Đề tài Biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển tại cơ sở giáo dục thực hành Mầm non Hoa Sen trường Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÒA BÌNH  
---  
---  
NGUYỄN THỊ HƯƠNG MAY  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN TÂM LÍ CỦA GIÁO VIÊN  
TRONG QUẢN LÍ HÀNH VI CHO TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN  
TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC THỰC HÀNH MẦM NON HOA SEN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÒA BÌNH  
Hòa Bình, 2021  
MỤC LỤC  
Nội dung  
Trang  
Phần mở đầu  
1
1
2
2
2
3
3
4
Lí do chọn đề tài  
Mục đích nghiên cứu  
Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
Nhiệm vụ nghiên cứu  
Giả thuyết khoa học  
Phương pháp nghiên cứu  
Phần nội dung  
Chương 1. Cơ sở lí luận về khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho 4  
trẻ rối loạn phát triển  
4
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề  
4
1.1.1. Các nghiên cứu về khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành  
vi cho trẻ rối loạn phát triển ở nước ngoài  
5
1.1.2. Các nghiên cứu về khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành  
vi cho trẻ rối loạn phát triển ở Việt Nam  
6
1.2.Các khái niệm cơ bản  
6
1.2.1. Khái niệm trẻ rối loạn phát triển  
13  
1.2.2. Khái niệm quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển  
1.2.3. Khái niệm khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ  
rối loạn phát triển  
14  
Chương 2. Thực trạng khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ RLPT 21  
tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen, trường CĐSP Hòa Bình  
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu  
21  
2.2. Thực trạng khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ RLPT tại Cơ 22  
sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen, trường CĐSP Hòa Bình  
2.2.1. Nhận thức của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen về trẻ rối 22  
loạn phát triển  
2
2.2.2. Nhận thức của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen về sự cần 24  
thiết của việc quản lí hành vi cho trẻ RLPT  
2.2.3. Những phản ứng của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen trước 25  
các hành vi của trẻ RLPT  
2.2.4. Mức độ khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ RLPT tại Cơ 27  
sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
2.2.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi 29  
cho trẻ RLPT tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
2.2.6. Những biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi 31  
cho trẻ RLPT tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
Chương 3. Đề xuất biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản 34  
lí hành vi cho trẻ RLPT tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen, trường  
CĐSP Hòa Bình  
3.1. Nguyên tắc xây dựng biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành 34  
vi cho trẻ RLPT tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
3.2. Biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ 34  
RLPT tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
3.2.1. Biện pháp 1. Nâng cao nhận thức của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm 34  
non Hoa Sen về trẻ RLPT  
3.2.2. Biện pháp 2. Phát triển kĩ năng kiểm soát cảm xúc của giáo viên tại Cơ sở giáo dục 35  
thực hành mầm non Hoa Sen trong quản lí hành vi cho trẻ RLPT  
3.2.3. Biện pháp 3. Phát triển kĩ năng giao tiếp với trẻ RLPT cho giáo viên tại Cơ sở giáo 37  
dục thực hành mầm non Hoa Sen  
3.2.4. Phối hợp chặt chẽ với gia đình trong quản lí hành vi cho trẻ RLPT  
3.3. Thử nghiệm biện pháp  
38  
39  
47  
Kết luận và khuyến nghị  
DANH MỤC BẢNG, BIỂU  
Bảng/ Biểu  
Bảng 2.1  
Nội dung  
Mức độ nhận thức của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa  
Sen về trẻ rối loạn phát triển  
Bảng 2.2  
Những phản ứng của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa  
3
Sen trước các hành vi của trẻ rối loạn phát triển  
Bảng 2.3  
Bảng 2.4  
Mức độ khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát  
triển tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
Mức độ ảnh hưởng của những yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan đến khó  
khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển tại Cơ  
sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
Bảng 2.5  
Mức độ sử dụng các biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên  
trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển tại Cơ sở giáo dục thực  
hành mầm non Hoa Sen  
Bảng 3.1  
Bảng 3.2  
Bảng 3.3  
Biểu đồ 2.1  
Mức độ phù hợp của các biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo  
viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển  
Nhận thức của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen về  
trẻ rối loạn phát triển  
Phản ứng của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
trước các hành vi của trẻ rối loạn phát triển  
Nhận thức của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen về  
sự cần thiết của việc quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển  
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
TỪ VIẾT TẮT  
TỪ ĐẦY ĐỦ  
RLPT  
:
:
Rối loạn phát triển  
Cao đẳng Sư phạm  
CĐSP  
5
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Những năm gần đây, số lượng trẻ được chẩn đoán rối loạn phát triển ngày  
càng tăng. Rối loạn phát triển có thể xảy ra ở bất kì đứa trẻ thuộc quốc tịch, nền  
văn hoá, tôn giáo và xã hội nào. Theo cục Bảo trợ xã hội, Việt Nam có khoảng  
200.000 người mắc chứng rối loạn phát triển như Tự kỉ, chậm nói, tăng động  
giảm chú ý, chậm phát triển trí tuệ…Trẻ rối loạn phát triển gặp nhiều khó khăn  
khi tham gia vào các hoạt động giao tiếp, tương tác xã hội và các kĩ năng tự  
phục vụ do đó cần được chăm sóc và giáo dục đặc biệt.  
Hiện nay chưa có phương pháp điều trị dứt điểm nhưng nhiều nghiên cứu  
cho thấy việc can thiệp sớm có thể giúp cải thiện khả năng phát triển của trẻ.  
Mặc dù trẻ rối loạn phát triển được tham gia học tập hoà nhập tại các trường  
mầm non nhưng trong quá trình học tập trẻ thường xuất hiện nhiều hành vi  
không phù hợp. Giáo viên trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ rối loạn phát triển gặp  
không ít khó khăn. Thực tế cho thấy nhiều giáo viên khi quản lí hành vi cho trẻ  
rối loạn phát triển còn tỏ ra e ngại, lúng túng. Điều đó gây cản trở và ảnh hưởng  
bất lợi đến hiệu quả của công tác giáo dục hoà nhập. Đồng thời ảnh hưởng trực  
tiếp đến chất lượng của quá trình giáo dục mầm non.  
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Biện  
pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối  
loạn phát triển tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen trường Cao  
đẳng Sư phạm Hoà Bình”. Chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất  
được các biện pháp để khắc phục khó khăn tâm lí cho giáo viên. Từ đó góp phần  
nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục đối với những trẻ rối loạn phát triển  
học hoà nhập tại cơ sở này.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng khó khăn tâm lí của giáo viên  
trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển, đề tài đề xuất biện pháp khắc  
6
phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát  
triển tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen trường Cao đẳng Sư phạm  
Hòa Bình.  
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình chăm sóc giáo dục trẻ rối loạn phát triển.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên  
trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển tại Cơ sở giáo dục thực hành  
mầm non Hoa Sen trường CĐSP Hoà Bình.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Nghiên cứu lí luận về khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi  
cho trẻ rối loạn phát triển  
Nghiên cứu thực trạng khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi  
cho trẻ rối loạn phát triển tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen  
trường Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình  
Đề xuất biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí  
hành vi cho trẻ rối loạn phát triển tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa  
Sen trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình.  
5. Giả thuyết khoa học  
Khi quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển, giáo viên tại Cơ sở giáo  
dục thực hành mầm non Hoa Sen trường Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình gặp  
nhiều khó khăn tâm lí. Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục  
mầm non nói chung và công tác giáo dục hoà nhập nói riêng. Nếu có các biện  
pháp hỗ trợ kịp thời thích hợp thì sẽ góp phần khắc phục khó khăn tâm lí của  
giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển tại cơ sở này.  
6. Phương pháp nghiên cứu  
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu  
7
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tìm hiểu, tổng hợp, khái quát,  
phân tích nhiều tài liệu khác nhau có liên quan đến khó khăn tâm lí, trẻ rối loạn  
phát triển, quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển nhằm hình thành nên cơ sở  
lí luận cho đề tài.  
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi  
Đây là một trong những phương pháp chính chúng tôi sử dụng để thu thập  
thông tin về thực trạng khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho  
trẻ rối loạn phát triển tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen.  
6.3. Phương pháp quan sát  
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát trực tiếp những biểu hiện  
và những yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành  
vi cho trẻ RLPT tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen.  
6.4. Phương pháp đàm thoại  
Chúng tôi khi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thu thập, bổ sung  
và làm rõ thêm những biểu hiện khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí  
hành vi cho trẻ RLPT tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non Hoa Sen trên các  
trường hợp cụ thể, từ đó lí giải cho kết quả nghiên cứu.  
6.5.Phương pháp thống kê toán học.  
Phương pháp thống kê toán học là phương pháp chúng tôi dùng để hỗ trợ  
trong quá trình xử lí số liệu sau khi khảo sát thực tiễn bằng phiếu hỏi điều tra về  
thực trạng khó khăn tâm lí của giáo viên tại Cơ sở giáo dục thực hành mầm non  
Hoa Sen.  
8
9
NỘI DUNG  
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÍ  
CỦA GIÁO VIÊN TRONG QUẢN LÍ HÀNH VI  
CHO TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN  
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề  
1.1.1. Các nghiên cứu về khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành  
vi cho trẻ rối loạn phát triển ở nước ngoài  
Các nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ) như A.I. Pan cô, N.V.Cudomina, I. Ox-  
tropxkia đã có những công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lí trong công tác  
giáo dục trẻ mầm non. Theo các tác giả này, những khó khăn thường nảy sinh  
với những giáo viên chưa được đào tạo về chuyên môn, họ thường gặp khó khăn  
trong việc điều khiển hoạt động học tập, trong đó có liên quan đến việc phân bố  
thời gian, sự lựa chọn phương pháp và cách thức tiến hành giờ học…Các tác giả  
cũng chỉ ra rằng: Mức độ khó khăn trong công tác của giáo viên có liên quan  
đến trình độ nghiệp vụ, thâm niên công tác, sự chuẩn bị bài giảng trước khi lên  
tiết học…Để khắc phục những khó khăn này phải đồng thời có sự vận hành của  
cả hệ thống giáo dục.  
Đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ), các nhà nghiên cứu  
Anh, Mỹ, Đức đã chỉ ra rằng: Trong hoạt động nghề nghiệp của mình, con  
người có thể gặp rất nhiều tình huống (những khó khăn, những xung đột…). Đặc  
biệt, trong những nghiên cứu hoạt động nghề nghiệp giáo viên của các nhà  
nghiên cứu như Ph. Xpirin, M. Axtrepinxki đã khẳng định: Theo bản chất, hoạt  
động sư phạm luôn là hoạt động sáng tạo, bởi vậy chúng ta sẽ xem xét tình  
huống sư phạm theo những tình huống có vấn đề.  
Qua thực tiễn đào tạo mầm non rất nhiều năm ở Liên Xô (cũ) các nhà  
nghiên cứu đã khẳng định rằng: “ Hoạt động có hiệu quả của giáo viên mầm non  
không thể thiếu sự lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà  
10  
đặc biệt là những kiến thức tâm lí hoạt động của giáo viên mầm non, về các kỹ  
năng phân tích và xử lý các tình huống trong công tác”. Các nhà nghiên cứu đã  
đi đến kết luận: Sự khắc phục khó khăn và lĩnh hội tay nghề sư phạm diễn ra  
trong quá trình giáo viên nghiên cứu tâm lý trẻ, làm sâu sắc và giàu có kiến  
thức, nâng cao trình độ văn hoá chung, hình thành kỹ năng và hiểu biết nghề  
nghiệp. Điều quan trọng để đạt được những vấn đề cơ bản trên là sự học tập,  
trau dồi nghiệp vụ, chuyên môn của các giáo sinh sư phạm mầm non.  
Trẻ rối loạn phát triển là đối tượng giáo dục cần can thiệp càng sớm càng  
tốt. Hiện nay, nhiều tác giả trên thế giới đã dành nhiều sự quan tâm cho đối  
tượng này. Hầu hết, các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về những rối loạn cụ  
thể nằm trong nhóm các rối loạn phát triển thần kinh. Họ tiếp cận từ nhiều góc  
độ khác nhau như về dịch tễ, biểu hiện, nguyên nhân, phương pháp can thiệp;  
bên cạnh đó, những nghiên cứu về kiến thức, thái độ của cộng đồng cũng đã  
được nhiều tác giả đề cập. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa có sự quan tâm đến  
vấn đề khó khăn tâm lí của những người làm công tác chăm sóc giáo dục trẻ bị  
rối loạn phát triển trong cộng đồng. Các công trình nghiên cứu về khó khăn tâm  
lý ở nước ngoài chủ yếu quan tâm đến khó khăn tâm lí trong hoạt động giao tiếp  
và giao tiếp sư phạm nói chung. Hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy có công trình  
nghiên cứu nào về khó khăn tâm lí của giáo viên trong quá trình quản lí hành vi  
cho trẻ bị RLPT được công bố.  
1.1.2. Các nghiên cứu về khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành  
vi trẻ rối loạn phát triển ở Việt Nam  
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí  
hành vi cho trẻ RLPT vẫn chưa được các nhà nghiên cứu khoa học quan tâm.  
Chúng tôi không tìm thấy công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về  
vấn đề này. Khi nghiên cứu về khó khăn tâm lí, các tác giả trong nước thường  
nghiên cứu về: Khó khăn tâm lí trong hoạt động giao tiếp, khó khăn tâm lí trong  
hoạt động học tập, khó khăn tâm lí trong hoạt động thực tập sư phạm của sinh  
viên, khó khăn tâm lí trong học ngoại ngữ…Chúng tôi nhận thấy rằng, việc  
11  
nghiên cứu khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ RLPT là  
việc làm cần thiết. Bởi lẽ, quản lí hành vi cho trẻ RLPT là việc gặp nhiều khó  
khăn phức tạp. Để đem lại hiệu quả trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ RLPT  
thì giáo viên mầm non cần có các biện pháp hỗ trợ họ khắc phục những khó  
khăn tâm lí đó.  
1.2. Các khái niệm cơ bản  
1.2.1. Khái niệm trẻ rối loạn phát triển  
Rối loạn phát triển là một khái niệm rộng được tiếp cận với nhiều dạng  
khuyết tật ở trẻ nhỏ. RLPT bao gồm một nhóm các tình trạng tâm thần bắt  
nguồn từ thời thơ ấu liên quan đến suy yếu nghiêm trọng ở các khu vực khác  
nhau. Thuật ngữ này còn được sử dụng với một số tên gọi khác. Khái niệm hẹp  
nhất được sử dụng trong danh mục “ Rối loạn cụ thể về phát triển tâm lý” trong  
ICD - 10. Những rối loạn này bao gồm rối loạn phát triển ngôn ngữ, rối loạn học  
tập, rối loạn vận động và rối loạn phổ tự kỷ…Rối loạn phát triển có mặt từ đầu  
đời. Hầu hết cải thiện khi đứa trẻ lớn lên, nhưng một số khiếm khuyết kéo dài  
suốt cuộc đời. Có một thành phần di truyền mạnh mẽ; nhiều nam giới bị ảnh  
hưởng hơn nữ giới.13  
Theo sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần phiên bản 5 của  
Hiệp hội tâm thần học Hoa kỳ (DSM - 5): Rối loạn phát triển là một nhóm các  
rối loạn khởi phát sớm trong quá trình phát triển, thường ở thời điểm trước khi  
trẻ đến trường và được đặc trưng bởi những thiếu hụt phát triển, từ đó dẫn đến  
suy yếu chức năng cá nhân, xã hội, học tập hoặc nghề nghiệp.  
Phạm vi của các thiếu hụt phát triển rất đa dạng, từ những thiếu sót rất cụ  
thể của việc học tập hoặc kiểm soát các chức năng lập kế hoạch đến sự suy yếu  
tổng thể của các kỹ năng xã hội hoặc trí tuệ. Rối loạn phát triển thường xuất  
hiện đồng thời với nhau; ví dụ: trẻ rối loạn phổ tự kỷ thường khuyết tật trí tuệ,  
trẻ tăng động giảm tập trung thường có khó khăn học tập. Đối với một số rối  
loạn, biểu hiện lâm sàng bao gồm các triệu chứng như suy giảm và trễ trong việc  
12  
đạt được các mốc phát triển mong đợi.  
Như vậy, RLPT là những rối loạn xảy ra trong quá trình phát triển của trẻ  
em, thường làm chậm sự phát triển. Nó bao gồm những rối loạn về phát triển  
thể chất, tâm lí, và tâm thần kinh. 13  
RLPT có thể xảy ra ở một hay nhiều lĩnh vực: vận động (thô hoặc tinh),  
ngôn ngữ, kĩ năng xã hội, hành vi, kĩ năng tư duy…  
1.2.1.1. Các dạng trẻ rối loạn phát triển  
a. Khuyết tật trí tuệ  
Khuyết tật trí tuệ là các khuyết tật vĩnh viễn do những suy yếu về cơ thể  
hoặc tâm thần bắt đầu trong quá trình phát triển và ảnh hưởng đến hoạt động  
chức năng hàng ngày ở ba hoặc nhiều hơn các lĩnh vực: Sống độc lập, tự túc về  
kinh tế, học tập, vận động cơ thể, ngôn ngữ, tự chăm sóc…  
* Các tiêu chí xác định khuyết tật trí tuệ 8  
Khuyết tật trí tuệ bao gồm 3 tiêu chí sau:  
- Dưới mức trí tuệ trung bình một cách rõ rệt (IQ < 70): trẻ cần được đánh  
giá khả năng trí tuệ bằng các thang đo trí tuệ có độ tin cậy và độ hiệu lực.  
- Suy yếu trong hoạt động/chức năng thích nghi ví dụ khả năng sống độc  
lập, khả năng đi làm tự túc về kinh tế, khả năng học, khả năng nói và giao tiếp…  
- Các khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi.  
Các dấu hiệu và triệu chứng của khuyết tật trí tuệ đều là hành vi. Việc  
nhìn mặt hoặc biểu hiện bên ngoài để chẩn đoán chậm phát triển chỉ đúng trong  
số ít trường hợp. Tuy vậy, người bị khuyết tật trí tuệ thường có một số đặc điểm  
sau:  
+ Chậm về khả năng nghe, hiểu và nói.  
+ Trí nhớ kém (học rồi quên)  
+ Khó tiếp thu những quy ước, quy định xã hội.  
13  
+ Khó khăn trong những kĩ năng giải quyết vấn đề (không biết làm gì  
khi có các tình huống bất thường xảy ra).  
+ Chậm trong sự phát triển các hành vi thích nghi như: tự chăm sóc, tự  
phục vụ bản thân…  
+ Thiếu sự kiềm chế ở nơi công cộng.  
Nói chung trẻ chậm phát triển thì học tập, vận động, ngôn ngữ, khả năng  
tư duy, mọi mặt của đời sống đều chậm so với trẻ phát triển bình thường. Trẻ  
cần nhiều thời gian, sự hướng dẫn và giúp đỡ để làm được những việc mà trẻ  
bình thường chủ cần tự quan sát và bắt chước được. Trẻ chậm phát triển các kĩ  
năng sẽ chậm hơn so với các mộc phát triển thường thấy ở trẻ khác, nhưng trẻ  
vẫn sẽ đi qua các mốc đó nhưng chậm hơn, cần nhiều thời gian hơn.  
b. Rối loạn phổ tự kỷ  
Tự kỷ (Autism) là thuật ngữ nói đến một nhóm các rối loạn phức tạp trong  
sự phát triển của não bộ. Đặc trưng cốt lõi của rối loạn phổ tự kỷ là sự khó khăn  
trong tương tác xã hội, các vấn đề về giao tiếp bằng lời và không lời; có cá hành  
vi sở thích hạn hẹp và định hình lặp lại. Do khiếm khuyết trong tương tác xã hội  
kèm rối loạn về cảm giác, trẻ rối loạn phổ tự kỷ gặp nhiều khó khăn trong mọi  
lĩnh vực của cuộc sống.  
Hiện nay có khá nhiều khái niệm về tự kỷ, nhưng khái niệm tương đối đầy  
đủ và được sử dụng phổ biến nhất là khái niệm của Liên Hiệp Quốc đưa ra năm  
2008: “ Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường được biểu  
hiện ra ngoài trong 3 năm đầu đời. Tự kỷ là do một rối loạn thần kinh ảnh hưởng  
đến chức năng hoạt động của não bộ gây nên, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và  
người lớn ở nhiều quốc gia không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện  
kinh tế - xã hội. Đặc điểm của nó là khó khăn trong tương tác xã hội, các vấn đề  
về giao tiếp bằng lời nói và không bằng lời nói; có các hành vi, sở thích, hoạt  
động lặp đi lặp lại và hạn hẹp.”6, tr.103  
Đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định một nguyên nhân duy nhất  
14  
gây ra tự kỷ và họ khẳng định không có một kiểu tự kỷ duy nhất. Tuy nhiên,  
trong hầu hết trường hợp, tự kỷ có vẻ là sự kết hợp của các gen nguy cơ tự kỷ và  
các yếu tố môi trường ảnh hưởng lên sự phát triển sớm của não bộ.  
c. Chậm phát triển ngôn ngữ (chậm nói)  
Chậm phát triển về lời nói là sự chậm hơn về sự phát triển hay cơ chế sử  
dụng lời nói. Lời nói bao hàm quá trình tạo ra âm thanh, như việc sử dụng các  
cơ quan bộ phận như phổi, dây thanh quản, miệng, môi, lưỡi, răng…Chậm phát  
triển về ngôn ngữ là chậm về sự phát triển sử dụng ngôn ngữ.  
Trẻ chậm nói có thể gặp một số vấn đề về xã hội và cảm xúc (ngại giao  
tiếp, thiếu kĩ năng giao tiếp, tức giận vì không thể hiện được nhu cầu…) và có  
ảnh hưởng đến tâm lí (tự ti, thu mình lại…)  
d. Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)  
ADHD là rối loạn tâm thần và thần kinh - hành vi, đặc trưng bởi khó khăn  
trong việc tập trung hoặc tăng hoạt động/ xung động hay kết hợp cả giảm tập  
trung chú ý và tăng hoạt động/ xung động. ADHD là dạng rối loạn phát triển  
phổ biến ở trẻ em, chiếm khoảng 2 đến 8 % trẻ em tuổi đến trường, được nghiên  
cứu nhiều nhất, điều trị khá hiệu quả và tiên lượng tốt.  
ADHD bao gồm 3 dạng:  
+ Giảm tập trung là chủ yếu: Khó duy trì chú ý vào nhiệm vụ, hoạt động đòi  
hỏi nỗ lực trí tuệ, ví dụ như tập viết, ngồi học…trẻ hay quên, dễ bị sao nhãng  
bởi các kích thích bên ngoài.  
+ Tăng động - xung động là chủ yếu: Chân tay luôn cựa quậy, khó ngồi yên,  
hoạt động liên tục, nói liên tục hoặc nói quá nhiều, bộp chộp nói xen vào người  
khác, chạy nhảy leo trèo quá mức.  
+ Kết hợp giảm tập trung và tăng động - xung động.  
1.2.1.2. Đặc điểm về hành vi của trẻ rối loạn phát triển  
Trẻ RLPT thường không khác biệt về hình dáng bề ngoài hay hình thái não  
15  
bộ, nhưng khác biệt về chức năng và cách tiếp nhận, xử lý và truyền thông tin  
trong não bộ. Trẻ có thể gặp khó khăn trong việc để ý, chia sẻ, bắt chước, chú ý;  
có thể gặp khó khăn về tiếp nhận và xử lý thông tin thị giác, thính giác, tư duy  
trừu tượng…vì vậy sẽ khó khăn hoặc không tiếp thu được những thông tin như  
những trẻ phát triển bình thường (thông qua quan sát, bắt chước…). Trẻ rối loạn  
phát triển thường có các “hành vi bất thường”. Theo quan điểm của một số nhà  
Tâm lí, họ coi đó là các hành vi lệch khỏi mức bình thường, lệch khỏi mức lý  
tưởng, thiếu khả năng hành xử hữu hiệu. Hành vi bất thường được xếp vào 2  
loại:  
- Hành vi hướng nội: Có nghĩa là trẻ sống thu mình, ít giao tiếp và đôi  
khi tự xâm hại cơ thể.  
- Hành vi hướng ngoại: Trẻ thể hiện ra bên ngoài thái độ chống đối  
hung hãn, có hành vi trái ngược, giảm chú ý và dễ kích động.  
Những hành vi bất thường của trẻ không chỉ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát  
triển của chính bản thân đứa trẻ mà còn là mối lo ngại thực sự đối với cha mẹ và  
các nhà giáo dục. Những đặc điểm thường gặp của các hành vi bất thường xuất  
hiện ở trẻ rối loạn phát triển gồm:  
- Hành vi gây gổ: Chỉ những hành vi, dùng lời hoặc không dùng lời  
gây ra thương tổn cho người khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và  
mang lại điều gì đó cho người gây gổ.  
- Hành vi phá rối: Được định nghĩa như “hành vi có mục đích làm  
gián đoạn quá trình học đang diễn ra trong lớp học”.  
- Hành vi cáu giận bùng phát: Thường bao gồm những đặc điểm tính  
cách hung hăng, gây gổ và hành vi bất hợp tác.  
- Nói tự do: Trẻ nói khi không phải lượt của mình hoặc liên tục làm  
ảnh hưởng giáo viên trong quá trình giảng bài. Trẻ nói mà không hề xin  
phép.  
16  
- Hành vi rập khuôn: Là các phản ứng lặp lại giống nhau nhiều lần.  
- Hành vi tự kích thích: Trẻ thực hiện hành vi để tạo ra một kích thích  
mà trẻ thích.  
- Hành vi tự xâm hại: Thông thường những trẻ có hành vi xâm hại là  
những trẻ có cảm giác dưới ngưỡng. Do vậy trẻ tự cấu, cắn, giật tóc của  
mình, va người vào tường…mà không cảm thấy đau.  
- Thiếu chú ý: Trẻ xao nhãng với những tiếng ồn nhẹ nhất hoặc sự  
thay đổi trong môi trường. Khi đã bị xao lãng, trẻ thường khó trở lại làm  
việc. Kết quả là khó hoàn thành bài tập hoặc nhiệm vụ.  
- Hành vi không hợp tác: Trẻ thường có thái độ tiêu cực, bướng bỉnh,  
dễ nổi cáu khi được yêu cầu làm gì đó hoặc khi bị cấm làm điều gì đó,  
không tuân theo nội quy của lớp, thường chống đối giáo viên.  
- Kém tập trung khi thực hiện các hoạt động: Liên quan đến việc trẻ  
khó duy trì sự tập trung và thường đi kèm với tính bốc đồng, hiếu động thái  
quá.  
- Thu mình: Là loại hành vi hướng nội điển hình. Một số trẻ ban đầu  
do tự ti vì kém bạn bè có thể ít giao tiếp với người khác, dẫn tới xu hướng  
cô lập, tránh tiếp xúc.  
- Bốc đồng: Trẻ phản ứng nhanh chóng trước các kích thích của môi  
trường xung quanh mà không suy nghĩ. Phản ứng này thường không đúng  
và do đó trẻ thường học tập và giao tiếp kém.  
- Hiếu động thái quá: Trẻ không ngồi và thực hiện nhiệm vụ của mình  
trong một thời gian ngắn. Những hành vi này có thể bao gồm sự bồn chồn,  
luôn muốn hoạt động, sốt ruột.  
- Lo lắng thái quá: Trẻ thường tỏ ra sợ hãi, dễ cảm thấy bị đe doạ,  
luôn trốn tránh thực tại và những tình huống mới. Trẻ cũng thường hành  
động một cách bồng bột.  
17  
Như vậy, những đặc điểm về hành vi của trẻ RLPT được biểu hiện thông  
qua 3 tiêu chí cụ thể sau:  
* Biểu hiện qua vận động các bộ phận cơ thể:  
- Trẻ đi lại, ra vào tự do trong lớp.  
- Khi không vừa ý, trẻ có thể đấm đá, xô đẩy hoặc ăn vạ.  
- Ngồi không yên, gật gù, lắc người, vận động tay chân liên tục.  
- Trẻ có thể đạp phá đồ vật khi chơi.  
- Trẻ có thể vệ sinh không đúng nơi.  
- Trẻ từ chối sự chăm sóc, vỗ về của người khác bằng cách lẩn tránh.  
* Biểu hiện bằng sự im lặng:  
- Trẻ ngồi uể oải, buồn chán, im lặng.  
- Không nói chuyện với bạn bè, mọi người xung quanh.  
- Không thực hiện nhiệm vụ.  
- Không phản ứng lại thậm chí khi bị trêu chọc.  
* Biểu hiện bằng âm thanh lời nói:  
- Trẻ nói tự do trong giờ học.  
- Trẻ có thể la hét, gào thét không rõ nguyên nhân.  
- Trẻ có thể lẩm bẩm một mình.  
- Trẻ có thể khóc hoặc hờn dỗi.  
1.2.1.3. Các nguyên nhân dẫn đến hành vi bất thường của trẻ rối loạn  
phát triển  
Những biểu hiện bất thường về hành vi của trẻ rối loạn phát triển có thể  
nảy sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Thực tế cho thấy nguyên nhân dẫn  
đến những hành vi không mong muốn là rất đa dạng và phức tạp như chính bản  
thân mỗi trẻ. Do vậy, xác định chức năng của từng hành vi là rất khó khăn. Để  
18  
ngăn chặn và giảm thiểu hành vi có vấn đề, chúng ta cần theo dõi những yếu tố  
có thể dẫn đến các hành vi đó một cách có hệ thống. Đánh giá chính xác nguyên  
nhân dẫn đến hành vi bất thường là cơ sở để chúng ta có biện pháp phòng ngừa  
và quản lí hành vi của trẻ hiệu quả. Dưới đây là một số nguyên nhân cụ thể:  
+ Do tổn thương hoạt động thần kinh cấp cao làm cho quá trình hưng phấn  
và ức chế mất cân bằng.  
+ Nhận thức của trẻ quá hạn chế nên không hiểu hết được những nội quy,  
quy tắc. Trẻ không hiểu hành vi thái độ của mình đúng hay sai.  
+ Hạn chế về ngôn ngữ và kĩ năng giao tiếp khiến trẻ không biết thể hiện  
cảm xúc và mong muốn.  
+ Trẻ bị đối xử thiếu công bằng ở trong gia đình hoặc ở nhà trường và xã  
hội.  
+ Trẻ muốn thu hút sự chú ý của người khác vì trẻ không biết cách sử dụng  
ngôn ngữ để làm điều này.  
+ Trẻ muốn trốn chạy khỏi các tình huống mà trẻ không thích hoặc trốn  
tránh nhiệm vụ khó khăn.  
1.2.2. Khái niệm quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển  
1.2.2.1. Quản lí hành vi  
Trong đời sống xã hội, quản lí xuất hiện khi có hoạt động chung của con  
người. Quản lí điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các  
hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của  
tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước.  
Dưới góc độ tâm lí học, quản lí là tác động có ý thức của chủ thể quản lí  
lên đối tượng bị quản lí để đạt được mục tiêu nhất định.  
Chủ thể quản lí là cá nhân hay tổ chức - những đại diện có quyền hạn và  
trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng  
tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lí.  
19  
Khách thể của quản lí vô cùng đa dạng, tuỳ thuộc vào từng loại hình quản  
lí. Nó được quy định bởi nhiều quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạo  
đức, quy phạm tôn giáo , quy phạm pháp luật…  
Hành vi của con người là một trong những khách thể quản lí. Đặc biệt  
trong lĩnh vực giáo dục. Ngay từ khi còn nhỏ, hành vi của con người đã được  
“uốn nắn” trong các quy phạm về mặt đạo đức, pháp luật, tôn giáo, sắc tộc…  
Xét trên phương diện về sinh học‚ tâm lý học thì hành vi có nghĩa là cách  
thể hiện suy nghĩ của một người ra bên ngoài thông qua hành động hoặc cử chỉ‚  
trạng thái trong một hoàn cảnh nhất định và trong một khoảng thời gian cụ thể.  
Với cách tiếp cận trên có thể hiểu quản lí hành vi là sự tác động có ý thức  
của một cá nhân hay tổ chức có quyền hạn và trách nhiệm lên các hành động,  
cử chỉ, trạng thái của đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.  
1.2.2.2. Quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển  
Quản lí hành vi không mong muốn của trẻ rối loạn phát triển là việc không  
hề đơn giản. Chúng ta có thể lựa chọn nhiều biện pháp khác nhau nhưng nên bắt  
đầu bằng những biện pháp xử lý nhẹ nhất. Mặt khác, việc lựa chọn biện pháp xử  
lí nào phục thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi do trẻ gây ra. Mục tiêu  
cuối cùng là dạy trẻ kiểm soát được các hành vi của mình mà không cần hoặc  
cần ít nhất sự hỗ trợ từ phía bên ngoài. Từ đó, giúp trẻ sống độc lập ở mức cao  
nhất và hoà nhập được với cộng đồng.  
Quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển là sự tác động của một cá nhân  
(cha, mẹ, người chăm sóc trực tiếp, cô giáo,…) hay tổ chức (gia đình, nhà  
trường, các nhà giáo dục…) có quyền hạn và trách nhiệm lên các hành động, cử  
chỉ, trạng thái của trẻ rối loạn phát triển nhằm giúp trẻ hạn chế và kiểm soát  
được các hành vi bất thường. Từ đó trẻ đạt được các mục tiêu giáo dục đã đề  
ra.  
Tóm lại, quản lí hành vi đề cập đến việc sử dụng các chiến lược biện pháp  
nhằm tăng cường các hành vi mong muốn và giảm thiểu những hành vi không  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 67 trang Thùy Anh 19280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên trong quản lí hành vi cho trẻ rối loạn phát triển tại cơ sở giáo dục thực hành Mầm non Hoa Sen trường Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_bien_phap_khac_phuc_kho_khan_tam_li_cua_giao_vien_tro.pdf