Nhận thức và pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp (Phần 1)
NHẬN THỨC VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về doanh nghiệp và đăng ký thành lập doanh nghiệp
1.1.1
Khái niệm về doanh nghiệp
Vào nửa cuối thập niên 1980, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới với phương
hướng xóa bỏ dần cơ cấu quan liêu bao cấp của nền kinh tế kế hoạch hóa, phát
triển nền kinh tế năng động và hiện đại hơn. Một trong những chủ trương lớn của
Chính phủ Việt Nam là hướng đến tự do hóa thương mại và thúc đẩy nền kinh tế
đặc biệt là kinh tế tư nhân. Từ đây, khái niệm về doanh nghiệp bắt đầu được nhen
nhóm. Vào năm 1990, Luật Công ty được ban hành, theo đó, doanh nghiệp được
định nghĩa là các đơn bị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực
hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lời. Sau đó, Luật Doanh nghiệp năm 1999 và 2005
đã bắt đầu hình thành rõ và bao quát nhưng cụ thể, ngắn gọn hơn khái niệm về
doanh nghiệp. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 1999 và Khoản 1
Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định : “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Khái niệm về doanh nghiệp vào những năm 1990 và 1999, 2005 đã có những
khác biệt lớn. Vào năm 1990, doanh nghiệp chỉ đơn thuần được xem là một đơn vị
thực hiện hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp lúc bấy giờ chưa có chỗ đứng rõ
rệt, chưa mang nhiều đặc điểm nổi bật riêng. Nói cách khác, khái niệm về doanh
nghiệp trong giai đoạn này chưa nêu bật được vị trí và giá trị của doanh nghiệp
trong thị trường kinh tế. Đến năm 1999, khi giá trị của loại hình doanh nghiệp bắt
đầu được thừa nhận, doanh nghiệp đã được định hình rõ rệt hơn, điều này có thể
được chứng minh thông qua sự thay đổi về khái niệm doanh nghiệp. “Doanh
nghiệp” lúc này là tổ chức kinh tế có những đặc điểm như có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch và đặc biệt là phải được đăng ký theo quy định pháp luật. Định
nghĩa này cho ta thấy rằng, vị trí của doanh nghiệp đã được khẳng định trên thị
trường. Nhà nước lúc bấy giờ đã bắt đầu quan tâm đến hoạt động của doanh
nghiệp, quan tâm đến sự hiện diện của doanh nghiệp trên thị trường kinh tế và có
biện pháp để quản lý doanh nghiệp là bắt buộc phải đăng ký doanh nghiệp.
Từ năm 1999 đến nay, nền kinh tế đã không ngừng biến chuyển, doanh nghiệp
ngày càng được khẳng định là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế. Dựa
vào những thay đổi đó mà cách nhìn nhận về doanh nghiệp cũng trở nên rõ ràng,
hoàn thiện hơn. Khái niệm về doanh nghiệp lúc này được quy định cụ thể tại
Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích kinh doanh”.
1.1.2
Đặc điểm của doanh nghiệp
Đặc điểm của doanh nghiệp là những yếu tố cơ bản tạo nên cái nhìn bao quát về
doanh nghiệp. Thông qua việc nắm rõ đặc điểm của doanh nghiệp mà có thể nhận
dạng doanh nghiệp. Đặc điểm có thể được nhận thấy thông qua việc phân tích về
khái niệm của doanh nghiệp nhưng cũng có thể được đúc rút từ những biểu hiện
bên ngoài. Từ khái niệm đã tìm hiểu, ta có thể chỉ ra những đặc điểm của doanh
nghiệp:
Thứ nhất, doanh nghiệp là một tổ chức nhằm mục đích kinh doanh
Tổ chức được hiểu là một hệ thống gồm nhiều người cùng hoạt động vì mục
đích chung. Đòi hỏi doanh nghiệp là một tổ chức, bởi lẻ một doanh nghiệp cần có
chủ thể quản lý nhằm thiết lập một cơ cấu, hệ thống các vị trí cho mỗi thành viên
sao cho các cá nhân và bộ phận có thể phối hợp với nhau một cách tốt và hiệu quả
nhất để thực hiện mục tiêu đề ra. Sự liên kết này có thể tạo nên bằng những điều lệ,
nội quy hay quy chế của doanh nghiệp.
Một tổ chức nên khi được hình thành phải gắn liền với những mục tiêu nhất
định. Và đối với tổ chức muốn trở thành một doanh nghiệp thì mục tiêu chính của
tổ chức đó là kinh doanh- tiến hành các hoạt động như đầu tư, sản xuất, phân
phối... hàng hóa, dịch vụ để thu về lợi nhuận. Đặc trưng tổ chức có mục đích kinh
doanh của doanh nghiệp là cách thức giúp chúng ta nhận biết một doanh nghiệp và
phân biệt được doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
hay các tổ chức chính trị - xã hội khác.
Thứ hai, doanh nghiệp có tên riêng
Khi tham gia hoạt động kinh tế trên thị trường, mỗi doanh nghiệp phải có tên
riêng. Tên riêng bao gồm tên pháp lý và tên thương mại. Tên pháp lý của doanh
nghiệp là tên được doanh nghiệp đăng ký khi đăng ký thành lập doanh nghiệp; Mọi
hoạt động pháp lý liên quan của doanh nghiệp đều được thực hiện bằng tên pháp
lý; Tên pháp lý của doanh nghiệp phải thể hiện được hai thành tố là loại hình
doanh nghiệp và tên riêng. Tên thương mại của doanh nghiệp là tên gọi dùng trong
hoạt động kinh doanh thực tế; Tên thương mại có tính chất đặc biệt, dễ dàng sử
dụng trong hoạt động kinh doanh thông thường hằng ngày. Đặc điểm có tên riêng
của doanh nghiệp giúp để phân biệt chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh
khác trong cùng lĩnh vực hay khu vực kinh doanh và cũng để dễ dàng hơn trong
công tác quản lý của nhà nước về hoạt động kinh doanh trong thị trường.
Thứ ba, doanh nghiệp có tài sản
Tài sản là tất cả các nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, nằm giữ và từ việc
sử dụng tài sản đó có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Bất kỳ một doanh
nghiệp nào muốn hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bao gồm kinh doanh sản
xuất hay kinh doanh dịch vụ thì đều phải đảm bảo có một nguồn tài sản nhất định.
Tủy thuộc từng loại hình doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh mà Nhà nước có
quy định về mức vốn tối thiểu riêng. Tài sản của doanh nghiệp được cần kể đến hai
loại là tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản hữu hình được biểu hiện dưới
hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, vật tư hoàng hóa... Tài sản vô
hình được hiểu hiện dưới hình thái như bản quyền, bằng sáng chế...
Thứ tư, doanh nghiệp có trụ sở giao dịch
Trụ sở giao dịch của doanh nghiệp được ghi trong Giấy chứng nhận ĐKDN. Là
nơi đặt văn phòng của doanh nghiệp, phục vụ cho hoạt động liên lạc, giao tiếp với
cơ quan chức năng, khách hàng. Ngoài ra đây cũng có thể chính là địa điểm kinh
doanh, giao kết hợp đồng, nơi giao nhận hàng hóa v.v... Doanh nghiệp có trụ sở
giao dịch rõ ràng, đảm bảo ổn định hoạt động của doanh nghiệp cũng như đáp ứng
nhu cầu về quản lý doanh nghiệp của Nhà nước.
Thứ năm, doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật
Việc đăng ký thành lập doanh nhiệp là hoạt động quan trọng và bắt buộc, thể
hiện sự gia nhập của doanh nghiệp trên thị trường kinh tế là hợp pháp và được Nhà
nước bảo hộ. Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đảm bảo sự xuất hiện của doanh
nghiệp trên thương trường là hợp pháp. Tuy nhiên, những hoạt động của doanh
nghiệp chỉ được coi là hợp pháp khi những hoạt động đó nằm trong khuôn khổ
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đã đăng ký. Ngoài ra, đăng ký thành lập doanh
nghiệp được coi là hợp pháp khi được thực hiện bởi người có thẩm quyền đại diện
cho doanh nghiệp, yêu cầu về hình thức, nội dung, thủ tục phải đúng với quy định
pháp luật. Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp là hoạt động minh chứng cho việc
doanh nghiệp được tham gia vào thị trường kinh tế, hình thành nên khuôn khổ hoạt
động, đảm bảo hoạt động đúng mục đích kinh doanh. Từ đó, cơ quan quản lý Nhà
nước có thể kiểm soát, bao quát được tình hình thị trường kinh tế, hoạt động của
các doanh nghiệp một cách rõ ràng và có hướng giải quyết đúng đắn trong các
trường hợp doanh nghiệp vi phạm quy định pháp luật liên quan.
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức và pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhan_thuc_va_phap_luat_ve_dang_ky_thanh_lap_doanh_nghiep_pha.pdf

