Một số vấn đề đặt ra trong hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác truy nã

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ...  
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TRUY NÃ  
PHÙNG VĂN HÀ*  
Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu và chỉ ra một số thiếu sót trong hệ thống pháp  
luật quy định về truy nã, đồng thời đưa ra một số gợi ý nhằm xem xét sửa đổi, bổ sung  
hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động truy nã trong thời gian tới. Ngoài ra, tác giả cũng  
chỉ ra những vướng mắc trong những quy định của Luật Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư  
pháp trong công tác thi hành án có liên quan đến truy nã tội phạm.  
Từ khóa: Truy nã, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự.  
Ngày nhận bài: 16/11/2020; Biên tập xong: 18/11/2020; Duyệt đăng: 18/11/2020.  
The author studies and points out shortcomings in legal framework related to  
wanted as well as proposes a number of recommendations for revising legal basis for  
wanted in upcoming time. At the same time, the author also shows obtacles of Law  
on Execution of criminal judgments and justice assistance in execution of judgments  
relating wanted.  
Keywords: Wanted, criminal procedure, execution of criminal judgments.  
ên cạnh những thành quả quan hiện, bắt giữ người thực hiện hành vi  
phạm tội đã bị khởi tố về hình sự bỏ trốn  
trọng đã đạt được về chính trị,  
1
hoặc không biết đang ở đâu. Tuy nhiên,  
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc  
B
phòng, an ninh trong sự phát triển, đổi hiện nay một số quan điểm chưa có sự  
mới và hội nhập quốc tế, mặt trái của quá  
trình hội nhập cũng đặt ra nhiều thách  
thức cho Việt Nam ở các góc độ, trong đó  
có an ninh, trật tự. Theo ghi nhận của các  
cơ quan chức năng, tình hình tội phạm ở  
Việt Nam đang có diễn biến rất phức tạp,  
tính chất mức độ ngày càng nguy hiểm  
hơn, có sự quốc tế hóa mạnh mẽ và hậu  
quả tội phạm gây ra ngày càng nghiêm  
trọng. Trong đó, điều đặc biệt cần quan  
tâm là trong rất nhiều vụ án, người thực  
hiện hành vi tội phạm đã bỏ trốn sau khi  
gây án, gây khó khăn cho quá trình điều  
tra, xử lý tội phạm.  
Cho đến nay, trong các văn bản quy  
phạm pháp luật của nước ta chưa đưa ra  
khái niệm cụ thể thế nào là truy nã đối  
tượng bị truy nã, nhưng thông qua những  
quy định của các văn bản pháp luật có liên  
quan, có thể hiểu truy nã là hoạt động của  
cơ quan có thẩm quyền theo quy định của  
thống nhất về đối tượng truy nã, không ít  
người quan niệm đối tượng của hoạt động  
truy nã là hành vi phạm tội và thường sử  
dụng thuật ngữ “truy nã tội phạm”. Về đối  
tượng bị truy nã, chúng tôi cho rằng đây  
là con người cụ thể chứ không phải là tội  
phạm vì theo quy định của Bộ luật hình  
sự, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã  
hội. Do đó, không thể truy nã để tìm bắt  
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chỉ truy  
nã người đã thực hiện hành vi nguy hiểm  
đó khi có đủ các dấu hiệu pháp lý cụ thể  
theo luật định. Người bị truy nã chỉ có thể  
là bị can bỏ trốn hoặc không biết đang ở  
đâu; bị cáo (người đã bị Tòa án quyết định  
đưa ra xét xử) bỏ trốn; người bị kết án tù  
hoặc tử hình (người đã bị Tòa án kết án tù  
có thời hạn, tù chung thân hoặc tử hình  
đang được tại ngoại chờ thi hành án) bỏ  
* Thạc sĩ, Khoa Cảnh sát hình sự - Học viện Cảnh  
pháp luật thực hiện bằng cách tìm, phát sát nhân dân.  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 32  
PHÙNG VĂN HÀ  
trốn; phạm nhân (người đang chấp hành đối với những đối tượng có tài liệu, căn  
hình phạt tù trong các trại giam, trại tạm cứ xác định chính xác đối tượng đã trốn  
giam, nhà tạm giữ) trốn trại.  
ra ngoài biên giới Việt Nam hoặc đang  
sinh sống ở nước ngoài. Hình thức truy  
nã được chia thành 2 loại, đó là truy nã  
thường áp dụng đối với người thực hành  
vi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm  
trọng; còn truy nã đặc biệt áp dụng đối  
với người thực hiện hành vi phạm tội rất  
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.  
Bỏ trốn được hiểu là rời khỏi nơi cư  
trú và đi đến địa phương khác để ẩn náu.  
Người bỏ trốn có thể thay đổi các thông  
tin về nhân thân, nơi cư trú, sinh sống mà  
các cơ quan bảo vệ pháp luật không biết  
được nhằm tránh việc bị phát hiện, bắt  
giữ, xử lý. Không biết đối tượng đang ở  
đâu được hiểu là cơ quan chức năng đã  
xác định được nhân thân, hành vi phạm  
tội của đối tượng nhưng không xác định  
được đối tượng đang cư trú ở chỗ nào.  
Chính việc không biết người thực hiện  
hành vi phạm tội đang ở đâu này đã gây  
khó khăn cho cơ quan chức năng thực  
hiện các quyền năng tố tụng của mình. Vì  
vậy, các cơ quan chức năng phải tiến hành  
truy nã để mọi người tìm, phát hiện, bắt  
giữ. Đây là mục đích chính của việc ban  
hành quyết định truy nã người phạm tội  
bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu. Khi  
quyết định truy nã được ban hành thì mọi  
cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu phát hiện  
người bị truy nã đều có quyền bắt giữ, còn  
người bị truy nã dù có trốn đi đâu, trong  
thời gian bao lâu thì họ cũng không được  
hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm  
hình sự.  
Để việc truy bắt đối tượng truy nã đạt  
hiệu quả, hiện nay các cơ quan chức năng  
căn cứ phạm vi người bị truy nã có thể lẩn  
trốn và hành vi phạm tội của đối tượng  
truy nã để áp dụng các biện pháp truy  
bắt phù hợp. Phạm vi truy nã được chia  
thành 3 loại, đó là truy nã trong phạm vi  
địa phương, truy nã toàn quốc, truy nã  
quốc tế. Cụ thể, truy nã trong phạm vi địa  
phương áp dụng đối với những đối tượng  
xác định có khả năng lẩn trốn trong phạm  
vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung  
ương; truy nã toàn quốc áp dụng đối với  
những đối tượng xác định có khả năng  
Xác định được tầm quan trọng của  
công tác truy nã, từ trước đến nay, Bộ  
Công an coi công tác truy nã là một trong  
những hoạt động đấu tranh phòng, chống  
tội phạm của Công an nhân dân được  
thực hiện bằng cách áp dụng tổng hợp  
các biện pháp mà pháp luật cho phép và  
các biện pháp nghiệp vụ của ngành Công  
an nhằm phát hiện, bắt giữ người bị truy  
nã phục vụ cho công tác điều tra, truy tố,  
xét xử và thi hành án hình sự, góp phần  
bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự,  
an toàn xã hội. Bộ Công an cũng đã có Kế  
hoạch số 327/BNV(C11) ngày 12/5/1995  
về tổng truy bắt, vận động đối tượng truy  
nã ra đầu thú, mở nhiều đợt cao điểm tấn  
công truy bắt, vận động đối tượng truy nã  
ra đầu thú đạt được những kết quả khả  
quan, phục vụ hiệu quả cho công tác điều  
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự,  
góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm.  
Cùng đó, lãnh đạo Bộ Công an cũng chỉ  
đạo các cơ quan chức năng đẩy mạnh xây  
dựng và từng bước hoàn thiện cơ sở pháp  
lý phục vụ công tác truy nã, đã xây dựng,  
ban hành hệ thống văn bản quy phạm  
pháp luật về công tác truy nã tương đối  
đa dạng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu  
thực tiễn công tác truy nã hiện nay. Tuy  
nhiên, qua nghiên cứu quy định pháp luật  
về truy nã cũng như thực tiễn áp dụng các  
quy định có liên quan đến công tác truy  
nã cho thấy một số vấn đề cần nghiên cứu,  
xem xét sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện  
lẩn trốn và có mối quan hệ ở nhiều tỉnh, cơ sở pháp lý cho hoạt động này, góp  
thành phố trực thuộc trung ương và trên phần nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tội  
phạm vi cả nước; truy nã quốc tế áp dụng phạm. Cụ thể:  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 33  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ...  
Thứ nhất, Ðiều 419 Bộ luật tố tụng thì Cơ quan điều tra cũng không thể tạm  
hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định về  
áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp  
cưỡng chế. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới  
16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp  
khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội  
phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của  
Bộ luật hình sự (BLHS) nếu có căn cứ quy  
định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm  
a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật  
này. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi  
có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,  
bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm  
trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc  
biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định  
tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a,  
b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật  
này. Đối với bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi  
đến dưới 18 tuổi bị khởi tố, điều tra, truy  
tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội  
ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình  
phạt tù đến 02 năm thì có thể bị bắt, tạm  
giữ, tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội,  
bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.  
Trong trường hợp sau khi những người  
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố  
bị can về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc  
tội phạm nghiêm trọng do vô ý mà họ bỏ  
trốn hoặc không biết họ đang ở đâu thì  
Cơ quan điều tra không được ra quyết  
định truy nã đối với họ theo quy định tại  
Điều 112 Bắt người đang bị truy nã. Đối  
với người đang bị truy nã thì bất kỳ người  
nào cũng có quyền bắt và giải ngay người  
bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát  
hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các  
cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận  
và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay  
cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.  
đình chỉ điều tra theo quy định khoản 1  
Điều 229 BLTTHS năm 2015 khi chưa xác  
định được bị can hoặc không biết rõ bị can  
đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều  
tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị  
can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra  
quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ  
điều tra.  
Thứ hai, Khoản 2 Điều 418 BLTTHS  
năm 2015 quy định “Trường hợp người  
dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành  
vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác  
khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;  
tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật  
của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;  
đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng,  
bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người  
thân thích của những người này hoặc tiếp tục  
phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám  
sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với  
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để  
có biện pháp ngăn chặn, xꢀ lý kịp thời”. Như  
vậy, BLTTHS quy định giao cho người  
giám sát có nhiệm vụ giám sát, phát hiện  
biểu hiện bỏ trốn của người dưới 18 tuổi.  
Tuy nhiên, trên thực tế, không dễ gì người  
giám sát có thể phát hiện những dấu hiệu  
bỏ trốn của người dưới 18 tuổi. Mặt khác,  
BLTTHS không quy định trách nhiệm của  
người giám sát trong việc để người dưới  
18 bỏ trốn. Quy định như vậy vô tình tạo  
kẽ hở cho việc người dưới 18 tuổi phạm tội  
lẩn trốn, Cơ quan điều tra phải đợi họ đủ  
18 tuổi mới được ra quyết định truy nã.  
Thứ ba, theo Điều 119 BLTTHS năm  
2015, những trường hợp phạm tội ít  
nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng,  
không cản trở hoạt động điều tra, truy tố,  
xét xử, có khung hình phạt từ hai năm tù  
trở xuống thì không áp dụng biện pháp  
ngăn chặn khác nhưng vi phạm, không có  
nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định  
được lý lịch bị can thì nguy cơ bỏ trốn  
của những đối tượng này là rất cao. Mặt  
khác, chỉ tạm giam những đối tượng trên  
Như vậy, đối với người từ đủ 16 tuổi  
đến dưới 18 tuổi đã bị khởi tố bị can về  
tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng  
do vô ý mà bỏ trốn hoặc không biết họ  
ở đâu thì Cơ quan điều tra phải đợi cho  
đến khi họ đủ 18 tuổi mới được ra quyết  
định truy nã đối với những bị can này.  
Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu  
những vụ án này đã hết thời hạn điều tra trong trường hợp bỏ trốn hoặc bị bắt theo  
34 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 4 - 2020  
PHÙNG VĂN HÀ  
quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ hình sự Công an cấp tỉnh có thẩm quyền  
trốn, thực tế cho thấy đã bỏ trốn thì mới ra  
ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt  
người chấp hành án bỏ trốn nhưng lại  
không quy định thẩm quyền ra quyết  
định truy nã đối với phạm nhân trốn khi  
đang bị áp giải. Như vậy, trường hợp  
phạm nhân trốn khi đang bị áp giải thì  
Giám thị trại giam, cơ quan thi hành án  
hình sự Công an cấp tỉnh nơi phạm nhân  
đang chấp hành án phạt tù tổ chức truy  
bắt phạm nhân bỏ trốn, đồng thời báo cho  
Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành  
điều tra, khởi tố bị can Tội trốn khỏi nơi  
giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải,  
đang bị xét xử theo Điều 386 BLHS năm  
2015. Sau khi Viện kiểm sát phê chuẩn  
quyết định khởi tố bị can thì Cơ quan điều  
tra mới ra quyết định truy nã sẽ không  
bảo đảm tính kịp thời trong việc truy bắt  
đối tượng.  
Ngoài ra, Luật thi hành án hình sự quy  
định, sau khi phạm nhân trốn trại giam  
thì trại giam, cơ quan thi hành án hình sự  
Công an cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp  
tổ chức lực lượng truy bắt. Nếu cơ quan  
chức năng bắt được phạm nhân bỏ trốn  
trong thời gian chưa ra quyết định truy  
nã đối với phạm nhân đó thì trường hợp  
bắt này có được coi là một trong các biện  
pháp ngăn chặn không. Bởi lẽ, trong các  
biện pháp ngăn chặn được quy định trong  
BLTTHS thì chưa có quy định về trường  
hợp bắt nêu trên.  
quyết định truy nã.  
Thứ tư, BLHS năm 2015 không quy  
định việc đối tượng, bị can, bị cáo bỏ trốn  
là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự  
nên tính phòng ngừa, răn đe tội phạm còn  
hạn chế (Điều 59). Trong khi đó, khoản  
3 Điều 16 Thông tư liên tịch số 13/2012/  
TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC  
ngày 09/10/2012 Hướng dẫn thi hành một  
số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và  
Luật thi hành án hình sự về truy nã quy  
định: “Người phạm tội bị truy nꢀ ra đầu thú  
thì được xem xét là một tình tiết giảm nhẹ theo  
quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự”.  
Việc quy định đối tượng truy nã ra đầu  
thú là tình tiết giảm nhẹ đã vô tình khuyến  
khích đối tượng phạm tội tìm cách bỏ trốn,  
chờ dư luận lắng xuống và tìm cách khắc  
phục hậu quả, sau đó ra đầu thú để hưởng  
sự khoan hồng của pháp luật. Mặt khác,  
Điều 121 BLTTHS năm 2015 quy định: “Cơ  
quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can,  
bị cáo vi phạm nghĩa vụ đꢀ cam đoan thì tùy  
tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo  
quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, luật lại  
không quy định cụ thể chế tài áp dụng đối  
với người nhận bảo lĩnh trong trường họp  
người bảo lĩnh trốn.  
Thứ năm, trong trường hợp bị cáo bỏ  
trốn, người bị kết án tù hoặc tử hình bỏ  
trốn thì Tòa án yêu cầu Cơ quan điều tra  
ra quyết định truy nã theo quy định tại  
Điều 180, Điều 187, Điều 256 BLTTHS năm  
2015. Những quy định này không thống  
nhất với quy định về thẩm quyền của Thủ  
trưởng Cơ quan điều tra theo quy định tại  
Khoản 2 Điều 34 BLTTHS (Thủ trưởng Cơ  
quan điều tra có thẩm quyền quyết định  
truy nã bị can, không có thẩm quyền truy  
nã bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình).  
Thứ bảy, trường hợp tổ chức, cá nhân  
bắt được phạm nhân trốn trại giam đang  
bị truy nã theo quyết định truy nã của  
giám thị trại giam, cơ quan thi hành án  
hình sự Công an cấp tỉnh tại nơi không  
thuộc địa bàn của trại giam, cơ quan thi  
hành án hình sự Công an cấp tỉnh đã ra  
quyết định truy nã. Theo quy định tại  
Điều 114 BLTTHS năm 2015, Cơ quan  
điều tra nhận người bị bắt phải thông báo  
Thứ sáu, khoản 6 Điều 14 Luật Thi  
hành án và hỗ trợ tư pháp năm 2019 quy  
định thẩm quyền của Cơ quan thi hành án ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 35  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ...  
để đến nhận người bị bắt. Trong trường người dưới 18 tuổi bỏ trốn mà không kịp  
hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định  
truy nã không thể đến nhận ngay người  
bị bắt thì Cơ quan điều tra nhận người bị  
bắt ra ngay quyết định tạm giữ và thông  
báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định  
truy nã biết. Nếu theo quy định tại Điều  
114 BLTTHS năm 2015, những việc cần  
làm ngay sau khi giữ người trong trường  
hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người  
bị giữ, bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định  
truy nã phải ra ngay lệnh tạm giam và  
gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát  
cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra  
nhận người bị bắt. Tuy nhiên, trại giam,  
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp  
tỉnh không có thẩm quyền ra lệnh tạm  
giam đối với người bị truy nã. Vì vậy,  
cần có quy định về cách giải quyết trong  
trường hợp này để thực hiện thống nhất  
trên thực tế.  
thời báo cáo cơ quan chức năng hoặc khi  
có triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng  
mà người dưới 18 tuổi không có mặt tại cơ  
quan có thẩm quyền... Quy định này góp  
phần làm giảm tình trạng người phạm tội  
là người dưới 18 tuổi bỏ trốn hoặc gây  
khó khăm, cản trở cho hoạt động điều tra.  
Ba là, BLTTHS cần bổ sung, sửa đổi  
quy định có liên quan đến áp dụng các  
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với  
người bị truy nã lẩn trốn cho phù hợp  
với tình hình thực tế hiện nay theo hướng  
quy định trường hợp phạm tội bỏ trốn là  
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.  
Bởi lẽ, hơn ai hết, người phạm tội nhận  
thức được rằng phạm tội sau đó lẩn trốn  
là hình thức trốn tránh sự trừng trị của  
pháp luật. Mặt khác, cần có hướng dẫn cụ  
thể cách tính tình tiết giảm nhẹ cho người  
bị truy nã được giảm nhẹ trách nhiệm  
hình sự, giúp cho cơ quan tiến hành truy  
nã sử dụng tình tiết đó một cách hiệu quả  
trong vận động người bị truy nã ra đầu  
thú. Mặt khác, pháp luật tố tụng hình sự  
cần quy định cụ thể về chế tài áp dụng đối  
với người nhận bảo lĩnh nhưng để người  
phạm tội lẩn trốn.  
Để hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm  
nâng cao hiệu quả công tác truy nã, tác giả  
đề xuất một số giải pháp sau:  
Một là, các cơ quan liên ngành tư pháp  
cần có văn bản hướng dẫn về trường  
hợp đối với vụ án người từ đủ 16 tuổi  
đến dưới 18 tuổi đã bị khởi tố bị can về  
tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng  
do vô ý mà bỏ trốn hoặc không biết họ ở  
đâu. Trong trường hợp này, nếu chưa xác  
định được bị can hoặc không biết rõ bị can  
đang ở đâu, do đã hết thời hạn điều tra  
thì Cơ quan điều tra có thể ra quyết định  
tạm đình chỉ điều tra vụ án. Điều này sẽ  
tháo gỡ vướng mắc đối với trường hợp vụ  
án có bị can, bị cáo là người từ đủ 16 tuổi  
đến dưới 18 tuổi bỏ trốn hoặc không biết  
họ ở đâu.  
Bốn là, cần xem xét điều chỉnh những  
quy định trong trường hợp bị cáo bỏ trốn,  
người bị kết án tù hoặc tử hình bỏ trốn thì  
Tòa án yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết  
định truy nã theo quy định tại Điều 180,  
Điều 187, Điều 256 BLTTHS năm 2015 cho  
phù hợp với quy định về thẩm quyền của  
Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo quy  
định tại Khoản 2 Điều 34 BLTTHS (Thủ  
trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền  
quyết định truy nã bị can, không có thẩm  
quyền truy nã bị cáo, người bị kết án tù  
Hai là, các cơ quan liên ngành tư pháp  
trung ương cần thống nhất về quy định  
đối với trường hợp giao cho người giám  
sát người phạm tội là người dưới 18 tuổi.  
Cần phải quy định trường hợp người  
giám sát không làm tròn trách nhiệm, để hoặc tử hình)./.  
36 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
pdf 5 trang Thùy Anh 14880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề đặt ra trong hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác truy nã", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_dat_ra_trong_hoan_thien_co_so_phap_ly_nham_nan.pdf