây dựng đề cương, hoàn thiện hồ sơ đề tài.  
- Tháng 9/2016 - 12/2016: Thực hiện chương 1; xây dựng mẫu phiếu hỏi cho  
khảo sát và phỏng vấn về thực trạng năng lực dạy học của đội ngũ GV dân tộc thiểu  
số, mẫu phiếu dự giờ;  
- 11-  
 
- Tháng 01/2017 - 4/2017: Tiến hành khảo sát, xử lý số liệu về thực trạng năng  
lực dạy học của đội ngũ giáo viên dân tộc thiểu số.  
- Tháng 5 - 9/2017: Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp; Hội thảo báo cáo về  
mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện và điều kiện thực hiện các biện pháp đề xuất;  
xin ý kiến về tính tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp.  
- Tháng 10/2017: Thực nghiệm.  
- Tháng 11/2017: Hoàn thiện đề tài và báo cáo tổng kết đề tài.  
- 12-  
- 13-  
 
PHẦN 2: NỘI DUNG BÁO CÁO  
A. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI  
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. NỘI DUNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY  
HỌC CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ  
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề  
a) Các công trình nghiên cứu nước ngoài  
Những năm cuối thập niên 60 của thế kỉ XX, các khái niệm "vốn con người"  
(Human capital), "nguồn lực con người" (Human resources) xuất hiện ở Hoa Kỳ và  
do nhà kinh tế học người Mĩ Theodor Schoultz đề xuất. Trên quan điểm ấy, những  
năm 70, 80 của thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Mĩ Gary Backer (giải Nobel kinh  
tế 1992) lại tiếp tục khẳng định khái niệm về phát triển nguồn lực con người, tức là  
phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực.  
Từ năm 1980, nhà xã hội học người Mĩ, Leonard Nadle đã đưa ra sơ dồ quản lí  
nguồn nhân lực để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lí nguồn  
nhân lực. Ông cho rằng, quản lí nguồn nhân lực có ba nhiệm vụ chính, đó là: Phát  
triển nguồn nhân lực (gồm giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, phục vụ); Sử  
dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch  
hóa sức lao động); Môi trường nguồn nhân lực (gồm mở rộng chủng loại việc làm,  
mở rộng qui mô làm việc và phát triển tổ chức). (Dẫn theo [7])  
Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadle đã được nhiều nước trên thế giới sử  
dụng. Christian Batal trong bộ sách "Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà  
nước" cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lí thuyết tổng thể về phát  
triển nguồn lực. Trong đó, ông sử dụng kết quả nghiên cứu thuộc các lĩnh môn khoa  
khác (giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học...) để đưa ra một bức tranh toàn  
cảnh về nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến  
nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực. [5]  
b) Các công trình nghiên cứu trong nước  
- 14-  
       
* Những định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước, của ngành giáo dục đào  
tạo về phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục và đào tạo:  
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương  
(BCHTW) 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra  
nhiệm vụ của các trường sư phạm. [1]  
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục Tiểu học (TH) và Trung học cơ sở  
(THCS), việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên TH và THCS, trong đó nâng  
cao năng lực dạy học trở thành một nhu cầu cấp bách trên phạm vi quốc gia. Đặc  
trưng của chương trình giáo dục phổ thông mới là thể hiện mục tiêu giáo dục phổ  
thông; quy định những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được  
sau mỗi cấp học, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và  
hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với  
các môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông.  
Trong tài liệu phục vụ tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện  
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVI nhiệm ki 2015-2020  
đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém về giáo dục và đào tạo trong đó nhấn mạnh "Chât  
lượng giáo dục và đào tạo giữa các vùng chưa đồng đều", Chất lượng nguồn nhân  
lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong một số ngành nghề, địa phương chưa đáp  
ứng yêu cầu phát triển văn hóa- xã hội của tỉnh".  
Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh  
Hòa Bình lần thứ XVI đã chỉ ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho ngành giáo dục  
là: "... đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, toàn diện và thực chất các điều kiện đảm bảo chất  
lượng đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại  
hóa...nâng cao dân trí..., tọa nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ năng lực, trình độ và  
phẩm chất đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị  
trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; tạo chuyển biến căn bản, rõ nét về  
chât lượng, hiệu quả hướng tới mục tiêu xây dựng sự nghiệp giáo dục và đào tọa  
phát triển bền vững, đồng bộ trên nền tảng xã hội học tập tiến bộ..." [16.11].  
- 15-  
* Những công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề nâng cao năng  
lực dạy học cho đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số:  
Nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên vùng đặc biệt khó  
khăn có công trình "Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ngành giáo dục ở vùng đặc  
biệt khó khăn khu vực miền núi phía bắc Việt Nam" của các tác giả Nguyễn Văn Lộc,  
Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Tính (2013). Nghiên cứu được tiến hành tại các tỉnh  
Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Cạn để khảo sát, đánh giá, làm rõ thực trạng  
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên ở vùng đặc biệt khó khăn thuộc khu  
vực miền núi phía Bắc; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao phẩm  
chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ, góp phần phát triển giáo dục, kinh  
tế-xã hội ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.[14]  
Nguyễn Xuân Ngạn (2011) trong công trình nghiên cứu "Vấn đề chính sách đối  
với giáo viên phổ thông đang công tác ở miền núi" đã đề cập tới chính sách hiện  
hành của Nhà nước đối với đội ngũ giáo viên đang công tác ở miền núi trên các vấn  
đề: chính sách tuyển chọn, chính sách đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, chính sách sử  
dụng giáo viên, chính sách đãi ngộ giáo viên. Tác giả đã tập hợp, phân tích ý nghĩa  
thực tiễn của chính sách hiện hành của Nhà nước đối với giáo viên phổ thông khu  
vực miền núi, nêu rõ những yếu tố tích cực, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của  
các chính sách đó[15].  
Bùi Thị Ngọc Diệp (2004), trong bài viết: Vấn đề đào tạo cán bộ người dân tộc  
thiểu số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đổi mới đất nước, cho  
rằng: Lực lượng cán bộ người dân tộc thiểu số còn thiếu và yếu. Ở các tỉnh miền núi  
phía Bắc tình trạng thiếu cán bộ dân tộc thiểu số trầm trọng nhất là hai dân tộc  
H'Mông và Dao. tình trạng này đã ảnh hưởng đến chất lượng các hoạt động trong đó  
có hoạt động giáo dục. Theo tác giả, chất lượng giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc  
thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo nguồn nhân  
lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Đáng chú ý nhất là số cán bộ đã qua đào  
tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp chiếm tỉ lệ còn thấp, trình độ, năng lực của đội ngũ cũng  
như sự phân bố các vùng và các dân tộc không đồng đều. Từ thực trạng tác giả đã  
- 16-  
đưa ra kiến nghị đề nghị Ủy ban Dân tộc hệ thống và rà soát toàn bộ chế độ chính  
sách đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số từ trước đến nay làm cơ sở cho việc nghiên cứu,  
chỉnh sửa, đề xuất mới phù hợp với giai đoạn hiện nay.[8]  
Tương tự như vậy, Mai Công Khanh (2008), trong bài: Giáo dục và đào tạo với  
phát triển nguồn nhân lực cho miền núi, vùng dân tộc thiểu số, cũng đề cập đến tính  
cấp thiết của việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho khu vực miền núi, vùng  
dân tộc thiểu số. Tác giả cho rằng việc theo dõi, quản lí và sử dụng nguồn nhân lực  
đào tạo chưa có hệ thống, chất lượng đào tạo thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát  
triển của khu vực miền múi và vùng dân tộc thiểu số hiện nay. Trong số các giải  
pháp mà tác giả đề xuất, đáng chú ý là các giải pháp sau: 1) Tổ chức các hình thức  
trường lớp phù hợp với khu vực miền núi, vùng dân tộc; 2) Tăng cường các nguồn  
lực đầu tư cho giáo dục đào tạo; 3) Đổi mới chương trình, phương thức đào tạo; 4)  
Xây đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý đủ mạnh về số lượng, đảm bảo về  
chất lượng, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực về chuyên môn, kĩ thuật và bồi dưỡng  
đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. [13.8]  
Trong bài: Về mô hình đào tạo cán bộ quản lý dân tộc thiểu số từ các trường  
đại học, Phạm Hồng Quang (2008) đề cập đến vấn đề đào tạo giáo viên kết hợp với  
đào tạo cán bộ quản lý giáo dục là người dân tộc thiểu số từ các trường cao đẳng,  
đại học, đặc biệt từ các trường cao đẳng, đại học sư phạm miền núi. Qua bài báo của  
tác giả, có thể thấy mô hình phù hợp là kết hợp đào tạo giáo viên với đào tạo cán bộ  
quản lý; kết hợp đào tạo kiến thức cơ bản, nền tảng trong chương trình đào tạo giáo  
viên với kiến chuyên sâu về quản lí giáo dục. [18]  
Về năng lực dạy học của giáo viên phổ thông, tác giả Bùi Minh Hiền, Nguyễn  
Vũ Bích Hiền (2015) trong công trình "Quản lí và lãnh đạo nhà trường" đã bàn về  
một khía cạnh của năng lực dạy học đó là năng lực tự chủ chuyên môn của giáo viên.  
Công trình đã nêu rõ vai trò của năng lực tự chủ chuyên môn và nguyên nhân cản trở  
sự phát triển năng lực tự chủ chuyên môn của giáo viên. Ngoài ra, công trình còn bàn  
về năng lực đánh giá của giáo viên theo quan điểm vì sự tiến bộ của người học [10].  
Vũ Xuân Hùng (2012) nghiên cứu những vấn đề về dạy học hiện đại và nâng cao  
- 17-  
năng lực dạy học cho giáo viên. Trong nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp một số  
phương pháp dạy học hiện đại và biện pháp nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ  
giáo viên đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay [12]. Tác giả Phan Trọng Ngọ (2015),  
với bài viết trong tạp chí khoa học Volumn 6, trường ĐHSP Hà Nội đã đề xuất một  
số giải pháp về bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo  
dục phổ thông. [17]  
Trong đề tài khoa học cấp tỉnh năm 2007, trường CĐSP Hòa Bình đã bàn về  
thực trạng năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở và đề  
xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên giai đoạn  
2005-2010. Các giải pháp này rất có giá trị thực tiễn trong phát triển đội ngũ giáo  
viên của tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2005-2010. [4]  
Có thể nói các nghiên cứu khoa học trên đã đề cập đến vấn đề quản lí, phát triển  
và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt là cán bộ là người dân tộc thiểu số  
trong đó có đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Tuy nhiên các tác giả mới chỉ dừng  
lại ở những gợi ý, những định hướng có tính khái quát mà chưa đi sâu vào nghiên  
cứu một cách toàn diện vấn đề phát triển năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên  
người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi và vùng đặc biệt khó khăn.  
Đề tài “Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp  
tiểu học và trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông”  
được xây dựng và nghiên cứu nhằm đánh giá đúng thực trạng hiện tại và năng lực  
dạy học của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số bậc tiểu học và THCS tỉnh Hòa  
Bình. Trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp phù hợp với điều kiện của tỉnh, của  
ngành để nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên người dân tộc, đáp ứng  
yêu cầu đổi mới toàn diện về giáo dục đào tạo.  
1.2. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài  
a) Dân tộc thiểu số, giáo viên, giáo viên người dân tộc thiểu số:  
* Dân tộc thiểu số:  
Dưới góc độ nhân chủng học, khái niệm thiểu số được dùng khá thông dụng.  
Khái niệm này thường được dùng để chỉ những dân tộc ít người hơn so với cộng  
- 18-  
 
đồng dân tộc chiếm đa số. Dân tộc thiểu số là nhóm người có những sự khác biệt về  
một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội. Họ có thể khác  
biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ, văn hóa, khác biệt về nhận  
thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập... và đi kèm theo  
đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ. [11.655]  
Trên thực tế, người thiểu số là những người làm cho ta dễ nhận thấy sự khác  
biệt so với cộng đồng. Họ mang những nét mà có thể khi nhìn vào cũng như khi giao  
tiếp với họ, người ta có thể nhận thấy ngay sự khác biệt đó khi ta so sánh với những  
thành viên khác trong cộng đồng.[11.655]  
Dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít cư trú trong một quốc gia thống nhất có  
nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc số đông. Trong các quốc gia có nhiều thành  
phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: (1) ý thức về tổ quốc mình sinh  
sống và (2) ý thức về dân tộc mình. Những dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung  
hoặc rải rác, xen kẽ, thường ở những vùng ngoại vi hoặc vùng hẻo lánh, vùng điều  
kiện phát triển kinh tế xã hội còn có khó khăn. Vì vậy nhà nước tiến bộ thường thực  
hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xóa dận những chênh lệch trong việc phát  
triển kinh tế, xã hội giữa dân tộc đông người và các dân tộc thiểu số. [11.655]  
Trong Điều 4, Nghị định số 05/NĐ-CP, ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính  
phủ về công tác dân tộc, đã định nghĩa “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số  
dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam"; “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số  
cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam"; “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân tộc có số dân dưới 10.000  
người.[21]  
* Giáo viên  
Giáo viên là chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ  
thông trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm, có trình  
độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học [9.169]  
- 19-  
Điều 70, Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của  
Luật Giáo dục năm 2009 đã nêu: 1) nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo  
dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác; 2) Nhà giáo phải có những tiêu  
chuẩn sau đây: a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; b) Đạt trình độ chuẩn được đào  
tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghể nghiệp; d) Lý lịch  
bản thân rõ ràng. 3) Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ  
thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là  
giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng gọi là  
giảng viên. [20]  
Giáo viên là người truyền thụ toàn bộ các kiến thức và kĩ năng qui định trong  
chương trình bộ môn của bậc học, cấp học, ngoài ra còn có trách nhiệm phụ đạo học  
sinh kém và bồi dưỡng học sinh giỏi, có năng kiếu. Người giáo viên không những  
chỉ dạy tốt các kiến thức chuyên môn, mà còn phải chú ý dạy người, bồi dưỡng tư  
tưởng, tình cảm đạo đức để học sinh của mình phát triển nhân cách toàn diện.  
[9.169]  
Người giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục của nhà  
trường, là người tổ chức và điều khiển quá trình hình thành nhân cách cho học sinh,  
chịu trách nhiệm về công tác giáo dục học sinh trước nhà nước và nhân dân.  
Giáo viên tiểu học: Theo điều 33- Điều lệ trường Tiểu học- Giáo viên làm  
nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và cơ sở giáo dục khác  
thực hiện chương trình giáo dục tiểu học.[2]  
Người giáo viên tiểu học phụ trách toàn bộ một lớp học, vừa giảng dạy tất cả  
các môn học, có khi cả những môn đòi hỏi những năng khiếu chuyên biệt như Âm  
nhạc Mĩ thuật ... vừa làm công tác chủ nhiệm. Người giáo viên tiểu học là người dẫn  
dắt, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để đưa học sinh vào thế giới tri thức khoa học,  
văn hóa nghệ thuật, giúp học sinh rèn luyện những kĩ năng ứng xử, thỏa mãn nhu cầu  
hứng thú trong hoạt động vui chơi, giải trí, thể dục thể thao... Người giáo viên tiểu  
học phải thật sự là "nhân vật lí tưởng" của học sinh, là tấm gương cho học sinh noi  
theo.  
- 20-  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 158 trang Thùy Anh 20660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docde_tai_nang_cao_nang_luc_day_hoc_cho_giao_vien_nguoi_dan_toc.doc