Hoạt động ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước láng giềng trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 7 (2021): 1277-1288  
Vol. 18, No. 7 (2021): 1277-1288  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH  
VỚI MỘT SỐ NƯỚC LÁNG GIỀNG  
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)  
Nguyễn Thị Ngọc Trân*, Nguyễn Thị Hương  
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Ngọc Trân – Email: [email protected]  
 g   nh n      09-6-2021  ng   nh n          09-7-2021  ng   ch p nh n   ng  22-7-2021  
TÓM TẮT  
S u n m 1945   ong  ong vớ  quá trình   u tr nh chống Pháp xâm lược  v ệc th ết l p v  mở  
rộng qu n hệ quốc tế nhằm tr nh thủ  ự ủng hộ  g úp  ỡ củ  các nước trên thế g ớ   ố  vớ  cuộc  
kháng ch ến củ  nhân dân V ệt   m l  r t qu n trọng. Bằng các phương pháp ngh ên cứu lịch    –  
log c v  phân tích  khảo cứu tư l ệu      v ết trình     cơ  ản hoạt  ộng ngoạ  g  o củ  Chủ tịch  
Hồ Chí M nh với một số nước nước láng giềng trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) nhằm  
l m rõ  ường lố  lãnh  ạo  úng  ắn, sáng tạo củ   gười trong hoạt  ộng  ối ngoại. Những hoạt  
 ộng này nhằm mục  ích hình thành liên minh chiến   u Việt – Miên – Lào và  ạt  ược sự ủng hộ  
của Trung Quốc cho cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc Việt Nam.  
Từ khóa: kháng chiến chống Pháp; hoạt động ngoại giao; Hồ Chí Minh; láng giềng;  
1.  
Đặt vấn đề  
Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng  
trường Ba Đình, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt  
Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt gần một nghìn năm chế độ phong kiến và gần 100 năm  
chế độ thuộc địa trên đất nước ta, mang lại quyền tự do bình đẳng cho tất cả con người  
Việt Nam. Thế nhưng, nước Việt Nam vừa mới ra đời đã gặp muôn vàn khó khăn, một lúc  
phải đương đầu với nhiều loại giặc “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, có lúc như “ngàn  
cân treo sợi tóc”. Chính quyền cách mạng vừa được thành lập, lực lượng cách mạng rất  
yếu, bị cô lập bao vây tứ phía, chưa được quốc gia nào công nhận, chưa thiết lập quan hệ  
ngoại giao ngay cả với các nước láng giềng. Vì vậy, để khắc phục những khó khăn trên,  
ngoài sự đoàn kết của toàn dân thì chính sách đối ngoại có vai trò rất quan trọng trong việc  
khắc phục những khó khăn của đất nước. Nội dung bài viết tập trung làm rõ hoạt động  
ngoại giao với một số nước láng giềng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống  
Cite this article as: Nguyen Thi Ngoc Tran, & Nguyen Thi Huong (2021). President Ho Chi Minh’s  
diplomatic activities with neighboring countries in the anti – French war (1945-1954). Ho Chi Minh City  
University of Education Journal of Science, 18(7), 1277-1288.  
1277  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1277-1288  
Pháp (1945-1954), cụ thể hoạt động ngoại giao với các nước: Lào, Campuchia và Trung  
Quốc nhằm làm rõ ý nghĩa, tác dụng của việc thiết lập ngoại giao với các nước láng giềng  
đối với cuộc kháng chiến kiến quốc của dân tộc Việt Nam.  
2.  
Giải quyết vấn đề  
2.1. Bối cảnh quốc tế và tình hình Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954  
2.1.1. Bối cảnh quốc tế  
Khi chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc (năm 1945), hệ thống xã hội chủ nghĩa trên  
thế giới hình thành với sự ra đời của một loạt nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu.  
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi và lan  
rộng sang Mĩ Latin, trở thành một dòng thác cách mạng đánh đổ chủ nghĩa thực dân.  
Sau chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), nước Mĩ giàu lên nhờ buôn bán vũ khí  
và trở thành cường quốc hàng đầu trên thế giới, là chủ nợ của các nước Tây Âu. Ở Trung  
Quốc, chính quyền Tưởng Giới Thạch thất bại nặng nề trước quân giải phóng của Đảng  
Cộng sản Trung Quốc tại 11 tỉnh sau Hiệp định ngày 10/10/1945, buộc phải kí với Đảng  
Cộng sản Trung Quốc hiệp định mới ngày 10/01/1946 và mở Hội nghị Chính trị hiệp  
thương Quốc – Cộng. Sự phân hóa sau chiến tranh và tập hợp lực lượng mới trên thế giới  
và ở Viễn Đông tác động phức tạp tới tình hình Việt Nam, nơi nhiều nước lớn liên quan ở  
những mức độ khác nhau, và quân đội các nước Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật.  
Từ năm 1950 trở đi, Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào các nước ở bán đảo Đông  
Dương. Anh lo sợ trước thắng lợi của cách mạng Trung Quốc và Việt Nam sẽ ảnh hưởng  
đến các nước thuộc địa và phụ thuộc ở Đông Nam Á, nên tích cực ủng hộ Mĩ giúp Pháp  
tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh tại Việt Nam không còn  
là của riêng nước Pháp, mà đã trở thành vấn đề của cả phe đế quốc do Mĩ cầm đầu. Ngày  
23/02/1950, Mĩ  p Pháp kí hiệp ước ph ng thủ năm bên gồm Mĩ, Pháp, và ba “quốc gia  
liên kết” trong  iên hiệp Pháp là Quốc gia  iệt Nam của Bảo Đại, Campuchia và  ào.  
Hiệp ước ph ng thủ này trao cho Mĩ quyền trực tiếp điều hành viện trợ của Mĩ cho các  
“chính phủ liên kết” ở Đông Dương. Do đó, vai tr  của Mĩ trong chiến tranh được chính  
thức hóa  các chính quyền thân Pháp nay phụ thuộc nhiều hơn vào Mĩ.  
Trong những năm 1951-1954, Mĩ tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp  
để nước này chi phí cho cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Đông Dương nhằm giữ chân Pháp  
tại Đông Dương. Như vậy, Mĩ đã lộ r  âm mưu xâm lược  iệt Nam, nhưng hiện tại chưa  
phải là thời cơ chín muồi cho Mĩ thay thế hoàn toàn Pháp lúc này. Bằng viện trợ về kinh tế  
và quân sự, mục đích của Mĩ nhằm vực Pháp trở nên mạnh mẽ ở Đông Dương, tạo điều  
kiện cho Mĩ chu n bị các yếu tố khác cần thiết và chắc chắn hơn.  
2.1.2. Tình hình Việt   m g     oạn 1945-1954  
Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam thành công dẫn đến sự ra đời của nhà nước Việt  
Nam Dân chủ Cộng h a, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thế nhưng, lúc này, đất nước  
gặp muôn vàn khó khăn, một lúc phải đương đầu với nhiều loại giặc. Chính quyền cách  
1278  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Ngọc Trân và tgk  
mạng vừa được thành lập, lực lượng cách mạng còn rất yếu, bị cô lập bao vây tứ phía, lại  
phải chống chọi cùng một lúc với nhiều thù trong giặc ngoài. Ở miền Bắc, 20 vạn quân  
Tưởng dưới danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Theo  
chân chúng là bọn phản động Việt Cách và Việt Quốc, do chính quyền Tưởng Giới Thạch  
thu nạp và nuôi dưỡng từ lâu. Trong miền Nam, 26 nghìn quân Anh – Ấn cũng đã vào để  
giải giáp quân đội Nhật.  
Nhằm trao một số quyền lợi cho Pháp ở Đông Dương, ngày 09/10/1945, Anh đã kí  
với Pháp hiệp định chính thức công nhận chính quyền dân sự của Pháp tại Đông Dương.  
Tiếp theo đó, ngày 01/01/1946, Anh trao quyền cho Pháp giải giáp quân đội Nhật ở phía  
Nam vĩ tuyến 16. Ở miền Nam, lực lượng của Pháp ở Nam Bộ lúc này có 1500 lính là tù  
binh của Nhật đã được trả tự do, có trang bị vũ trang và đạo quân viễn chinh mới được  
Pháp gấp rút đưa vào. Sự có mặt của hơn 30 vạn quân đội nước ngoài thuộc bốn thế lực đối  
địch với cách mạng Việt Nam (Anh, Pháp, Nhật, Tưởng) đã tạo sự chênh lệch lớn trong  
cán cân lực lượng, gây nhiều bất lợi cho cách mạng nước ta. Lợi dụng tình hình Nam Bộ  
chưa ổn định, ngày 23/9/1945, Pháp nổ súng đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ  
tại Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai.  
Ở miền Trung và Bắc Việt Nam, nạn đói vẫn tiếp tục hoành hành khắp nơi. Nhà  
nước cách mạng trẻ ra đời trong tình trạng tài chính kiệt quệ, ngân sách trống rỗng, hơn  
95% dân số mù chữ. Hệ thống ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp.  
Quân đội của Tưởng  iới Thạch cho lưu hành đồng tiền mất giá của Trung Quốc, tự ý quy  
định tỉ giá tiền quan kim và tiền Đông Dương, làm lũng đoạn thị trường miền Bắc. Tình  
hình trên được xem là quốc nạn đối với một quốc gia mới giành độc lập. Trong báo cáo của  
Pignon gửi Cao ủy Đacgiăngliơ ngày 28/10/1945, cố vấn chính trị của Cao ủy Pháp ở  
Đông Dương đã nhận x t: “Chính quyền cách mạng Việt Nam ra đời ‘không đồng minh,  
không tiền, hầu như không vũ khí’” (Nguyen, 2005, p.47).  
Sau khi Pháp – Tưởng kí với nhau Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28/02/1946 với thỏa  
thuận liên quan đến Việt Nam, Ban Thường vụ Trung ương nhận định trong Chỉ thị ngày  
03/3/1946 “Hiệp ước Hoa – Pháp không phải là chuyện riêng của Tàu và Pháp. Nó là  
chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc địa. Dù nhân dân Đông  
Dương muốn hay không muốn, nhất định chúng cũng thi hành Hiệp ước ấy” (Nguyen,  
2005, p.47).  
Trước hoàn cảnh đất nước như trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng một  
mặt lãnh đạo đồng bào Nam Bộ kháng chiến, mặt khác ra sức củng cố và phát triển đảng,  
gây dựng nội lực, đồng thời đ y mạnh đấu tranh ngoại giao trong tình thế bị bao vây cô  
lập. Hoạt động ngoại giao với các nước láng giềng thời kì này được chú trọng hơn cả,  
nhằm hình thành liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia và kết nối với Đảng  
Cộng sản Trung Quốc trong cuộc chiến chống kẻ thù chung là Pháp.  
1279  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1277-1288  
Ngày 14/01/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố:  
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân  
dân Việt Nam. Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn  
sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền  
lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây  
đắp dân chủ thế giới. (Ho, 2011, p.310-311)  
Sau tuyên bố này, bằng các hình thức khác nhau, đặc biệt chú trọng tới công tác đối  
ngoại, nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a đã được nhiều nước trong hệ thống xã hội chủ  
nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Họ ủng hộ về kinh tế và chính trị cho Việt  
Nam kháng chiến chống Pháp.  
2.2. Hoạt động ngoại giao tiêu biểu với một số nước láng giềng của Chủ tịch Hồ Chí  
Minh trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)  
2.2.1. Đường lối và mục  ích hoạt  ộng ngoại giao củ   h  nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  
Trong hoàn cảnh phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, Đảng chủ trương lợi dụng  
mâu thuẫn giữa các bên đối phương có mặt ở nước ta, “tránh các trường hợp một mình đối  
phó với nhiều lực lượng đồng minh… chỉ có thực lực của ta mới quyết định được thắng lợi  
giữa ta và Đồng minh” (Communist Party of  ietnam, 2000, p.427). Do đó, phải hòa hoãn  
với quân Tưởng, khôn kh o tránh xung đột, thực hiện kh u hiệu “Hoa – Việt thân thiện”,  
dựa vào sự ủng hộ, bảo vệ của toàn dân đối với chính quyền nhân dân mà làm thất bại âm  
mưu của quân Tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Ta cân nhắc kĩ lợi hại, chọn cái nào ít  
hại nhất thì làm. Nếu không ta bị kẹp giữa hai kẻ thù là bọn thực dân Pháp xâm lăng và  
bọn quân phiệt Tưởng” ( u, 2010, p.87).  
Cuối tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời kêu gọi tới Liên Hiệp Quốc và  
Hội đồng bảo an, nêu rõ nguồn gốc, tình hình cuộc chiến ở Đông Dương và đề nghị ủng hộ  
vãn hồi hòa bình ở Việt Nam. Trình bày chính sách ngoại giao cởi mở của Việt Nam, Hồ  
Chí Minh khẳng định:  
1. Đối với  ào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ  
mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền.  
2. Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác  
trong mọi lĩnh vực.  
a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kĩ thuật  
nước ngoài, trong tất cả các ngành kĩ nghệ của mình.  
b. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế dưới sự lãnh đạo của  
Liên Hợp Quốc… (Ho Chi Minh, 2011, p.523).  
Như vậy, thông qua chính sách đối ngoại nêu trên cho thấy tư tưởng tiến bộ của  
Người trong việc sẵn sàng mở rộng mối quan hệ với các nước dân chủ và các nhà đầu tư tư  
bản nước ngoài, đồng thời  iệt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế dưới  
sự lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc nhằm phát triển kinh tế của  iệt Nam.  
1280  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Ngọc Trân và tgk  
Trong quan hệ với các nước của phe Đồng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng  
chính sách ngoại giao khôn kh o là tránh một lúc phải đối phó với nhiều lực lượng Đồng  
minh (Tàu, Mĩ, Anh, Pháp) tràn vào nước ta và thực hiện chính sách ngoại giao thêm bạn,  
bớt thù, phân hóa kẻ thù giữa quân Tưởng và quân Pháp. Ngày 16/7/1947, trả lời một tờ  
báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu các quan điểm về chính sách đối ngoại hữu  
nghị và hợp tác của Việt Nam, Người khẳng định: “ iệt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi  
nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng  
hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam” (Nguyen, 2005, p.105).  
Sự kiện này cho thấy quan điểm cởi mở trong chính sách đối ngoại của người đứng  
đầu nhà nước  iệt Nam Dân chủ Cộng h a, đó là  iệt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi  
nước dân chủ và sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước trên thế giới nhưng phải tôn trọng  
độc lập chủ quyền của  iệt Nam. Điều này cho thấy tư tưởng tiến bộ và yêu chuộng h a  
bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  
Trên cơ sở những đường lối chính sách nêu trên, những hoạt động ngoại giao của nhà  
nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a trong giai đoạn 1945-1954 nhằm mục đích sau:  
- Bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, có thêm đồng minh chống kẻ thù xâm  
lược.  
- Phá vòng vây cô lập của kẻ thù và thiết lập quan hệ với các nước láng giềng.  
- Đ y nhanh tổ chức hội nghị quốc tế ở Đông Dương về chấm dứt chiến tranh.  
Với những mục đích như trên, ngoại giao Việt Nam thời kì này được xem như là mặt  
trận. Mặt trận ngoại giao kết hợp với mặt trận quân sự là hai mũi giáp công đưa cuộc  
kháng chiến chống Pháp nhanh chóng kết thúc vào năm 1954.  
2.2.2. Hoạt  ộng ngoại giao tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước láng  
giềng trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)  
a) Hoạt  ộng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc  
Sau Cách mạng tháng Tám, trong những năm đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kh o  
léo xử lí quan hệ với Quốc dân Đảng cũng như tìm cách kết nối quan hệ ngoại giao với  
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Để vô hiệu mặt tiêu cực của “Hoa quân nhập Việt” và  
chống lại chủ trương “diệt cộng cầm Hồ” mà lực lượng Tưởng Giới Thạch đề ra khi vào  
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu kh u hiệu “Hoa – Việt thân thiện” và thực hiện hòa  
hoãn với các sách lược mềm mỏng và bình tĩnh mà Người còn gọi là “chính sách Câu  
Tiễn” (Nguyen, 2005, p.55).  
 iệt Nam đ y mạnh quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong phe chủ  
nghĩa xã hội. Ngày 01/10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập.  
Sự kiện này tạo ra bước ngoặt trong tình hình châu Á và thế giới, ảnh hưởng đến cuộc đấu  
tranh giải phóng dân tộc ở Đông Dương. Ngày 05-12-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi  
điện tới Chủ tịch Mao Trạch Đông, chúc mừng sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân  
Trung Hoa. Bức điện có đoạn: “Hai dân tộc Việt – Hoa có mối quan hệ anh em trải qua  
1281  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1277-1288  
mấy nghìn năm lịch sử. Từ đây, mối quan hệ ấy sẽ ngày càng mật thiết để phát triển tự do  
và hạnh phúc của hai dân tộc ta, và bảo vệ dân chủ thế giới và h a bình lâu dài” (Nguyễn,  
2014, tr.35). Cùng với việc gửi điện chúc mừng, ngày 15/01/1950, Việt Nam Dân chủ  
Cộng hòa tuyên bố công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đến ngày 18/01/1950,  
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc Trung  
Quốc công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một sự kiện quan trọng đối với ta,  
mở ra hàng loạt các thắng lợi ngoại giao khi các quốc gia khác lần lượt công nhận nước  
Việt Nam Dân chủ Cộng h a là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam. Với  
thắng lợi ngoại giao đầu năm 1950,  iệt Nam đã phá vỡ thế bao vây cô lập của kẻ thù, mở  
rộng ngoại giao với các nước trên thế giới. Thông qua sự kiện này, vị trí pháp lí của nước  
Việt Nam Dân chủ Cộng h a đã được khẳng định một cách chính thức, được thừa nhận là  
quốc gia có chủ quyền, là thành viên phe xã hội chủ nghĩa.  
Tiếp tục đ y mạnh quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, trong năm 1950, quân đội  
Việt Nam phối hợp với quân giải phóng bạn tiêu diệt các cứ điểm và lực lượng còn lại của  
Tưởng Giới Thạch ở khu vực biên giới hai nước. Tháng 4/1951, Đại sứ quán Việt Nam  
Dân chủ Cộng h a được thành lập ở Bắc Kinh, và tiếp theo đó, Việt Nam mở hai biện xứ ở  
Hoa Nam (Trung Quốc). Bên cạnh đấu tranh về mặt ngoại giao, các hoạt động quân sự trên  
chiến trường cũng thu được kết quả lớn. Quân đội  iệt Nam giành được nhiều thắng lợi  
trên các mặt trận, buộc Pháp phải co cụm về cứ điểm Điện Biên Phủ.  
Dù không tham gia trực tiếp trong đoàn đại biểu dự Hội nghị  eneva về Đông  
Dương, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cuộc gặp riêng với các nhà lãnh đạo  
Trung Quốc và  iên  ô về những vấn đề xoay quanh hội nghị. Chủ tịch Hồ Chí Minh và  
Thủ tướng Chu  n  ai gặp tại  iễu Châu, tỉnh Quảng Tây, từ ngày 03-05/7/1954, đề cập  
những nội dung quyết định của giải pháp. Thông qua cuộc hồi đàm giữa hai nhà lãnh đạo  
 iệt – Trung, cho thấy ngoại giao  iệt Nam trong giai đoạn 1950-1953 đã thể hiện đường  
lối độc lập tự chủ trong việc muốn phân r  giới tuyến theo chiều hướng có lợi cho đất  
nước. Tuy vẫn c n hội ý và xin ý kiến từ các nước anh em ( iên  ô – Trung Quốc), nhưng  
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn r  ý đồ của Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế, nhất là  
vấn đề Đông Dương trong cuộc trao đổi với các nước đế quốc xung quanh Hiệp định  
 eneva sắp diễn ra.  
Tóm lại, chúng ta không thể phủ nhận sự ủng hộ quý báu của Trung Quốc trong  
những năm 1950-1954 về vật chất và tinh thần đối với Việt Nam. Với sự giúp đỡ này, Việt  
Nam có thêm hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là một trong những nhân tố  
đưa cuộc chiến của Pháp sớm kết thúc tại chiến trường Việt Nam.  
b) Hoạt  ộng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Lào và Campuchia  
Nhận rõ tầm quan trọng của sự đoàn kết giữa hai dân tộc (Lào – Capuchia) trong  
hình thành liên minh chiến đấu chống Pháp xâm lược. Sau ngày nước Việt Nam Dân chủ  
1282  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Ngọc Trân và tgk  
Cộng h a được thành lập (02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bước thắt chặt quan hệ  
Việt Nam – Lào – Campuchia thêm bền vững.  
Trong quan hệ với Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đại diện của Chính phủ Việt  
Nam Dân chủ Cộng hòa sang thiết lập quan hệ với Chính phủ Lào. Người mời Hoàng thân  
Souphanouvong đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân vào ngày 04/9/1945. Cuộc gặp  
gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường  
làm cách mạng. Ngày 03/10/1945, tại cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân tỉnh  
Savannakhet đón chào Hoàng thân Souphanouvong trở về tham gia chính phủ Lào và  
tuyên bố: “Quan hệ Lào – Việt từ nay sẽ mở ra một kỉ nguyên mới” (Communist Party of  
Vietnam, 2017, p.12).  
Ngày 14/10/1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng h a đã gửi điện chúc mừng,  
tuyên bố công nhận Chính phủ  ào và đề nghị thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.  
Ngày 30/10/1945, Hiệp ước liên minh quân sự giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng  
hòa và Chính phủ  ào Itxala được kí kết (Dang, 2004, p.43).  
Trong quan hệ với Campuchia, với phương châm “ iúp nhân dân nước bạn tức là  
mình tự giúp mình” (Ho, 2011, p.105), Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn làm hết sức mình để  
giúp đỡ phong trào cách mạng ở Campuchia. Nhằm đ y mạnh hơn nữa các hoạt động phối  
hợp chống kẻ thù chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương gấp rút tăng cường và kiện  
toàn các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam giúp Campuchia xây dựng các căn cứ địa,  
làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng cách mạng và giúp Campuchia xây dựng, phát triển  
cơ sở Đảng, đồng thời phân công cán bộ chuyên trách theo dõi tình hình kháng chiến ở  
Campuchia. “Một số đội vũ trang của kiều bào yêu nước từ nước ngoài về đã được tổ chức  
lại và đi vào hoạt động. Các đơn vị này đã tiếp xúc được với dân, đ y mạnh vũ trang tuyên  
truyền mở rộng cơ sở” (Dang, 2004, p.148).  
Với sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong cuộc chiến chống kẻ thù chung, Chủ tịch  
Chính phủ Campuchia giải phóng gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỏ l ng “tin tưởng vào  
sự thắng lợi cuối cùng của nhân dân Campuchia và kêu gọi sự giúp đỡ của nhân dân Việt  
Nam” (Ho Chi Minh Institute, 1994, p.145). Trong thư trả lời ngày 12/12/1947, Chủ tịch  
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các dân tộc ta, đã sẵn có một tinh thần tranh đấu cao, lại  
gắng đi tới một sự cộng tác chặt chẽ, thì thắng lợi thế nào cũng về ta, và chúng ta nhất định  
sẽ giành được độc lập” (Ho, 2011, p.47).  
Đánh giá cao vị trí của chiến trường Campuchia đối với cuộc kháng chiến của nhân  
dân ba nước Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng mối  
quan hệ và phối hợp chiến đấu giữa nhân dân hai nước. Đầu tháng 02/1948, trong buổi làm  
việc với đoàn cán bộ Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu phái đoàn báo cáo về  
những chủ trương và hoạt động cụ thể của Xứ ủy Nam Bộ để phối hợp với lực lượng  
kháng chiến Campuchia. Người nhắc nhở cần giúp đỡ lực lượng kháng chiến Campuchia,  
đ y mạnh hoạt động hơn nữa để hỗ trợ cho chiến trường Nam Bộ (Dang, 2004, p.149).  
1283  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1277-1288  
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết chặt chẽ với hai dân tộc Campuchia, Lào trong  
cuộc kháng chiến giành độc lập, cùng Việt Nam giải phóng Đông Dương. Trong Hội nghị  
cán bộ về công tác đoàn kết giúp đỡ phong trào kháng chiến Lào và Campuchia (ngày  
15/02/1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra bốn phương châm của công tác quốc tế với  
nước bạn:  
1. Không đứng trên lợi ích Việt Nam mà làm công tác Lào – Miên.  
2. Nắm chắc nguyên tắc dân tộc tự quyết, phải do Lào, Miên tự quyết định lấy.  
3. Không đem chủ trương, chính sách, nguyên tắc của Việt Nam ứng dụng vào Lào, Miên  
như lắp máy.  
4. Cần giúp đỡ Lào, Miên để bạn tự làm lấy. (Nguyen, 2005, p.112).  
Trong năm 1949,  iệt Nam tiếp tục đ y mạnh các hoạt động quốc tế giúp bạn Lào  
phát triển các căn cứ ở phía Thượng, Trung, Hạ  ào và căn cứ Bôlôven; giúp bạn  
Campuchia mở rộng căn cứ, tiến tới nối liền căn cứ Đông Nam và Đông Bắc. Với sự giúp  
đỡ của Đảng và Chính phủ Việt Nam, cho đến cuối năm 1949, “Tại Campuchia, các khu  
căn cứ địa đã được hình thành, lực lượng kháng chiến của nhân dân hai nước tăng lên đáng  
kể, thế trận cuộc cách mạng trên bán đảo Đông Dương đã được hình thành và phát huy sức  
mạnh” (Dang, 2004, p.155).  
Trong bài trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp Lêô Phigê (tháng 9/1950), Chủ tịch Hồ  
Chí Minh đã nêu r : “Ba nước sẽ bang giao với nhau trên nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn  
và tôn trọng độc lập quốc gia của nhau” (Ho, 2011, vol.6, p.436). Tháng 02/1951, Đảng  
Cộng sản Đông Dương họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II tại Tuyên Quang. Trong  
điều kiện lịch sử mới ở  iệt Nam và Đông Dương, Đại hội chủ trương Đảng ở  iệt Nam  
lấy tên là Đảng  ao động  iệt Nam.  ào và Campuchia mỗi nước lập đảng cách mạng  
riêng, phù hợp với điều kiện của từng nước.  ăn kiện Đại hội nêu r : “Đảng  ao động  iệt  
Nam có nghĩa vụ giúp đỡ các đồng chí và những tổ chức cách mạng Miên –  ào để họ lãnh  
đạo cuộc kháng chiến của hai dân tộc ấy giành thắng lợi cuối cùng” (Nguyen, 2005,  
p.129).  
Ngày 11/3/1951, các đại diện của mặt trận Khơme Itsarak, của Mặt trận  ào Itxala và  
đại diện Mặt trận  iên  iệt của  iệt Nam đã họp hội nghị thành lập “Mặt trận Đoàn kết  
 iên minh  iệt – Miên –  ào”. Hội nghị xác định:  
1) Ba dân tộc Việt Nam,  ào, Campuchia đều có kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp  
Mĩ. Cuộc kháng chiến của ba dân tộc là một bộ phận khăng khít của phong trào hòa bình,  
dân chủ thế giới. Nhiệm vụ cách mạng tại ba nước Đông Dương là đánh đuổi bọn xâm lược  
Pháp và can thiệp Mĩ, làm cho ba nước hoàn toàn độc lập, xây dựng ba quốc gia mới, làm  
cho nhân dân ba nước được tự do, sung sướng và tiến bộ.  
2) Thành lập liên minh nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia dựa trên nguyên tắc tự  
nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau  định ra một chương trình  
hành động chung của liên minh ba nước…” (Ho Chi Minh, 2011, vol.6, p.436).  
1284  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Ngọc Trân và tgk  
Các quyết định của Hội nghị thành lập Mặt trận liên minh ba nước là một bước tiến  
mới của sự nghiệp đoàn kết đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương. Đảng  ao động  
 iệt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục tinh thần quốc tế cho cán bộ và chiến sĩ  
 iệt Nam. Trong Hội nghị liên minh ba nước Đông Dương họp tháng 9/1952, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh đã nói: “Nhân dân  iệt Nam hết l ng thành thật giúp đỡ nhân dân  ào, nhân dân  
Miên một cách vô điều kiện. Sự thật thì chưa thể tìm ra chữ gì để thay thế chữ “giúp”, chứ  
thực ra không phải là giúp mà là nghĩa vụ quốc tế” ( ar Summary Steering Committee,  
2000, p.135).  
Trong thư gửi các đơn vị của bộ đội  iệt Nam có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng  ào,  
Bác nêu r :  
 ần này là lần đầu tiên các chú nhận nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức  
là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân bạn tức là mình tự giúp mình. Để làm tr n  
nhiệm vụ chiến đấu, từ trên xuống dưới các chú phải: …Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng  
chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán và kính yêu nhân dân nước bạn. (Ho Chi Minh,  
2011, vol.8, p.105).  
Với quan điểm đó, sự giúp đỡ của cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam đối  
với quân đội và nhân dân nước bạn không hàm chứa một nội dung nào khác ngoài tình  
đoàn kết quốc tế cao cả.  
Trong cuộc chiến Đông – Xuân (1953-1954), bộ đội Việt Nam phối hợp với bộ đội  
Khơme giải phóng vùng Đông Bắc Campuchia, một vùng rộng lớn thuộc tỉnh Preah Vihear  
và vùng Đông Bắc Kongponthom, rồi xuống phía Nam Campuchia (Dang, 2004, p.222). Ở  
Campuchia cũng đã hình thành các vùng căn cứ kháng chiến, liên kết với vùng giải phóng  
của Việt Nam ở Nam Bộ và vùng giải phóng Hạ Lào (Nguyen, 2005, p.131). Chiến thắng  
to lớn Đông – Xuân 1953-1954, nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đ n quyết  
định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo điều  
kiện thuận lợi cho đấu tranh ngoại giao. Đây là thắng lợi của quân đội và nhân dân Việt  
Nam, cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân  
Campuchia, thể hiện rõ vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đ y mạnh quan hệ  
ngoại giao với nước láng giềng, đặt cơ sở cho việc hình thành mặt trận đoàn kết nhân dân  
và quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong những năm tiếp theo.  
2.3. Ý nghĩa, tác dụng của việc thiết lập ngoại giao với láng giềng  
Trong những năm 1945-1954, trong tình cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, nhưng  
với tài thao lược của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bước đ y mạnh quan hệ ngoại giao  
với các nước láng giềng, việc làm này có ý nghĩa quan trọng trong cuộc kháng chiến chống  
Pháp của nhân dân Việt Nam thể hiện trên các nội dung cơ bản sau.  
Thúc đ y quan hệ đối ngoại và xây dựng liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa.  
Sự kiện ngày 18/01/1950, Trung Quốc chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đã  
phá vỡ vòng vây cô lập Việt Nam của kẻ thù, đưa cách mạng Việt Nam gắn với cách mạng  
thế giới. Sau sự kiện này, Liên Xô công nhận nền độc lập và đặt quan hệ với Việt Nam  
1285  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1277-1288  
(30/01/1950). Tiếp sau đó, lần lượt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông  u cũng đặt quan hệ  
ngoại giao và hợp tác với nước ta.  
Đặt nền móng cho quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào,  
Campuchia. Mối quan hệ với các nước láng giềng được hình thành trong chống Pháp, tiếp  
tục được duy trì trong chống Mĩ và cho tới hôm nay. Việc hình thành liên minh chiến đấu  
Việt Nam – Lào – Campuchia (1951) là cơ sở gắn kết quan hệ ba nước trong việc chống kẻ  
thù chung là Pháp.  
Hình thành liên minh chiến   u Việt Nam – Lào – Campuchia. Những hoạt động tích  
cực của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh  
thời kì này đã góp phần quan trọng hình thành mặt trận đoàn kết nhân dân ba nước Đông  
Dương, đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của mỗi quốc gia. Năm 1953, để phá vỡ kế hoạch  
Navarre, chu n bị các điều kiện đánh Điện Biên Phủ, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Bộ  
Tổng tư lệnh,  
Những hoạt động mạnh mẽ diễn ra trên khắp các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ  
và Nam Bộ cùng những cuộc tấn công của bộ đội Việt –  ào vào Thượng, Trung và Hạ Lào  
tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng chiến lược quan trọng, làm rối loạn thế  
trận của Navarr trên chiến trường Đông Dương. Tại Campuchia, bộ đội Việt Nam phối hợp  
với bộ đội Khơme giải phóng Đông Bắc Campuchia; một vùng khá rộng thuộc tỉnh Pơret  
 ihia và Đông Bắc tỉnh Kông Pông Thom. Như vậy là cả Campuchia cũng đã hình thành các  
vùng căn cứ kháng chiến, liên kết với vùng giải phóng của Việt Nam và vùng giải phóng Hạ  
Lào. (Nguyen, 2005, p.131)  
Nhờ sự giúp đỡ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các lực lượng kháng  
chiến của nhân dân hai nước Lào, Campuchia ngày càng phát triển. Sự phối hợp chiến đấu  
giữa quân và dân ba nước đã tạo nên một thế trận tiến công uy hiếp đối phương trên toàn  
chiến trường Đông Dương.  
Với những đóng góp như trên, việc thiết lập ngoại giao với láng giềng góp phần đặt  
nền móng cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng các nước này ở  
những giai đoạn sau thêm bền vững. Đó là cơ sở để quan hệ giữa Việt Nam – Lào, Việt  
Nam – Campuchia và Việt Nam – Trung Quốc có mối quan hệ gắn bó, cùng giúp đỡ lẫn  
nhau trong cuộc kháng chiến chống Mĩ những năm 1954-1975.  
3.  
Kết luận  
Từ những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nước láng giềng  
trong kháng chiến chống Pháp. Có thể thấy vai tr , đóng góp của Người cho cách mạng  
Việt Nam nói chung và ngành ngoại giao nói riêng ở những vấn đề cụ thể sau:  
Hoạt  ộng ngoại giao phân hóa rõ giữa chính quyền Tưởng Giới Thạch và chính  
quyền cách mạng củ  Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lí rất  
khéo léo mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc dân Đảng. Người đã tận  
dụng mọi khả năng để hòa hoãn với Tưởng, dựa vào sự ủng hộ, bảo vệ của toàn dân đối  
với chính quyền nhân dân mà làm thất bại âm mưu của quân Tưởng. Đối với Đảng Cộng  
1286  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Ngọc Trân và tgk  
sản Trung Quốc, người tìm cách kết nối và xây dựng quan hệ ngoại giao. Trong những  
năm đầu Việt Nam kháng chiến chống Pháp, dù Trung Quốc cũng đang trong chiến tranh  
giải phóng dân tộc nhưng hai bên đã có sự ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau.  
Góp phần xây dựng  ường lối, chính sách ngoại giao củ  nh  nước Việt Nam Dân  
chủ Cộng hò  g     oạn 1945-1954. Kết quả ngoại giao đạt được tạo cơ sở thiết lập nền  
ngoại giao mới (nền ngoại giao song phương và nền ngoại giao đa phương).  
Góp phần vào phong trào giải phóng dân tộc, thống nh t   t nước, nâng cao vị trí  
của Việt   m trên trường quốc tế. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 buộc  
Pháp phải chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước. Đó là thắng lợi chung của ba nước  
Đông Dương, thể hiện sự đoàn kết cùng nhau chống giặc ngoại xâm  đồng thời cổ vũ các  
dân tộc bị áp bức bóc lột trên thế giới vùng dậy đấu tranh đ i độc lập, tự do.  
Tuyên bố về quyền lợi: Các tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Communist Party of Vietnam (2000). Van kien Dang toan tap (Tap 7) [Complete Collection of  
Party Documents (Episode 8)]. Hanoi: National Political Publishing House.  
Communist Party of Vietnam (2017). Quan he dac biet Viet Nam - Lao (1930 - 2017) [Vietnam -  
Laos special relationship]. Hanoi: Truth National Political Publishing House.  
Dang, V. T. (2004). Hoat dong doi ngoai cua Chu tich Ho Chi Minh trong khang chien chong Phap  
[Pre  dent Ho Ch  M nh’  d plom c   ct v t e   n the  nt -French resistance war]. Hanoi:  
National Political Publishing House.  
Ho Chi Minh (2011). Ho Chi Minh: Toan tap (Tap 4) [Ho Chi Minh: Full episode (Episode 4)].  
Hanoi: National Political Publishing House.  
Ho Chi Minh. (2011). Ho Chi Minh: Toan tap (Tap 5) [Ho Chi Minh: Full episode (Episode 5)].  
Hanoi: National Political Publishing House.  
Ho Chi Minh (2011). Ho Chi Minh: Toan tap (Tap 6) [Ho Chi Minh: Full episode (Episode 6)].  
Hanoi: National Political Publishing House.  
Ho Chi Minh 2011). Ho Chi Minh: Toan tap (Tap 8) [Ho Chi Minh: Full episode (Episode 8)].  
Hanoi: National Political Publishing House.  
Ho Chi Minh Institute (1994). Ho Chi Minh - Bien nien tieu su (Tap 3) [Ho Chi Minh Biography  
Chronicle (Episode 3)]. Hanoi: National Political Publishing House.  
Nguyen, D. B. (2005). Ngoai giao Viet Nam: 1945-2000 [Vietnamese Diplomacy: 1945-2000].  
Hanoi: National Political Publishing House.  
Vu, K. (2010). Chu tich Ho Chi Minh voi cong tac ngoai giao [President Ho Chi Minh with  
diplomacy]. Hanoi: National Political Publishing House.  
War Summary Steering Committee (2000). Chien tranh cach mang Viet Nam, 1945-1975: Thang  
loi va bai hoc [Vietnam Revolutionary War, 1945-1975: Victory and lessons]. Hanoi:  
National Political Publishing House.  
1287  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1277-1288  
PRESIDENT HO CHI MINH’S DIPLOMATIC ACTIVITIES  
WITH NEIGHBORING COUNTRIES IN THE ANTI - FRENCH WAR (1945-1954)  
Nguyen Thi Ngoc Tran, Nguyen Thi Huong  
Ho Chi Minh City University of Education, Vietnam  
Corresponding author: Nguyen Thi Ngoc Tran – Email: [email protected]  
Received: June 09, 2021; Revised: July 09, 2021; Accepted: July 22, 2021  
ABSTRACT  
After 1945, together with the fight against the French invasion, the establishment and  
expansion of international relations to enlist the support and help of other countries in the war  
were very important. Using historical and logical methods and documentation, the paper presents  
the diplomatic activities by President Ho Chi Minh with neighboring countries in the anti-French  
resistance war (1945-1954) to clarify creative leadership by President Ho Chi Minh to form the  
Vietnam – Laos – Cambodia alliance and  e rch for Ch n ’   upport dur ng the w r  n V etn m.  
The article provides a comprehensive view of the historical context after 1945 and analyses the  
difficulties experienced by Vietnamese people and the successes achieved.  
Keywords: anti-French resistance war; diplomatic activities; Ho Chi Minh; neighbouring  
country  
1288  
pdf 12 trang Thùy Anh 17840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt động ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước láng giềng trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_dong_ngoai_giao_cua_chu_tich_ho_chi_minh_voi_mot_so_nuo.pdf