Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của V.I.Lê-nin (22-4-1870 – 22-4-2020) tư tưởng chính trị của V.I.Lê-nin - Những giá trị bền vững

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
KỶ NIỆM 150 NĂM NGÀY SINH CỦA V.I.LÊ-NIN  
(22-4-1870 – 22-4-2020)  
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA V.I.LÊ-NIN - NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG  
POLITICAL THOUGHTS OF V.I.LENIN - SUSTAINABLE VALUES  
NGUYỄN XUÂN TẾ và ĐỖ THỊ CƯỜNG  
TÓM TẮT: Bài viết giới thiệu những tư tưởng chính trị quan trọng của V.I.Lê-nin trong việc phát  
triển lý luận mác-xít về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và việc vận dụng sáng  
tạo chủ nghĩa Mác vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trong điều kiện cụ thể nước Nga.  
Từ khóa: Tư tưởng chính trị V.I.Lê-nin; phát triển lý luận mác-xít; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa  
Mác; xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trong điều kiện cụ thể nước Nga.  
ABSTRACT: The article introduces important political ideas of V.I.Lenin in developing Marxist  
theory of socialism and the path of going to socialism and the creative application of Marxism to  
constructing real socialism in specific conditions of Russia.  
Key words: political thoughts of V.I.Lenin; develop Marxist theory; creative application of  
Marxism; real socialism in specific conditions of Russia.  
Sau khi Ph.Ăng-ghen qua đời, thế giới đã  
có những biến đổi sâu sắc. Chủ nghĩa tư bản đã  
phát triển thành chủ nghĩa tư bản đế quốc. Mâu  
thuẫn xã hội ngày càng gay gắt; những yêu cầu  
của cuộc đấu tranh cách mạng đòi hỏi phải có  
lý luận cách mạng dẫn dắt phong trào. Sinh thời  
C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã tuyên bố: “Chúng  
tôi không tỏ ra là những nhà lý luận suông, tay  
cầm một mớ nguyên lý có sẵn: đây là chân lý,  
hãy phục tùng nó đi” [1, tr.379]. V.I.Lê-nin đã  
làm công việc bổ sung và phát triển học thuyết  
của Mác theo yêu cầu của cuộc sống, yêu cầu  
của sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản và  
nhân dân lao động cùng các dân tộc bị áp bức  
trên toàn thế giới. Ông viết: “Chúng ta không  
hề coi lý luận Mác như một cái gì đã xong xuôi  
hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin  
rằng lý thuyết đó chỉ đặt nền móng cho một  
môn khoa học mà những người xã hội chủ  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Là người kế tục trực tiếp và trung thành  
học thuyết cách mạng của C.Mác và Ph.Ăng-  
ghen, V.I.Lê-nin, một mặt đã bảo vệ sự trong  
sáng của chủ nghĩa Mác trước mọi khuynh  
hướng, mọi trào lưu tư tưởng, mọi lực lượng  
thù địch, mọi sự chao đảo đã “đánh mất mình”  
của những phần tử cách mạng phản bội, đầu  
hàng, mặt khác ông đã căn cứ vào những điều  
kiện lịch sử cụ thể ở cuối thế kỷ XIV và đầu thế  
kỷ XX để bổ sung và phát triển học thuyết ấy  
bằng những luận điểm mới vô cùng phong phú.  
Lịch sử với tất cả tính chân thật, khách quan  
của các sự kiện của nó, với sự phát triển của  
các ngành khoa học mà loài người đã đạt được,  
cùng với những khảo nghiệm nghiêm túc nhất  
của thực tiễn cuộc sống đã cho phép xác nhận  
thiên tài lý luận của V.I.Lê-nin và giá trị bền  
vững của nó sống mãi với thời gian.  
 PGS.TS.GVCC. Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học, [email protected], Mã số: TCKH21-21-2020  
 Biên Tập viên Tạp chí Khoa học. Trường Đại học Văn Lang, [email protected]  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 – 2020  
nghĩa cần phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu  
họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc  
sống” [4, tr.232], V.I.Lê-nin đã bổ sung và phát  
triển học thuyết Mác trên nền móng mà C.Mác  
và Ph.Ăng-ghen xây dựng nên.  
Tư tưởng cách mạng sáng tạo của V.I.Lê-  
nin đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy lý luận  
của Hồ Chí Minh. Người nhiều lần nhắc lại lời  
kêu gọi các nhà cách mạng phương Đông của  
V.I.Lê-nin: “Trước mắt các bạn đang có một  
nhiệm vụ mà trước kia những người cộng sản  
toàn thế giới đã không dựa vào lý luận và thực  
tiễn chung của chủ nghĩa cộng sản để áp dụng  
vào các điều kiện đặc biệt, và không có ở các  
nước châu Âu. Khi người nông dân là quần  
chúng cơ bản, khi cần phải giải quyết nhiệm vụ  
đấu tranh không phải là chống tư bản mà là  
chống những tàn dư của thời Trung cổ” [3, tr.19].  
2.2. Về Nhà nước  
Tư tưởng về Nhà nước có một vị trí đặc  
biệt quan trọng trong hệ thống lý luận của  
V.I.Lê-nin. Theo V.I.Lê-nin, cách mạng xã hội  
chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có  
thể thành công khi giai cấp vô sản giữ vai trò  
lãnh đạo, thu hút, động viên được đại đa số  
quần chúng lao động (chủ yếu là nông dân)  
tham gia vào công việc quản lý Nhà nước. Do  
đó phải tìm ra một hình thức Nhà nước thích  
hợp và tổ chức Nhà nước thật sự là bộ máy  
quản lý chung của toàn xã hội, dựa trên một  
thiết chế dân chủ thực sự.  
2. NỘI DUNG  
Những luận điểm chính của V.I.Lê-nin về  
tư tưởng chính trị, đó là:  
2.1. Về cách mạng xã hội chủ nghĩa  
Trong những luận điểm về cách mạng xã  
hội chủ nghĩa, V.I.Lê-nin đặc biệt phân tích nội  
dung và vai trò của phong trào dân tộc của các  
nước thuộc địa trong thời đại đế quốc chủ  
nghĩa. Phong trào giải phóng dân tộc là một bộ  
phận của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa  
trên toàn thế giới, trong đó vai trò quyết định  
thúc đẩy sự tiến triển của nó là giai cấp vô sản  
mà đội tiên phong của nó được vũ trang bằng  
học thuyết cách mạng và khoa học của C.Mác.  
Luận điểm này làm phong phú thêm lý luận chủ  
nghĩa xã hội khoa học; vạch rõ những động lực  
của quá trình cách mạng thế giới trong thời đại  
đế quốc chủ nghĩa. Nó cũng đã trở thành “cái  
cẩm nang thần kỳ”, thành “cái cần thiết” cho  
các dân tộc bị nô dịch và thuộc địa trên các  
châu lục biết tiến lên làm cuộc đấu tranh “đem  
sức ta mà giải phóng cho ta”. Tư tưởng này có  
tính chất khai sáng và định hướng cho các  
phong trào dân tộc.  
Chế độ dân chủ vô sản được thiết lập, theo  
V.I.Lê-nin, dân chủ hơn gấp triệu lần bất cứ  
chế độ dân chủ tư sản nào. Thực tiễn xây dựng  
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước xã  
hội chủ nghĩa trước đây, mặc dù đã từng đạt  
được những thành tựu rực rỡ nhưng đã không  
chứng minh trọn vẹn lời khẳng định đó; chẳng  
những thế, ở nơi này hay nơi khác, còn có  
những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng và  
kéo dài trong việc thực thi nền dân chủ ấy. Vịn  
vào cớ đó, những thế lực chống lại chủ nghĩa  
xã hội đã đưa ra những lời dè bỉu và xuyên tạc,  
họ nói làm gì có thứ “dân chủ gấp triệu lần”.  
Họ liệt kê ra quyền dân chủ này hay quyền dân  
chủ nọ để chứng minh rằng có những quyền  
dân chủ chỉ có trong chế độ tư bản chủ nghĩa  
mà không có trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Họ  
Về sức mạnh của luận điểm nói trên của  
V.I.Lê-nin, Hồ Chí Minh đã kể lại rằng: Khi đi  
tìm đường cứu nước, được đọc “Luận cương  
của V.I.Lê-nin về các vấn đề thuộc địa” đăng  
trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp  
“tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng  
biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi  
một mình trong buồng mà tôi nói to lên như  
đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi  
đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần  
thiết cho chúng ta, đây là con đường giải  
phóng chúng ta” [2, tr.145]. Hồ Chí Minh đặc  
biệt quan tâm đến những chỉ dẫn của V.I.Lê-  
nin đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa.  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
không hiểu nổi, hoặc không muốn hiểu vấn đề  
có ý nghĩa bản chất mà V.I.Lê-nin đã nêu lên.  
V.I.Lê-nin không làm cái việc cân, đo, đong,  
đếm để nói rằng dân chủ vô sản là gấp hai, gấp  
ba hay gấp ngàn lần dân chủ tư sản. Không,  
V.I.Lê-nin nói về bản chất của chế độ. Nền dân  
chủ vô sản là nền dân chủ của số đông, của  
tuyệt đại đa số nhân dân, nền dân chủ ấy,  
không gì khác, là quyền làm chủ của nhân dân  
được tổ chức và thực hiện thông qua Nhà nước  
của mình, thông qua các tổ chức chính trị xã  
hội do mình lập nên để bảo vệ quyền lợi của  
mình. Nền dân chủ ấy bao gồm không chỉ dân  
chủ về chính trị mà cả dân chủ về kinh tế, văn  
hóa, xã hội. Nói dân chủ gấp nhiều lần là như  
vậy. Đương nhiên hình thức tổ chức và cơ chế,  
cùng các thiết chế để thực hành nền dân chủ là  
vấn đề có ý nghĩa cực quan trọng, luôn luôn  
được đặt ra, đòi hỏi phải giải quyết đúng và  
không ngừng hoàn thiện. Cho nên những gì mà  
Nhà nước xã hội chủ nghĩa đạt được trong việc  
thực thi nền dân chủ của mình đều quý báu và  
đáng tôn trọng. Những sai lầm, vấp váp trong  
quá trình thực thi dân chủ cũng phải được hiểu  
đó không thuộc bản chất của chế độ. Những sai  
lầm ấy, không chứng tỏ V.I.Lê-nin đã nói  
không đúng về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,  
mà ngược lại là bằng chứng của việc không làm  
đúng điều V.I.Lê-nin đã nói.  
những trường hợp nhất định, chúng ta đã buộc  
phải thi hành một số biện pháp trấn áp kẻ thù  
của cách mạng, thật ra đó cũng chỉ là để bảo vệ  
bằng được những quyền dân chủ cao nhất,  
thiêng liêng nhất của nhân dân, của dân tộc:  
quyền được độc lập tự do và hạnh phúc. Chúng  
ta không phủ nhận những yếu kém, kể cả  
những sai lầm và khuyết điểm, cả trong nhận  
thức và hành động, trên lĩnh vực thực thi dân  
chủ. Trong thực tế, những hành vi mất dân chủ,  
độc đoán, chuyên quyền, quan liêu và tham  
nhũng là những tệ hại khá phổ biến hiện nay  
trong bộ máy lãnh đạo và quản lý, đã và đang  
gây ra sự bất bình chính đáng trong nhân dân.  
Chúng ta mạnh mẽ lên án những tệ nạn đó,  
chính chúng là sự vi phạm nghiêm trọng bản  
chất nền dân chủ và chế độ của chúng ta.  
Nhưng chúng ta không tự cho phép mình lầm  
lẫn đi đến chỗ hoài nghi và dao động về nền  
dân chủ mà mình đang xây dựng.  
Bằng mọi biện pháp cần thiết, chúng ta ra  
sức khắc phục những gì hạn chế và kìm hãm  
nền dân chủ của chúng ta. Phát huy quyền làm  
chủ của nhân dân là mục tiêu và động lực của  
cách mạng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ  
Tổ quốc.  
Đối với nước ta, vấn đề xây dựng Nhà  
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam  
hiện nay là một nhiệm vụ chính trị hết sức quan  
trọng. Để thành công, chúng ta vừa phải đứng  
vững trên lập trường lý luận Mác - Lê-nin, tư  
tưởng Hồ Chí Minh, vừa phải kế thừa được  
những thành quả xây dựng Nhà nước pháp  
quyền đã có trên thế giới, vừa phải xuất phát từ  
thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của  
V.I.Lê-nin về Nhà nước được hình thành trên  
cơ sở sự vận dụng và phát triển sáng tạo học  
thuyết Mác về Nhà nước vào điều kiện cụ thể  
của nước Nga và tình hình thế giới những năm  
đầu thế kỷ XX. Những tư tưởng ấy chứa đựng  
nhiều giá trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
quan trọng đối với công cuộc xây dựng Nhà  
Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lấy  
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí  
Minh làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam  
cho hành động cách mạng. Đảng xác định: Chế  
độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là  
chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Nhà  
nước của chúng ta là Nhà nước xã hội chủ  
nghĩa của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng của  
V.I.Lê-nin về một nền dân chủ mới, cao hơn  
gấp triệu lần nền dân chủ tư sản đang được vận  
dụng ở nước ta. Nhưng việc thực hiện nền dân  
chủ ấy và các hoạt động thực thi dân chủ không  
phải lúc nào cũng diễn ra theo một con đường  
bằng phẳng. Có những thời điểm nhất định, có  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 – 2020  
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
hiện nay.  
liệu có thể tổ chức được tầng lớp tiểu nông trên  
cơ sở phát triển lực lượng sản xuất tiểu nông  
hay không, hay là bọn tư sản sẽ chinh phục  
được tầng lớp tiểu nông? Mấy mươi cuộc cách  
mạng trước kia đều như thế nhưng một cuộc  
chiến tranh như hiện nay thì thế giới chưa từng  
thấy” [6, tr.205]. Điều đáng chú ý là V.I.Lê-nin  
đã khuyên “chớ trông mong chuyển ngay lên  
chủ nghĩa cộng sản” mà phải lấy sự quan tâm  
của người lao động làm cơ sở, phải thừa nhận  
quyền tự do sản xuất kinh doanh và quyền sở  
hữa tư nhân của người tiểu nông về công cụ sản  
xuất và vật phẩm tiêu dùng. Từ đó mà hướng  
họ vào các hình thức hợp tác tự nguyện, có lợi,  
trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất.  
2.3. Về nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ xây  
dựng chủ nghĩa xã hội  
Với tinh thần tự phê phán nghiêm khắc đối  
với bệnh giáo điều, theo những quan niệm  
chung của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, trước tình  
hình nước Nga đi quá sớm, quá xa trong các  
chủ trương kinh tế do xa rời tình hình thực tế,  
V.I.Lê-nin đã đề ra “Chính sách kinh tế mới”  
(N.E.P) nhằm đưa nước Nga quá độ lên chủ  
nghĩa xã hội một cách hợp quy luật. N.E.P thật  
là một sự chuyển hướng chiến lược: từ quá độ  
trực tiếp sang quá độ gián tiếp, từ đường thẳng  
chuyển đi đường vòng, phải chia thời kỳ quá độ  
ra thành nhiều bước quá độ, trung gian, từ từ.  
Phải kiên trì, không được nôn nóng trước cuộc  
đấu tranh lâu dài và gian khổ cho sự toàn thắng  
của chủ nghĩa xã hội.  
Thứ ba, cần phải sử dụng “chủ nghĩa tư  
bản Nhà nước”, phải lợi dụng nó để xây dựng  
cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.  
V.I.Lê-nin đặt vấn đề sử dụng chủ nghĩa tư bản  
Nhà nước mà nhiều người cộng sản đương thời  
coi là “điều kỳ lạ”, là “phi lý”, nhưng xét trên  
bình diện lý luận chính trị và các quy luật vận  
động của lịch sử thì chính nó lại là “chiếc cầu  
nối” để đi lên chủ nghĩa xã hội. Đấy là vấn đề  
mà C.Mác và Ph.Ăng-ghen trước đây chưa hề  
đặt ra. V.I.Lê-nin nói: “… không có lấy một  
quyển sách nào nói đến chủ nghĩa tư bản Nhà  
nước dưới chế độ cộng sản cả. Ngay đối với  
Mác cũng không viết một lời nào về vấn đề đó  
và Người đã mất đi mà không để lại một lời  
nào rõ rệt, một chỉ dẫn nào chắc chắn về vấn  
đề ấy cả. Vì thế ngày nay chúng ta phải tự tìm  
lối thoát”. Tư duy chính trị sáng suốt đã dẫn  
V.I.Lê-nin đi đến những quyết định táo bạo -  
một sự táo bạo vượt cao hơn những suy nghĩ  
bảo thủ trì trệ - dựa trên nguyên tắc: tôn trọng  
các quy luật khách quan, đặc biệt là các nguyên  
tắc kinh tế, thậm chí coi là “một bước lùi”, tới  
chỗ khẳng định như một đường lối chính trị,  
một phương hướng phát triển “nghiên túc và  
lâu dài”, hơn thế nữa đó còn là thiết kế lý luận  
về mô hình của chủ nghĩa xã hội.  
Chính sách kinh tế mới là trận chiến đấu  
mới bằng một đường lối chiến lược mới giữa  
giai cấp vô sản và giai cấp tư sản để giành  
thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội. N.E.P là một  
cống hiến xuất sắc của V.I.Lê-nin vào lý luận  
của chủ nghĩa xã hội khoa học.  
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một  
nước không phải là một nước tư bản phát triển  
cao đã đặt ta những vấn đề mới mà C.Mác và  
Ph.Ăng-ghen chưa đặt ra.  
Trước hết, phải thừa nhận nền kinh tế hàng  
hóa còn lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ và  
trong chủ nghĩa xã hội. Do đó phải thừa nhận  
quy luật giá trị, thừa nhận về mặt pháp lý các  
hình thức sở hữu, phân phối áp dụng cơ chế  
hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh, sử  
dụng các đòn bẩy kinh tế (kích thích sản xuất,  
thưởng, phạt, thuế, lương…); giải quyết đúng  
đắn các quan hệ hàng - tiền, cung - cầu, kế  
hoạch - thị trường.  
Thứ hai, phải thỏa hiệp với tiểu nông. Nhà  
nước chuyên chính vô sản không được tính  
toán hơn thiệt với họ mà phải giúp đỡ, tạo điều  
kiện cho họ tiến lên. V.I.Lê-nin viết: “Chúng ta  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
Thứ tư, N.E.P là sự thể hiện bản lĩnh chính  
trị của đảng cộng sản và của chính quyền Xô-  
viết. Đây thật sự là một cuộc đấu tranh giai cấp  
giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản quốc tế,  
bởi vì vấn đề cuối cùng là những người cộng  
sản sẽ thành công hay thất bại trong công cuộc  
xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Hãy nhớ rằng câu  
hỏi mà hiện nay cần phải giải đáp dứt khoát là:  
chúng ta có biết cách làm việc cho chính chúng  
ta không? Nếu không - tôi xin nhắc lại - nước  
cộng hòa của ta sẽ bị diệt vong”. V.I.Lê-nin đòi  
hỏi tất cả mọi người - cán bộ, đảng viên, viên  
chức Nhà nước - đều phải học hỏi để biết làm  
kinh tế, bởi vì “bên cạnh các đồng chí sẽ có các  
nhà tư bản, cũng sẽ có các nhà tư bản nước  
ngoài, những người được tô nhượng và những  
nhà trưng thầu; họ sẽ quơ của các đồng chí  
những món lợi nhuận lên tới hàng trăm phần  
trăm, họ sẽ làm giàu bên cạnh các đồng chí.  
Cứ để yên cho họ làm giàu; còn các đồng chí  
thì sẽ học được ở bọn họ cách quản lý, chỉ có  
như thế các đồng chí mới có xây dựng được  
nước cộng hòa cộng sản chủ nghĩa”. Việc học  
hỏi là một trọng trách nó liên quan đến vấn đề  
sống còn của chế độ. Vì vậy, V.I.Lê-nin coi sự  
lười biếng học tập là tội lỗi. Học do đó trở  
thành ý chí và bản lĩnh chính trị và việc thử  
thách ngặt nghèo đối với Nhà nước. V.I.Lê-nin  
coi đó là biện pháp duy nhất để tồn tại bởi vì  
nếu không biết quản lý chúng ta sẽ bị “uy hiếp  
của nạn diệt vong”. Ông đã chỉ rõ: “Nhà nước  
phải học cách buôn bán để sao cho công  
nghiệp thỏa mãn được nông dân, còn nông dân  
thì nhờ có thương nghiệp mà thỏa mãn được  
nhu cầu của mình. Phải tổ chức như thế nào để  
mọi người lao động đem được hết sức mình ra  
củng cố Nhà nước công nông. Chỉ có như thế  
mới có thể xây dựng được nền đại công  
nghiệp” [6, tr.209-210]. Như trên đã nói, chủ  
nghĩa Mác - Lê-nin đều khẳng định cái quyết  
định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đối với chủ  
nghĩa tư bản, suy cho cùng là ở chỗ chủ nghĩa  
xã hội có tạo ra được một năng suất lao động  
cao hơn chủ nghĩa tư bản hay không? Mà muốn  
có năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản  
thì chỉ có một con đường duy nhất là công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
2.4. Về xây dựng Đảng và sự lãnh đạo của  
Đảng cộng sản trong cách mạng xã hội chủ  
nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội  
Về nguyên lý xây dựng đảng chính trị, V.I.Lê-  
nin đã chỉ rõ những nội dung cơ bản sau đây:  
Một là vấn đề tư tưởng, V.I.Lê-nin đã viết:  
“…vấn đề đặt ra chỉ là như thế này, hệ tư  
tưởng xã hội chủ nghĩa. Mọi sự xa rời hệ tư  
tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng  
cường hệ tư tưởng tư sản” [5, tr.49-50]. Ông  
giải thích rằng ý thức xã hội chủ nghĩa không  
phải phát sinh từ phong trào tự phát của công  
nhân mà là do Đảng mác-xít cách mạng đưa  
vào phong trào công nhân. Đảng ấy phải được  
vũ trang bằng lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa  
học, phải nâng mình lên tầm vóc lý luận tiên  
tiến của thời đại “chỉ đảng nào được một lý  
luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng  
làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [5, tr.32].  
Hai là về chính trị, Đảng phải tố cáo và  
vạch trần áp bức, bóc lột của chế độ chuyên  
chế, chế độ tư sản. Phải nắm vững quan điểm  
giai cấp, không thể chỉ hạn chế ở đấu tranh kinh  
tế, nghề nghiệp, V.I.Lê-nin đã nêu lên những  
luận điểm quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác -  
Lê-nin về ý nghĩa hàng đầu của cuộc đấu tranh  
chính trị trong sự nghiệp phát triển xã hội và  
trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản cho sự  
thắng lợi của chủ nghĩa xã hội…”. Những quyền  
lợi chủ yếu, “quyết định” của giai cấp nói chung,  
chỉ có thể thỏa mãn được bằng những cuộc cải  
biến chính trị căn bản; còn quyền lợi kinh tế  
trọng yếu của giai cấp vô sản, nói riêng, chỉ có  
thể thỏa mãn được bằng một cuộc cách mạng  
chính trị thay thế chuyên chính của giai cấp tư  
sản bằng chuyên chính vô sản” [5, tr.59].  
Ba là về tổ chức, V.I.Lê-nin coi nhiệm vụ  
đầu tiên và quan trọng nhất của những người xã  
hội dân chủ Nga là một tổ chức tập trung toàn  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 – 2020  
Nga của người cách mạng, tức là một chính  
đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, có khả  
năng lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của  
giai cấp công nhân.  
vì nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.  
Nhà nước đó phải đủ mạnh để quản lý toàn bộ  
đất nước, mà muốn quản lý tốt, theo V.I.Lê-  
nin, thì ngoài cái tài biết thuyết phục, biết chiến  
thắng trong cuộc nội chiến còn cần biết tổ chức  
trong lĩnh vực thực tiễn. Đó là nhiệm vụ khó  
khăn nhất, vì vấn đề là phải tổ chức theo  
phương thức mới, những cơ sở kinh tế, văn  
hóa… trong đời sống của hàng mấy chục triệu  
con người. Đảng lãnh đạo chính trị trong thời  
kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải khắc  
phục bệnh “ấu trĩ”, “tả khuynh”, chủ quan duy  
ý chí; phải nắm vững quy luật, phải tìm tòi  
nghiên cứu, phải đối xử với những vấn đề:  
đường lối, chính sách, tư tưởng, văn hóa, con  
người… với thái độ khoa học. V.I.Lê-nin đã chỉ  
ra rất sớm rằng: “Riêng đối với người lãnh đạo,  
nhiệm vụ của họ là phải học tập, ngày càng  
nhiều hơn, tất cả các vấn đề lý luận, phải tự giải  
thoát, ngày càng nhiều hơn, khỏi ảnh hưởng của  
thế giới quan cũ, và không bao giờ được quên  
rằng chủ nghĩa xã hội, từ khi trở thành một khoa  
học, đòi hỏi phải được coi là một khoa học,  
nghĩa là phải được nghiên cứu” [5, tr.34].  
Đảng là của giai cấp, Đảng gắn liền,  
không tách rời giai cấp, nhưng Đảng không  
phải là toàn bộ giai cấp. Không được lẫn lộn  
giữa Đảng với giai cấp. Nếu lẫn lộn Đảng với  
giai cấp có nghĩa là phủ nhận vai trò của Đảng  
là đội tiên phong của giai cấp và trên thực tế là  
thủ tiêu Đảng, V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Không  
được lẫn lộn Đảng, tức là đội tiên phong của giai  
cấp công nhân với toàn bộ giai cấp” [7, tr.289].  
Để có một Đảng chính trị như vậy, V.I.Lê-  
nin đã chỉ ra từ trong tác phẩm “Bắt đầu từ  
đâu” (Báo “Tia lửa” số 4 năm 1901) và luận  
chứng chi tiết trong cuốn “Làm gì?”. Theo  
V.I.Lê-nin, đảng chính trị cách mạng của giai  
cấp vô sản phải là một đảng chiến đấu không  
khoan nhượng với kẻ thù, có cương lĩnh đấu  
tranh cho việc thiết lập chuyên chính vô sản  
nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.  
Đảng đó bao gồm bộ phận tiên tiến nhất trong  
phong trào công nhân và được trang bị bằng  
học thuyết cách mạng và khoa học của chủ  
nghĩa Mác. Đảng đó cần tổ chức tập trung  
thống nhất, theo nguyên tắc tự giác và dân chủ,  
có kỷ luật sắt, tức là kỷ luật nhờ tinh thần tự  
giác, liên kết với nhau, tự nguyện đấu tranh vì  
sự nghiệp chung của giai cấp vô sản và có liên  
hệ chặt chẽ với đông đảo quần chúng nhân dân  
lao động, đủ khả năng tổ chức, lãnh đạo, dẫn  
dắt giai cấp và dân tộc đấu tranh cho sự toàn  
thắng của chủ nghĩa xã hội. Sau này nhiều  
Đảng cộng sản và công nhân trên toàn thế giới  
đã coi đó là những nguyên lý xây dựng Đảng  
kiểu mới (để phân biệt với Đảng kiểu cũ theo  
khuynh hướng “kinh tế chủ nghĩa”, cơ hội hữu  
huynh, cải lương thỏa hiệp với giai cấp tư sản).  
Trong thời kỳ Đảng cầm quyền, việc xây  
dựng Nhà nước trở thành nhiệm vụ trọng tâm  
công tác lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị.  
Nhà nước đó là của nhân dân, do nhân dân và  
Vai trò của các tổ chức quần chúng, đặc  
biệt là Công đoàn và Đoàn thanh niên, đã được  
V.I.Lê-nin coi là lực lượng nòng cốt, “là trường  
học của chủ nghĩa cộng sản”, là “bể chứa của  
chính quyền Xô-viết”, là sức mạnh mà trên  
mảnh đất mới được giải phóng, họ là lực lượng  
quyết định xây dựng thành công xã hội cộng  
sản. Đảng phải lãnh đạo quần chúng một cách  
tỉ mỉ, chu đáo và công phu, hướng họ vào việc  
học tập, rèn luyện, đáp ứng những nhiệm vụ  
chính trị: xây dựng và quản lý đất nước làm  
cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi hoàn toàn và  
triệt để trên đất nước Nga và góp phần vào sự  
thắng lợi của cách mạng thế giới.  
Làm trong sạch đảng, củng cố đảng vững  
mạnh là công việc thường xuyên của đảng, nó  
càng trở nên cấp thiết trong thời kỳ đảng trở  
thành đảng cầm quyền. Ngay từ những năm  
đầu cách mạng xã hội chủ nghĩa, V.I.Lê-nin đã  
11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
tiên lượng rằng đảng còn phải đấu tranh lâu dài  
Đồng thời với việc thanh đảng là giáo dục,  
với “những xu hướng khác của tư tưởng cách mạng, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa,  
những xu hướng đang có nguy cơ làm cho phong  
trào đi chệch con đường đúng đắn” [5, tr.31].  
năng lực làm việc, phẩm chất đạo đức cộng sản  
chủ nghĩa và tăng cường mối quan hệ máu thịt  
với quần chúng làm cho Đảng tiếp tục là một  
đảng chiến đấu, một đảng cách mạng, một đảng  
trí tuệ đủ sức lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng  
lợi chính sách kinh tế mới, xây dựng thành công  
chủ nghĩa xã hội và chuyên chính vô sản.  
Chất lượng đảng viên và của các tổ chức  
cơ sở đảng là vấn đề có tầm quan trọng hàng  
đầu, có vị trí quyết định đối với uy tín chính trị,  
bản chất cách mạng và khoa học của đảng tiên  
phong, đối với sự thành bại của sự nghiệp bảo  
vệ chủ quyền thống nhất quốc gia và xây dựng  
thành công chủ nghĩa xã hội.  
Tóm lại, những tư tưởng của V.I.Lê-nin là  
cơ sở lý luận và sách lược của phong trào cách  
mạng thế giới, của công cuộc xây dựng chủ  
nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản. Tính chất  
sáng tạo và ý nghĩa quốc tế của chủ nghĩa Mác  
- Lê-nin ngày càng được xác nhận trong thực  
tiễn đấu tranh cách mạng trên toàn thế giới.  
C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã có công lao làm cho  
chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa  
học. Đến lượt mình V.I.Lê-nin đã làm cho chủ  
nghĩa cộng sản khoa học từ lý luận trở thành  
hiện thực đầu tiên ở một nước Châu Âu. Đó là  
những cống hiến vĩ đại cả lý luận cách mạng,  
cả về thực tiễn đấu tranh của C.Mác, Ph.Ăng-  
ghen và V.I.Lê-nin trong lĩnh vực chính trị.  
Từ ngày thành lập Đảng đến nay, cách  
mạng Việt Nam luôn trung thành với những tư  
tưởng vĩ đại trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng  
sản”, vận dụng những tư tưởng ấy một cách  
sáng tạo. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng  
Hồ Chí Minh càng ngời sáng, càng tỏ rõ sức  
sống trong quá trình phát triển của cách mạng  
Việt Nam.  
Việc củng cố đảng phải xuất phát từ yêu  
cầu của nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới và  
từ sự đánh giá đúng đắn thực trạng đảng. Đồng  
thời với việc đề ra chính sách kinh tế mới,  
V.I.Lê-nin đã nêu ra vấn đề thanh đảng và ông  
đã coi việc dựa vào nhiệm vụ mới và sự phê  
bình của quần chúng để củng cố nội bộ đảng từ  
cấp lãnh đạo tối cao đến tận cơ sở mà “không  
vị nể cá nhân” là một thành quả thật sự to lớn  
của cách mạng. Ông đã chỉ ra rằng: “… vì  
chúng ta đang chuyển sang chính sách kinh tế  
mới, vì những điều kiện đòi hỏi kỷ luật lao  
động… Để thực hiện việc cải thiện đó phải gạt  
bỏ ra khỏi đảng những phần tử xa rời quần  
chúng (cố nhiên không cần nói đến những phần  
tử làm ô danh đảng trước quần chúng)… gạt bỏ  
những kẻ “chui vào đảng”, bọn “làm quan”,  
bọn đã bị “quan liêu hóa”. Ông còn nhấn mạnh  
cần phải chống bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn  
người “thích ứng” với trào lưu thịnh hành trong  
công nhân, họ thay màu đổi sắc để ẩn nấp được  
dễ dàng hơn, như con thỏ rừng về mùa đông  
thay lông thành màu trắng” [6, tr.151-154].  
Thời kỳ mới đòi hỏi phải nâng cao chất  
lượng lãnh đạo của Đảng lên một trình độ mới  
cao hơn. Để làm được điều đó, trước hết “cần  
phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo,  
những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa,  
không trung trực, nhu nhược, và những người  
Men-sê-vích, tuy “bề ngoài” đã được phủ một  
lớp sơn mới, nhưng trong tâm hồn thì vẫn là  
Men-sê-vích” [6, tr.151-154].  
3. THAY LỜI KẾT  
Sự nghiệp đổi mới của nhân dân Việt Nam  
do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và  
lãnh đạo, tiếp tục con đường của chủ nghĩa  
Mác - Lê-nin, con đường của tư tưởng Hồ Chí  
Minh - con đường độc lập dân chủ gắn liền chủ  
nghĩa xã hội. Hiện nay, đất nước ta đang bước  
vào thời kỳ đẩy mạnh thời kỳ công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa, tích cực và chủ động hội nhập  
quốc tế. Hàng loạt vấn đề mới mẻ và phức tạp  
đang đặt ra. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác  
12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 – 2020  
- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, qua tổng kết  
thực tiễn, không ngừng tìm tòi sáng tạo, chúng  
ta sẽ có được những lời giải chính xác khoa  
học, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng  
và nhất định chúng ta sẽ thành công trong sự  
nghiệp cách mạng vĩ đại này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] C.Mác - Ph.Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Hồ Chí Minh (1980), Về xây dựng Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội.  
[3] Hồ Chí Minh (1980), Toàn tập, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội.  
[4] V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.  
[5] V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.  
[6] V.I.Lê-nin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.  
[7] V.I.Lê-nin (1979), Toàn tập, tập 28, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.  
Ngày nhận bài: 22-4-2020. Ngày biên tập xong: 07-5-2020. Duyệt đăng: 26-5-2020  
13  
pdf 8 trang Thùy Anh 16940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của V.I.Lê-nin (22-4-1870 – 22-4-2020) tư tưởng chính trị của V.I.Lê-nin - Những giá trị bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfky_niem_150_nam_ngay_sinh_cua_v_i_le_nin_22_4_1870_22_4_2020.pdf