Đặc điểm tâm lý và những vấn đề cần lưu ý trong quá trình làm việc với nạn nhân của tội phạm mua bán người
ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
CẦN LƯU Ý TRONG QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC VỚI NẠN NHÂN
CỦA TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI
HOÀNG VĂN HÀ*
Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, việc nghiên cứu, nắm vững
đặc điểm tâm lý của nạn nhân bị mua bán có ý nghĩa rất quan trọng. Hoạt động này là cơ sở để
các lực lượng chức năng nâng cao hiệu quả công tác trong quá trình làm việc, tiếp xúc với nạn
nhân của tội phạm mua bán người.
Từ khóa: Đặc điểm tâm lý, tội phạm mua bán người, nạn nhân.
Ngày nhận bài: 20/4/2021; Biên tập xong: 27/4/2021; Duyệt đăng: 27/4/2021.
It has been a significant maꢀer to study the psychological characteristics of trafficking
victims in the fight against human trafficking crimes. That will be the ground for functional
forces to improve the working efficiency with trafficking victims.
Keywords: Psychological characteristics; human trafficking crimes, victims.
heo Điều 3 của Nghị định thư về phòng
ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn
bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (bổ
3. Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để
bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ
phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác
hoặc để thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 và
2 Điều 3 Luật phòng chống mua bán người.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, có
thể hiểu nạn nhân của tội phạm mua bán người
là người bị người phạm tội xâm phạm, gây thiệt
hại về thể chất, tinh thần, tài sản. Trong đó, thiệt
hại về thể chất là những thiệt hại về sức khỏe, tính
mạng; thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại về
danh dự, nhân phẩm; thiệt hại về tài sản là những
thiệt hại về vật chất có thể xác định được, như mất
thu nhập, tiền chữa trị thương tích khi phải điều
trị bệnh tật, thương tích do hành vi phạm tội gây
ra, tiền lo mai táng khi nạn nhân bị chết…
T
sung cho Công ước về chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia của Liên hợp quốc năm 2000), nạn
nhân của tội phạm mua bán người “là người bị
người phạm tội tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao,
chứa chấp, tiếp nhận vì mục đích bóc lột tình dục,
cưỡng bức lao động, nô lệ hoặc các hình thức tương tự
như nô lệ, khổ sai hay lấy bộ phận cơ thể”. Nói cách
khác, nạn nhân chính là các đối tượng mà người
phạm tội hướng đến để thực hiện mục đích bóc
lột, tìm kiếm lợi nhuận bằng các phương thức, thủ
đoạn phạm tội khác nhau nhằm biến con người
thành hàng hóa, thành công cụ biết nói để đem về
lợi nhuận cho người phạm tội.
Pháp luật hình sự Việt Nam mặc dù có sử
dụng thuật ngữ “nạn nhân” trong quy định tại
Điều 119, Điều 120 của Bộ luật hình sự (BLHS)
năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 150,
Điều 151 BLHS năm 2015 nhưng các điều luật đều
không đưa ra khái niệm nạn nhân.
Khoản 4 Điều 2 Luật phòng chống mua bán
người năm 2011 đưa ra khái niệm nạn nhân: “Nạn
nhân là người bị xâm hại bởi hành vi quy định tại các
khoản 1, 2 và 3 Điều 3 của Luật này”. Theo đó, Điều
3 Luật này quy định nạn nhân là những người bị
xâm hại bởi các hành vi sau đây:
1. Mua bán theo quy định tại Điều 119 và 120
của Bộ luật hình sự.
2. Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc
lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận
cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
Qua đó có thể thấy rằng, mặc dù BLHS và Bộ
luật tố tụng hình sự nước ta không có quy định về
khái niệm nạn nhân nhưng có thể hiểu nạn nhân
chính là người bị hại trong vụ án mua bán người.
Việc nghiên cứu và hiểu biết sâu sắc về nạn nhân,
đặc biệt là những đặc điểm về nạn nhân có ý
nghĩa rất quan trọng trong công tác phòng chống
tội phạm mua bán người.
1. Một số đặc điểm về tâm lý nạn nhân của tội
phạm mua bán người
Thực tiễn cho thấy đặc điểm tâm lý phổ biến
nhất của nạn nhân tội phạm mua bán người là ít
khi tự nhận mình là nạn nhân bị mua bán. Đặc
biệt, trong những trường hợp nạn nhân bị mua
* Đại úy, Thạc sĩ, Giảng viên chính Khoa Cảnh sát
hình sự, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I
50 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
HOÀNG VĂN HÀ
bán phụ thuộc vào các đối tượng phạm tội mua trong việc ngăn không cho nạn nhân trốn thoát
bán người, họ có thể không nhận ra hoặc không hoặc cầu cứu cơ quan chức năng. Đối với hầu hết
thừa nhận rằng họ là nạn nhân. Nhiều nạn nhân nạn nhân, việc bị trục xuất sẽ khiến cho gia đình
xem đối tượng mua bán người như ân nhân vì đã họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn. Khi đó, họ
giúp họ thoát khỏi tình cảnh nghèo khổ ở quê nhà. có thể có nguy cơ rơi vào tình trạng bị thất nghiệp,
Họ thậm chí có thể có quan hệ họ hàng với đối kết hợp với nỗi lo sợ bị trục xuất hoặc bắt giam
vì hành vi của mình, nạn nhân sẽ không dám bỏ
trốn, từ đó nảy sinh tâm lý sợ hãi và bất hợp tác
với cơ quan thực thi pháp luật.
tượng phạm tội.
Trong các vụ án mua bán người vì mục đích
cưỡng ép kết hôn hay mua bán trẻ em nhằm mục
đích bóc lột, đối tượng phạm tội có thể là cha mẹ
của nạn nhân hoặc các thành viên khác trong gia
đình dẫn đến việc nạn nhân không muốn hoặc
không dám đi trình báo cơ quan chức năng. Điều
này cũng có thể đúng với các hình thức mua bán
người và bóc lột khác khi có những mối quan hệ
cá nhân đặc biệt giữa nạn nhân và đối tượng buôn
người. Ngaycảkhikhôngcómốiquanhệtrướcđó,
nạn nhân có thể dính líu vào mối quan hệ cá nhân
với đối tượng buôn người mà không biết rằng mối
quan hệ đó là một phương tiện để điều khiển họ.
Trong một số vụ án mua bán người, sau một thời
gian sống cùng đối tượng buôn người, nạn nhân
có thể nảy sinh tình cảm quý mến, đồng cảm với
đối tượng (hiện tượng này trên thế giới còn được
biết đến với tên gọi “hội chứng Stockholm”)1.
Các đặc điểm tâm lý khác của nạn nhân khiến
cho họ không muốn hợp tác, không muốn kể
lại câu chuyện với người khác xuất phát từ việc
không hiểu rõ mục đích của việc hợp tác hoặc trải
nghiệm trước đó khi phải tự trình báo cho cơ quan
chức năng mà không đạt được kết quả gì. Đặc biệt
là trong trường hợp nạn nhân đã bị đưa ra nước
ngoài trái phép, họ thường có tâm lý lo sợ bị trục
xuất do sinh sống, làm việc trái phép ở quốc gia
bị đưa đến. Các nạn nhân bị mua bán khác mặc
dù chịu đau khổ nặng nề dưới sự điều khiển của
đối tượng buôn người nhưng vẫn có thể vẫn chịu
đựng tình trạng bóc lột và lạm dụng bởi nhiều lý
do khác nhau. Vì vậy, nạn nhân bị mua bán không
thể thoát khỏi tình cảnh bị bóc lột cũng như không
muốn hợp tác với cơ quan thực thi pháp luật. Điều
này xuất phát từ các yếu tố sau:
Dođó,cáccơquanbảovệphápluậtcầnkhuyến
khích nạn nhân hợp tác bằng cách tạo niềm tin cho
họ vào chính quyền. Nạn nhân cần biết rằng họ sẽ
không bị xử lý hình sự đối với hành vi phạm tội
của họ do hệ quả của việc bị mua bán, bao gồm cả
hành vi xuất, nhập cảnh trái phép. Ngoài ra, một
biện pháp hữu ích khác để giảm thiểu nỗi sợ đối
với chính quyền cho nạn nhân là giải thích cho họ
biết vai trò của các cơ quan tố tụng và mục đích
của các hoạt động tố tụng, ví dụ như khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử... nhằm giúp xử lý đối tượng
phạm tội và bảo vệ quyền lợi của nạn nhân.
Nỗi sợ hãi về các mối đe dọa và trả thù từ
những đối tượng phạm tội mua bán người
Một số nạn nhân lo sợ các mối đe dọa và trả
thù từ những kẻ phạm tội mua bán người khi họ
tới gặp cơ quan có thẩm quyền để tố giác hành
vi mua bán người. Những kẻ phạm tội thường
xuyên đe dọa gây tổn hại cho các nạn nhân hoặc
các thành viên trong gia đình của họ. Nỗi lo sợ
này có thể trở nên nghiêm trọng hơn khi nạn nhân
không biết rằng mình có thể được bảo vệ hoặc
thiếu niềm tin vào các biện pháp bảo vệ.
Trong trường hợp này, cần thiết phải giải
thích cho nạn nhân biết về các biện pháp bảo vệ
có thể được áp dụng nếu có sự đe doạ hoặc xâm
hại về sức khoẻ, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân
phẩm của nạn nhân và gia đình họ. Có thể hướng
dẫn nạn nhân viết đơn yêu cầu áp dụng các biện
pháp bảo vệ nếu thấy cần thiết.
Cảm giác xấu hổ và sợ bị kỳ thị hoặc bị cộng
đồng xa lánh
Khi danh tính và quyền riêng tư của nạn nhân
và gia đình họ không được bảo vệ bởi các chương
trình hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân, nạn nhân có thể
lo sợ rằng việc nhận diện có thể dẫn đến sự kỳ thị
và bị cộng đồng xa lánh. Điều này đặc biệt đúng
đối với nạn nhân của mua bán người vì mục đích
bóc lột tình dục hay cưỡng ép kết hôn. Nạn nhân
có thể lo sợ rằng nếu họ thừa nhận họ là nạn nhân,
gia đình sẽ bị hổ thẹn, xa lánh, bị kỳ thị... và khiến
cho họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm
công việc phù hợp để nuôi sống bản thân và gia
đình cũng như tái hoà nhập cộng đồng và xã hội.
Ngoài ra, rất nhiều gia đình đã phải vay nợ để có
tiền giải cứu con em họ thoát khỏi những kẻ phạm
tội đang giam giữ họ khiến cho nạn nhân khi trở
về thường có suy nghĩ mình là gánh nặng cho gia
Nỗi sợ hãi hoặc thiếu niềm tin vào cơ quan
bảo vệ pháp luật
Trường hợp nạn nhân bị đưa ra nước ngoài,
đối tượng buôn người thường thuyết phục họ
không nên tìm sự hỗ trợ từ cơ quan chức năng vì
họ sẽ bị bắt giữ, trục xuất hoặc bị giam giữ do tình
trạng nhập cư hoặc các hoạt động bất hợp pháp
phát sinh từ tình trạng của mình (ví dụ như cư
trú trái phép, hành nghề mại dâm...). Bên cạnh đó,
nạn nhân có thể bị giữ giấy tờ tuỳ thân. Đây là
thủ đoạn rất hiệu quả của đối tượng buôn người
1ꢀ Bộ tài liệu tập huấn liên ngành về phòng, chống
mua bán người, Ban Chỉ đạo Chương trình 130/CP
năm 2016, Bộ Công an.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 51
ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ...
đình. khoẻ dẫn đến mất trí nhớ, người tiến hành tố tụng
cần ưu tiên giúp nạn nhân phục hồi sức khoẻ và
tâm lý trước, sau khi sức khoẻ của họ ổn định thì
tiến hành các thủ tục tố tụng sau. Đối với trường
hợp nạn nhân bao che cho tội phạm, lực lượng
thực thi pháp luật không nên doạ dẫm việc nạn
nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
hành vi này. Thay vì đó, nạn nhân nên được giải
thích về nghĩa vụ hợp tác và vai trò đặc biệt quan
trọng của mình để giúp đưa đối tượng phạm tội
ra trước pháp luật, từ đó cứu được những người
vô tội khác. Đối với trường hợp nạn nhân tự nhận
mình là nạn nhân bị mua bán để được nhận hỗ
trợ, cần lưu ý rằng trường hợp này có xảy ra trong
thực tế, tuy nhiên không phổ biến. Bởi lẽ, một khi
được coi là nạn nhân bị mua bán, người đó sẽ phải
hợp tác với cơ quan điều tra, bị lấy lời khai và phải
có nghĩa vụ liên quan trong tố tụng hình sự với tư
cách bị hại.
Trong trường hợp này, cơ quan chức năng cần
cho nạn nhân biết rằng họ có thể nhận được rất
nhiều hỗ trợ từ vật chất, tinh thần, đến chăm sóc
y tế, sức khoẻ, bao gồm cả học nghề, vay vốn xoá
đói giảm nghèo... để giảm bớt gánh nặng đối với
gia đình. Ngoài ra, cơ quan thực thi pháp luật còn
có thể động viên nạn nhân tìm kiếm sự giúp đỡ về
tinh thần của các tổ chức đoàn thể tại địa phương
như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên...
Sang chấn tâm lý và những vấn đề về sức khỏe
Khi bị mua bán, nạn nhân phải trải qua những
trải nghiệm hãi hùng. Họ có thể bị lạm dụng tình
dục, bị tra tấn bằng bạo lực, phải chứng kiến người
khác bị bạo lực, chịu điều kiện sống và làm việc
tồi tệ, không có tự do hoặc lựa chọn nào khác...
Chính những trải nghiệm bị buôn bán đã khiến
nhiều nạn nhân bị căng thẳng và trầm cảm trầm
trọng. Họ có thể bị ám ảnh bởi những hình ảnh,
âm thanh gợi nhớ lại quãng thời gian khủng khiếp
mà mình đã trải qua khi bị mua bán. Những ám
ảnh tâm lý còn lớn hơn nhiều đối với những nạn
nhân bị mua bán khi là trẻ em. Từ đó, nạn nhân
nảy sinh tâm lý không ổn định và bất hợp tác ngay
cả khi làm việc với lực lượng thực thi pháp luật.
Do vậy, việc trấn an tâm lý là một điều vô cùng
quan trọng đối với bất cứ ai khi làm việc hoặc hỗ
trợ nạn nhân. Ngoài ra, cán bộ thực thi pháp luật
cũng cần phải tránh việc sử dụng những từ ngữ có
thể gây tổn thương hoặc mang tính miệt thị, kì thị
đối với nạn nhân. Thực tế cho thấy, việc có thêm
người thân bên cạnh hoặc có người hỗ trợ cùng
giới tính, đồng cảm và thấu hiểu với hoàn cảnh và
tình trạng của nạn nhân có thể giúp cho tâm lý của
nạn nhân ổn định và tự tin hơn.
2. Một số khuyến nghị khi làm việc với nạn
nhân bị mua bán
Để đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của nạn
nhân và nhận được sự hợp tác của nạn nhân của
tội phạm mua bán người, trong quá trình làm việc
với nạn nhân bị mua bán, các lực lượng chức năng
thực thi pháp luật cần chú ý những vấn đề sau
đây:
Thứ nhất, luôn tôn trọng các quyền con người
của nạn nhân
Tôn trọng nạn nhân được thực hiện thông qua
việc đối xử công bằng với nạn nhân, tôn trọng các
lo lắng, các nhu cầu của mỗi cá nhân nạn nhân;
không phán xét, quan tâm tới khác biệt về văn
hóa, dân tộc; tôn trọng tinh thần và thể chất của
họ. Việc thực hiện nguyên tắc về tôn trọng và bảo
vệ quyền con người đòi hỏi xuyên suốt trong quá
trình làm việc với nạn nhân nhằm đảm bảo thực
hiện các quyền của nạn nhân.
Hợp tác nhưng cung cấp thông tin không chính
xác
Ngay cả khi nạn nhân hợp tác với cán bộ thực
thi pháp luật, lời khai của họ có thể không hoàn
toàn đáng tin cậy. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
việc lời khai của nạn nhân bị mua bán không phù
hợp với chứng cứ hoặc các tình tiết đưa ra không
logic, không đầy đủ. Thứ nhất, nạn nhân có thể
bị mất trí nhớ do các sang chấn tâm lý hoặc các
nguyên nhân khác (sử dụng chất kích thích như
rượu bia, ma tuý, tổn thương não bộ…). Thứ hai,
có khả năng nạn nhân đang cố gắng bao che cho
tội phạm mua bán người vì những lý do đã nêu ở
trên. Thứ ba, không loại trừ trường hợp nạn nhân
ban đầu đồng thuận với đối tượng phạm tội, trốn
ra nước ngoài lao động hoặc hành nghề mại dâm
bất hợp pháp, tuy nhiên khi bị bắt hoặc được giải
cứu thì họ tự nhận mình là nạn nhân bị mua bán
để nhận hỗ trợ và không phải chịu trách nhiệm
hình sự về hành vi phạm pháp của mình.
Thứ hai, cần có sự đồng thuận của nạn nhân
Khi làm việc với nạn nhân, lực lượng chức
năng phải tôn trọng sự đồng thuận của họ dựa
trên các thông tin được thông báo đầy đủ. Các
thông tin về chính sách, dịch vụ mà các tổ chức
cung cấp cho nạn nhân và trình tự, thủ tục tiếp
cận các dịch vụ đó phải được giải thích, mô tả đầy
đủ và theo cách thích hợp để nạn nhân hiểu đúng
trước khi họ đồng ý với bất kỳ đề nghị hay hành
động nào.
Sự đồng thuận cần có một quá trình để đạt
được. Nếu không thể trao đổi với nạn nhân bằng
ngôn ngữ, tiếng nói của họ thì cần hỗ trợ bằng
phiên dịch và viết ra giấy các ý kiến đồng thuận,
hạn chế việc thỏa thuận, đồng ý chỉ bằng lời nói.
Với vai trò kết nối, phải lựa chọn phiên dịch là
người có hiểu biết và thái độ phù hợp trong ứng
Trong trường hợp này, đối với những nạn
nhân bị sang chấn tâm lý hoặc tổn thương sức xử của các nguyên tắc bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân.
52 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
HOÀNG VĂN HÀ
Trường hợp nạn nhân là trẻ em, cần phải hỏi ý bảo vệ họ khỏi những tác động tiêu cực này.
kiến của người bảo trợ hoặc người giám hộ đối với
Trước khi tiến hành cần lưu ý: Nếu gặp gỡ,
bất kỳ hoạt động nào có liên quan. Các quan điểm
tiếp xúc, làm việc, lấy lời khai nạn nhân hoặc
của trẻ em phải được tôn trọng, cho phép trẻ được
người thân thích của họ (cha, mẹ, anh chị, họ
bày tỏ và cân nhắc các ý kiến của trẻ. Trẻ em là nạn
hàng...) thì có gây ra cho họ những những rủi ro
nhân cũng phải được cung cấp các thông tin đầy
về an toàn, tâm lý, xã hội hoặc kinh tế nào không?
đủ trong tất cả các quá trình hỗ trợ và thích hợp
Trong quá trình tiếp xúc và làm việc, cần có sự
với sự hiểu biết của trẻ.
quan sát xung quanh xem môi trường có an toàn,
Thứ ba, không phân biệt đối xử
riêng tư, thân thiện, phù hợp? Có ai đang quan sát
Luôn luôn quán triệt chính sách không phân
hay nghe cuộc trò chuyện không? Người tham gia
biệt đối xử về giới tính, xu hướng tính dục, lứa
có cảm thấy thoải mái không? Cần nhận biết xem
tuổi, khuyết tật, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo,
có dấu hiệu nào cho thấy việc mình đang làm sẽ
ngôn ngữ, quan điểm chính trị và các đặc điểm
tăng nguy cơ bị trả thù hoặc bị kỳ thị của những
khác của nạn nhân.
người khác đối với nạn nhân không? Nếu có, hãy
Giữ kín và bảo mật thông tin về nạn nhân là
cân nhắc việc hoãn hoặc thay đổi lịch hoặc thay
nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi làm việc
với nạn nhân. Tất cả mọi thông tin liên quan đến
đổi địa điểm tiếp xúc. Trong quá trình làm việc
cũng cần đảm bảo không làm tăng tình trạng dễ bị
nạn nhân như danh tính, thông tin cá nhân, nhận
tổn thương của nạn nhân hay gia đình họ và tăng
thêm gánh nặng cho tình trạng hiện tại của họ.
dạng... đều cần được bảo mật. Các biện pháp bảo
mật thông tin như việc thu thập, chia sẻ thông tin
liên quan đến nạn nhân phải được thực hiện trên
nguyên tắc giới hạn trong phạm vi “cần thiết phải
biết”. Chỉ những cán bộ trực tiếp tham gia làm việc
với nạn nhân mới có quyền tiếp cận hồ sơ của nạn
nhân và với sự đồng thuận của nạn nhân, ngoại
trừ vì sự an toàn của nạn nhân hay của người
khác. Các dữ liệu thông tin cá nhân phải được cân
nhắc, không được tiết lộ với những người không
tham gia vào quá trình làm việc với nạn nhân.
Thứ năm, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em
Tất cả sự giúp đỡ và bảo vệ cho trẻ em phải
dựa trên nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em. Các
tổ chức, cá nhân, nhà nước, tư nhân, cơ sở xã hội,
cơ quan tiến hành tố tụng, chính quyền đều phải
quan tâm đến lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ em không
phải là người lớn thu nhỏ, do vậy người làm công
tác bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân cần nhạy cảm với các
Trường hợp cần chia sẻ thông tin cho các cơ quan nhu cầu đặc biệt và hoàn cảnh khó khăn của trẻ.
liên quan, cần phải đảm bảo không làm tăng nguy
cơ bất lợi, ảnh hưởng đến sự an toàn và quá trình
hòa nhập cộng đồng của nạn nhân. Trường hợp
thông tin về nạn nhân có thể gây nguy hiểm cho
sự an toàn của nạn nhân thì không nên chia sẻ, trừ
khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Nếu cần chia
sẻ thông tin thì phải được sự đồng ý của nạn nhân;
đảm bảo riêng tư, tạo sự an toàn và chất lượng
của thông tin; không làm phiền, không cắt ngang,
không tạo sự ngờ vực của nạn nhân, không làm
ảnh hưởng đến cảm xúc của nạn nhân; thông báo
đầy đủ cho nạn nhân mục đích, người tham gia,
địa điểm, không làm ảnh hưởng đến quá trình
hòa nhập cộng đồng của nạn nhân. Tổ chức, cá
nhân sử dụng dữ liệu thông tin cá nhân của nạn
nhân phải cam kết bảo mật. Trường hợp nạn nhân
là trẻ em thì việc chia sẻ thông tin phải được sự
đồng ý của người đại diện hợp pháp.
Các dịch vụ cần được “cá nhân hóa” phù hợp với
nhu cầu của trẻ, có sự tham gia nhiều nhất của trẻ;
thực hiện các biện pháp giảm mặc cảm và thúc đẩy
sự phát triển lành mạnh của trẻ. Nạn nhân là trẻ
em có những nhu cầu đặc biệt, vì vậy các em cần
được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Nguyên tắc vì lợi
ích tốt nhất của trẻ em phải được thực hiện trong
mọi giai đoạn chăm sóc và bảo vệ nạn nhân là trẻ
em. Trường hợp không rõ tuổi của trẻ và không có
giấy tờ hợp pháp chứng thực tuổi của trẻ, tùy theo
thời gian để xác định độ tuổi là trẻ em, có khả năng
là trẻ em thì nên cho đó là trẻ em./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng
trị tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ
em (bổ sung cho Công ước về chống tội phạm có tổ
chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc, năm 2000);
2. Luật Phòng, chống mua bán người, năm 2011;
3. Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm
2009;
4. Bộ luật hình sự, năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017;
5. Bộ tài liệu tập huấn liên ngành về phòng, chống
mua bán người, Ban Chỉ đạo Chương trình 130/CP năm
Thứ tư, không gây tổn hại
Trong quá trình tiếp xúc, làm việc và hỗ trợ
nạn nhân, cán bộ chức năng cần lưu ý và lường
trước những khả năng mà công việc của mình có
thể gây nên những rủi ro về an toàn, tâm lý hoặc
xã hội đối với những nạn nhân hoặc người thân
thích của họ. Chính vì vậy, việc nhận thức được
nguyên tắc không gây tổn hại là rất quan trọng và
các cán bộ cần thực hiện những việc cần thiết để 2016, Bộ Công an.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 53
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm tâm lý và những vấn đề cần lưu ý trong quá trình làm việc với nạn nhân của tội phạm mua bán người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dac_diem_tam_ly_va_nhung_van_de_can_luu_y_trong_qua_trinh_la.pdf

