Thực trạng quy định luật thương mại năm 2005 điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005 ĐIỀU CHỈNH  
HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI  
ThS Nguyễn Ngọc Anh1  
Tóm tắt: Môi giới thương mại là một trong những hoạt động trung gian thương mại  
có vai trò quan trọng trong việc là “cầu nối” giúp bên bán, bên mua xác lập giao dịch thành  
công. Bài tham luận tập trung nghiên cứu thực trạng quy định Luật Thương mại năm 2005  
điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại, cụ thể: quy định về chủ thể của quan hệ pháp  
luật môi giới thương mại, quy định về bản chất pháp lý của giao dịch giữa bên được môi  
giới với bên thứ ba. Bên cạnh đó, trong bối cảnh và sự phát triển hiện nay, hoạt động môi  
giới còn được thực hiện trên phương tiện điện tử như sàn giao dịch thương mại điện tử,  
website đấu giá trực tuyến. Thực tiễn cho thấy pháp luật về môi giới thương mại điện tử có  
những điểm khác biệt với pháp luật về môi giới thương mại truyền thống. Những quy phạm  
pháp luật về môi giới thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 tồn tại khoảng trống  
trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật môi giới thương mại điện tử. Hạn chế này cũng  
được nghiên cứu đề xuất trong tham luận.  
Từ khoá: Luật Thương mại năm 2005, môi giới thương mại, môi giới thương mại  
điện tử  
Abstract: Commercial brokerage is one of the commercial intermediaries that plays  
an important role in acting as a “bridge” to help the buyers and sellers to successfully  
conduct transactions. The article studies the provisions on commercial brokerage in the  
2005 Commercial Law, particularly the provisions on the subjects in commercial  
brokerage relations and the provisions on the legal attributes of the transaction between  
the brokered party and third party. Furthermore, nowadays, brokerage activities are being  
carried out through electronic means such as e-commerce trading floor, online auction  
websites. In practice, e-commerce brokerage is different from traditional commercial  
brokerage. The provisions on commercial brokerage in the 2005 Commercial Law do not  
fully cover e-commerce brokerage relations. This limitation is also studied in the article.  
Keywords: 2005 Commercial Law, commercial brokerage, e-commerce brokerage  
1 Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Email: [email protected]  
134  
1. Khái quát pháp luật về môi giới thương mại và những quy định của Luật Thương  
mại năm 2005 điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại  
1.1. Khái niệm pháp luật về môi giới thương mại  
Môi giới thương mại là hoạt động trung gian thương mại khá phát triển. Lúc đầu,  
người môi giới chỉ đơn thuần là người phiên dịch, sau đó, họ đóng vai trò là người chuyển  
tải các thông điệp về pháp luật, kinh tế tại các hội chợ thương mại quốc tế. Dần dần, họ trở  
thành chủ thể đứng ra giúp các bên tìm hiểu thị trường, tìm hiểu đối tác… Môi giới thương  
mại được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ mua bán hàng hoá đến các lĩnh vực dịch vụ  
như: môi giới bảo hiểm, môi giới thuê tàu, môi giới chứng khoán…2 Tuy nhiên, hoạt động  
môi giới và nghề môi giới các dịch vụ thương mại xuất hiện khá muộn, ví dụ môi giới thuê  
tàu vào cuối thế kỷ 19 mới xuất hiện3.  
Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung  
gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên  
được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được  
hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.  
Pháp luật về hoạt động mꢀi giới thương mại là hệ thống các quy tắc xử sự chung  
do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã  
hội phát sinh khi bên mꢀi giới thương mại thực hiện các hoạt động để bên mua, bên bán  
tìm hiểu, gặp gỡ, kết nối giao dịch thương mại. Pháp luật về môi giới thương mại bao gồm  
các quy phạm được quy định trong nhiều văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau  
như Luật thương mại, Luật dân sự, Luật quốc tế, văn bản pháp luật về thương mại điện tử,  
Luật thuế, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật hành chính... trong đó chủ yếu là  
Luật Thương mại năm 2005 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.  
Pháp luật về hoạt động môi giới thương mại có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ  
xã hội phát sinh khi bên môi giới thực hiện các hoạt động giúp bên mua, bên bán tìm hiểu,  
gặp gỡ, kết nối giao dịch thương mại. Cụ thể, pháp luật về môi giới thương mại điện tử  
điều chỉnh quan hệ pháp luật sau:  
Thứ nhất, quan hệ giữa bên mꢀi giới thương mại và bên được mꢀi giới thương mại  
2
TS. Nguyễn Thị Vân Anh (2009), Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam, NXB Lao  
động – Xã hội.  
3
Hoàng Thị Tuyết (2001), Hoạt động mꢀi giới thuê tàu của Vietfrancht, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Ngoại  
thương, trang 7.  
135  
Bên môi giới là thương nhân đăng ký kinh doanh ngành nghề môi giới thương mại,  
thực hiện hoạt động môi giới thương mại một cách chuyên nghiệp, thường xuyên, liên tục.  
Công việc của bên môi giới là giới thiệu cho các bên cơ hội giao kết hợp đồng thương mại.  
Đó là những hoạt động nhằm chắp nối cho những giao dịch thương mại như tìm kiếm, cung  
cấp các thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới, tiến hành các hoạt động giới  
thiệu về hàng hóa, dịch vụ cần môi giới, thu xếp để các bên được môi giới tiếp xúc với  
nhau, giúp đỡ các bên soạn thảo hợp đồng khi họ yêu cầu. Sau đó các bên được môi giới  
trực tiếp giao kết hợp đồng với nhau.  
Bên được môi giới tham gia vào quan hệ pháp luật môi giới nhằm được tìm kiếm  
giúp đối tác phù hợp, trên cơ sở đó hai bên gặp gỡ, trao đổi, đàm phán, xác lập giao dịch  
thương mại.  
Trong quan hệ với bên được môi giới, bên môi giới nhân danh chính mình. Trong  
quan hệ với bên thứ ba, bên môi giới nhân danh chính mình. Nếu bên môi giới thay mặt  
cho bên được môi giới giao kết hợp đồng với bên thứ ba (trường hợp theo yêu cầu của bên  
được môi giới) thì họ sẽ trở thành bên đại diện chứ không còn là bên môi giới nữa.  
Hợp đồng môi giới thương mại là hợp đồng song vụ, quyền của bên này và nghĩa  
vụ tương ứng của bên kia.  
Nghĩa vụ cơ bản của thương nhân môi giới thương mại được quy định tại Điều 151  
Luật Thương mại năm 2005. Gồm nhóm nghĩa vụ: (1) Thực hiện trong phạm vi công việc  
của bên môi giới thương mại; (2) Bảo mật thông tin của bên được môi giới thương mại,  
người tiêu dùng; (3) Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới, nhưng  
không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ; (4) Chịu trách nhiệm hàng hoá,  
dịch vụ được môi giới không thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hàng giả,  
hàng nhái, hàng nhập lậu, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và các hàng hoá, dịch vụ vi  
phạm pháp luật khác khi phát hiện hoặc nhận được phản ánh có căn cứ xác thực về những  
thông tin này; (5) Chịu trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng  
hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.  
Nghĩa vụ của bên được môi giới thương mại truyền thống quy định tại Điều 152  
Luật Thương mại năm 2005 gồm: (1) Thanh toán thù lao môi giới và các chi phí hợp lý;  
(2) Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về hàng hoá, dịch vụ; (3) Tuân thủ quy định của  
pháp luật về thanh toán, quảng cáo, khuyến mại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền  
lợi người tiêu dùng, thuế…  
136  
Thứ hai, quan hệ giữa bên mꢀi giới, bên được mꢀi giới với cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền.  
Đây là quan hệ mang tính chất quản lý, điều hành xã hội trong quá trình Nhà nước  
thực hiện chức năng quản lý hoạt động môi giới thương mại.  
1.2. Hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực thương mại điều chỉnh quan hệ pháp  
luật về môi giới thương mại  
Các quan hệ pháp luật môi giới thương mại chịu sự điều chỉnh của hệ thống văn bản  
pháp luật trong lĩnh vực thương mại sau:  
- Luật thương mại năm 2005 điều chỉnh quan hệ pháp luật khuyến mại từ Điều 150  
đến Điều 154.  
- Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử (đã được sửa  
đổi, bổ sung bởi Nghị định số 85/2021/NĐ-CP) điều chỉnh website cung cấp dịch vụ thương  
mại điện tử gồm sàn giao dịch thương mại điện tử, website khuyến mại trực tuyến.  
- Nghị định số 09/2018/NĐ-CP ngày 15/1/2018 quy định chi tiết Luật Thương mại  
và Luật quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan  
trực tiếp đến mua bán hàng hoá của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư  
nước ngoài tại Việt Nam điều chỉnh cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn  
đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ trung gian thương mại (bao  
gồm môi giới thương mại) tại Điều 5.  
- Nghị định số 98/2020/ NĐ-CP ngày 10/9/2020 quy định về xử phạt vi phạm hành  
chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền  
lợi người tiêu dùng điều chỉnh hành vi vi phạm về môi giới mua bán hàng hoá qua sở giao  
dịch hàng hoá.  
Nhóm các quy định chủ yếu liên quan đến các vấn đề: Chủ thể tham gia quan hệ  
môi giới thương mại, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ môi giới thương mại,  
hợp đồng môi giới thương mại, giải quyết tranh chấp.  
2. Thực trạng quy định pháp luật thương mại điều chỉnh hoạt động môi giới thương  
mại  
2.1. Quy định về chủ thể của hoạt động môi giới thương mại  
137  
Bên môi giới thương mại là thương nhân, đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp  
với hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. Thương nhân nước ngoài có sự hiện diện tại Việt  
Nam thông qua hoạt động đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập website  
dưới tên miền Việt Nam. Với hoạt động môi giới mua bán hàng hoá nói chung, nhà đầu tư  
cần lựa chọn đăng ký mã ngành 4610. Với hoạt động môi giới dịch vụ nói chung, nhà đầu  
tư lựa chọn đăng ký mã ngành 7490. Trong trường hợp môi giới hàng hóa, dịch vụ kinh  
doanh có điều kiện thì bên môi giới thương mại có thể đăng ký mã ngành khác trong hệ  
thống ngành kinh tế Việt Nam, ngoài ra cần phải đáp ứng các điều kiện pháp luật chuyên  
ngành đặt ra. Ví dụ: ngành môi giới bảo hiểm (mã ngành 6622) yêu cầu doanh nghiệp đáp  
ứng đầy đủ quy định về điều kiện thành lập doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (theo quy định  
tại Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP, Nghị định số 151/2018/NĐ-  
CP); tổ chức, cá nhân môi giới bất động sản (mã ngành 6820) phải đáp ứng điều kiện theo  
quy định của Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản. Tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài  
tại Việt Nam khi cung ứng dịch vụ môi giới thương mại cần có giấy phép kinh doanh.  
Theo quy định về hoạt động môi giới thương mại nói chung tại Điều 150 đến Điều  
154 Luật Thương mại 2005, không có quy định bắt buộc bên được môi giới phải là thương  
nhân. Theo đó, có thể hiểu, bên được môi giới thương mại có thể là thương nhân, có thể  
không phải là thương nhân. Nhưng nếu căn cứ khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại 2005  
định nghĩa về các hoạt động trung gian thương mại (bao gồm môi giới thương mại) thì bên  
được môi giới cũng phải là thương nhân4. Nếu áp dụng khoản 11 Điều 3, có những bất hợp  
lý sau:  
Một là, bên được môi giới là chủ thể có nhu cầu sử dụng dịch vụ môi giới chứ không  
thực hiện dịch vụ này do đó không thể bắt buộc họ là thương nhân  
Hai là, nếu quan hệ môi giới thương mại bắt buộc hai bên chủ thể là thương nhân  
thì quan hệ môi giới giữa bên môi giới (thương nhân) – bên được môi giới (không phải là  
thương nhân) sẽ không phải là hoạt động môi giới thương mại. Trong trường hợp này, kể  
cả khi bên được môi giới (không phải là thương nhân) thực hiện quyền lựa chọn luật áp  
dụng theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 20055 thì xảy ra tình trạng không tìm ra  
quy phạm pháp luật nào điều chỉnh mối quan hệ pháp luật trên. Lý do: quy phạm pháp luật  
4 Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một  
hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác  
mua bán hàng hoá và đại lý thương mại. (khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005)  
5
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh: 3. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương  
nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động  
không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.  
138  
về môi giới thương mại chỉ áp dụng với đối tượng điều chỉnh là các thương nhân với nhau,  
không áp dụng với đối tượng điều chỉnh là thương nhân – chủ thể không phải là thương  
nhân  
Ba là, tại điều 157 Luật Thương mại 2005 quy định bên uỷ thác mua bán hàng hoá  
không bắt buộc phải là thương nhân (mà hoạt động uỷ thác mua bán hàng hoá là một trong  
các hoạt động trung gian thương mại). Điều đó cho thấy, tính khái quát chung luôn đúng  
trong khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại 2005 cần được xem xét lại. PGS.TS Nguyễn Thị  
Vân Anh cũng đã có lý giải thuyết phục cho quan điểm bên được môi giới không bắt buộc  
là thương nhân tại công trình tại cuốn sách “Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian  
thương mại ở Việt Nam”6.  
2.2. Quy định về bản chất pháp lý giao dịch giữa bên được môi giới với bên thứ ba  
Hiện nay theo quy định của pháp luật, giao dịch giữa bên được môi giới với bên thứ  
ba phải là giao dịch thương mại. Căn cứ theo quy định tại Điều 150 Luật Thương mại7 thì  
các bên được môi giới thương mại cần xác lập quan hệ pháp luật thương mại. Nếu một  
thương nhân kết nối cho tổ chức, cá nhân xác lập giao dịch dân sự (mua bán tài sản, cho  
thuê tài sản) thì đây không phải là hoạt động môi giới thương mại. Lý do: các bên được  
môi giới tiến hành hoạt động dân sự chứ không phải là hoạt động thương mại. Theo đó,  
đây là hoạt động môi giới trong dân sự, chỉ được điều chỉnh bởi Luật dân sự. Trong khi  
chủ thể môi giới thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận, mang tính nghề nghiệp, thường xuyên.  
Có lẽ không nên đặt ra điều kiện giao dịch giữa bên bán được môi giới – bên mua được  
môi giới phải là giao dịch thương mại (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại).  
Đó có thể là giao dịch mua bán nói chung (hàng hoá, tài sản), cung ứng dịch vụ nói chung.  
2.3. Quy định về hoạt động môi giới thương mại trên phương tiện điện tử (gọi tắt là  
môi giới thương mại điện tử)  
2.3.1. Khái quát về hoạt động mꢀi giới thương mại điện tử  
6
TS. Nguyễn Thị Vân Anh (2009), Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam, NXB Lao  
động – xã hội, trang 131, 132  
7 Điều 150 Luật Thương mại năm 2005: Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm  
trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong  
việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.  
139  
Môi giới thương mại điện tử là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân  
thông qua nền tảng số mình sở hữu làm trung gian (gọi là bên môi giới thương mại điện  
tử) cho các bên được môi giới trong việc mua bán hàng hóa, tài sản, cung ứng dịch vụ, để  
hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới thương mại điện tử. Các bên môi giới và bên được  
môi giới thương mại điện tử không có mặt đồng thời khi dịch vụ môi giới được cung cấp.  
Quá trình gửi, nhận, xử lý và lưu truyền dữ liệu hoàn toàn bằng các phương tiện điện tử  
được cung cấp trên từng yêu cầu cá nhân. Trong đó, bên môi giới thương mại điện tử không  
đóng vai trò quyết định chi phối tới việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ  
mua bán hàng hóa, tài sản, cung ứng dịch vụ giữa các bên được môi giới8.  
Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử (đã được sửa  
đổi, bổ sung bởi Nghị định số 85/2021/NĐ-CP) đang điều chỉnh một số hình thức cụ thể  
của hoạt động môi giới thương mại điện tử, đó là: sàn giao dịch thương mại điện tử, website  
đấu giá trực tuyến. Mô hình sàn giao dịch thương mại điện tử hoạt động như sau: người  
môi giới thiết lập một website hay ứng dụng phần mềm thuộc sở hữu của mình. Nó đóng  
vai trò giống như “chợ ảo”. Các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành một phần  
hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên website thương mại của bên môi  
giới. Mô hình website đấu giá trực tuyến hoạt động như sau: người mua và người bán tham  
gia trên một cửa hàng ảo và được quyền đưa ra giá do mình tạo ra. Thương nhân, tổ chức,  
cá nhân có thể tổ chức đấu giá cho sản phẩm của mình ở trên đó. Ebay (www.ebay.com)  
là ví dụ điển hình cho mô hình này. Tuy nhiên, khi tham gia mô hình đấu giá trực tuyến,  
thời gian khách hàng muốn có được sản phẩm sẽ lâu hơn so với mua hàng trên sàn giao  
dịch thương mại điện tử với mức giá nhất định. Ngoài ra còn mô hình đấu giá ngược  
(Reverse Auction Mode), người mua chào giá theo ý muốn của mình, các nhà cung cấp sẽ  
căn cứ vào đó để quyết định bán giá sản phẩm theo mức giá mà người mua đề nghị hay  
không. PriceLine (www.priceline.com) hoạt động theo mô hình này.  
2.3.2. Hoạt động mꢀi giới thương mại điện tử và hoạt động mꢀi giới thương mại truyền  
thống có những sự khác nhau nhất định. Cụ thể:  
Thứ nhất, về quan hệ pháp luật hình thành giữa bên mꢀi giới với các bên  
Trong hoạt động môi giới thương mại truyền thống, bên môi giới luôn hình thành  
quan hệ pháp luật môi giới thương mại với bên được môi giới (bên mua, bên bán). Bên môi  
8 Định nghĩa này được tác giả xây dựng trên cơ sở tham khảo Đoạn 41 Bản án của ECJ ngày 20/12/2017 tại địa chỉ  
&mode=req&dir=&occ=first&part=1&cid=61830#ctx1 truy cập ngày 1/5/2018 và Điều 35 nghị định số 10/2020/NĐ-  
CP ngày 17/01/2020 quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô  
140  
giới và bên thứ ba (bên bán, bên mua là đối tác của bên được môi giới) không phải lúc nào  
cũng hình thành quan hệ pháp luật môi giới. Trong hoạt động môi giới thương mại điện tử,  
bên môi giới thương mại điện tử luôn hình thành quan hệ pháp luật môi giới thương mại  
điện tử với cả bên mua và bên bán. Từ điểm khác biệt này dẫn đến sự khác biệt trong nhóm  
quy phạm pháp luật về nghĩa vụ, trách nhiệm của bên môi giới thương mại điện tử với các  
bên so với bên môi giới thương mại truyền thống.  
Trong hoạt động môi giới thương mại điện tử, bên môi giới vận hành theo mục tiêu  
tận dụng hiệu suất kinh doanh tối đa liên tục, từ đó cắt giảm được chi phí cho bên mua và  
tăng thu nhập cho bên bán. Hơn nữa, nền tảng công nghệ thông tin hiện đại cho phép bên  
môi giới cùng một lúc có thể tiến hành môi giới được cho số lượng rất lớn các giao dịch và  
trên phạm vi toàn cầu. Tất yếu, bên môi giới thương mại điện tử chiếm vị trí ưu thế hơn so  
với bên được môi giới trong quan hệ song phương này. Đây là điểm khác biệt với hoạt  
động môi giới thương mại truyền thống. Trong hoạt động môi giới thương mại truyền  
thống, có trường hợp bên môi giới chiếm ưu thế, có trường hợp bên được môi giới chiếm  
ưu thế, có trường hợp vị trí của hai bên là tương đương nhau.  
Thứ hai, về hình thức giao dịch  
Hoạt động môi giới thương mại truyền thống có thể tiến hành dưới hình thức lời  
nói, văn bản, hành vi. Các bên có thể gặp gỡ trực tiếp nhau hoặc gián tiếp trong quá trình  
giao kết, thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc thanh toán thù lao theo thỏa thuận của các bên,  
có thể căn cứ vào kết quả công việc hoặc không. Trong hoạt động môi giới thương mại  
điện tử, giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng internet, viễn  
thông di động hoặc các mạng mở khác. Bên được môi giới và bên môi giới không gặp gỡ  
nhau, không có mặt đồng thời khi dịch vụ môi giới được cung cấp. Hình thức hợp đồng  
môi giới thương mại điện tử có giá trị pháp lý tương đương văn bản. Thường bên môi giới  
sẽ tính phí đối với mỗi giao dịch mua bán thành công, đối với bên bán hàng trong giao  
dịch. Điều đặc biệt lưu ý, trong hoạt động môi giới thương mại điện tử, nền tảng công nghệ  
đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong mọi khâu của dịch vụ, từ khâu môi giới đến  
các hoạt động bổ trợ cho việc thực hiện công việc.Thậm chí có thể coi, nền tảng công nghệ  
đóng vai trò quan trọng thứ tư trong hoạt động môi giới thương mại điện tử, bên cạnh vai  
trò của bên bán hàng, bên môi giới và bên mua hàng.  
Thứ ba, về điều kiện để thực hiện hoạt động mꢀi giới  
Nhìn chung, khi cung cấp dịch vụ môi giới thương mại truyền thống, bên môi giới  
không cần đáp ứng quá nhiều điều kiện, trừ khi môi giới trong một số lĩnh vực kinh doanh  
141  
có điều kiện ví dụ như bảo hiểm, bất động sản. Trong khi đó, bên môi giới trong hoạt động  
môi giới thương mại điện tử tối thiểu cần đáp ứng để có thể tiến hành hoạt động thương  
mại điện tử. Ngoài ra, do đặc thù của hình thức giao dịch, nhu cầu thực tiễn, một số loại  
môi giới thương mại điện tử chỉ thành công khi đáp ứng những điều kiện giao dịch nhất  
định. Ví dụ: hoạt động mua hàng theo nhóm cần đáp ứng điều kiện về số lượng người tham  
gia và thời hạn; hoạt động đấu giá trực tuyến đáp ứng điều kiện về giá đưa ra và thời hạn  
phiên đấu giá.  
Thứ tư, về tính tích hợp  
Nhìn chung, hoạt động môi giới thương mại có tính chất tương đối đơn giản. Đó là  
hoạt động trung gian thương mại, hỗ trợ cho bên mua và bên bán giao kết hợp đồng mua  
bán hàng hóa, dịch vụ. Bên môi giới có thể tiến hành các công việc ngoài phạm vi môi giới,  
nhưng lúc đó, bản chất quan hệ giữa bên môi giới và bên được môi giới đã chuyển sang  
một quan hệ khác như ủy quyền, đại diện cho thương nhân, ủy thác mua bán hàng hóa…  
Điều này phụ thuộc vào nhu cầu và sự thỏa thuận của các bên trong từng trường hợp cụ  
thể. Trong hoạt động môi giới thương mại truyền thống, ranh giới lãnh thổ được xác định  
tương đối rõ ràng. Lợi thế thương mại điện tử giúp cho các hoạt động môi giới thương mại  
điện tử tăng khả năng kết nối giữa bên mua và bên bán một cách toàn cầu, đối lập hẳn với  
hoạt động thương mại truyền thống nơi mà các nhà môi giới bị giới hạn trong một khu vực  
nhất định, trong thị trường mang tính địa phương, cục bộ.  
Do đặc thù của hình thức giao dịch, thực tiễn phát triển, cơ sở hạ tầng công nghệ  
thông tin, hoạt động môi giới thương mại điện tử có sự phức hợp nhất định. Thường các  
bên môi giới thương mại điện tử hiếm khi chỉ làm mỗi nhiệm vụ đơn lẻ là kết nối bên mua  
và bên bán với nhau, để các bên tự mình giao kết và thực hiện hợp đồng. Bên môi giới còn  
tiến hành thêm các hoạt động hỗ trợ khác như vận kho, vận chuyển, hỗ trợ thanh toán, quản  
lý đơn hàng…. Hoạt động môi giới thương mại điện tử có tính xuyên biên giới, ranh giới  
lãnh thổ dường như bị xóa mờ. Việc xác định và nhận diện tính độc lập của bên môi giới  
để loại trừ yếu tố “vai trò quyết định chi phối” đối với bên được môi giới không hề đơn  
giản. Để có thể nhận diện được tính độc lập này, nhiều vấn đề, khía cạnh cần được xem xét  
đồng thời và toàn diện.  
2.3.3. Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật với hoạt động mꢀi giới thương mại truyền thống  
và mꢀi giới thương mại điện tử có sự khác biệt  
Nền tảng công nghệ mới cùng mô hình kinh tế chia sẻ khiến các khuôn khổ pháp lý  
cũ trở nên “chật hẹp” và các cơ quan quản lý nhà nước trở nên lúng túng như tranh luận về  
142  
việc nhận diện đấy có phải là hoạt động môi giới thương mại điện tử hay không, tranh luận  
về cách thu thuế, tranh luận về thuế suất… Pháp luật đã có những quy định liên quan về  
hoạt động môi giới thương mại điện tử trong Luật Thương mại 2005 và Nghị định  
52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2003 về thương mại điện tử, sửa đổi bổ sung bởi nghị định số  
08/2018/NĐ-CP và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP. Các vấn đề liên quan đến hoạt động môi  
giới thương mại điện tử được điều chỉnh trong văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Trong  
đó, nghị định về thương mại điện tử chủ yếu tập trung điều chỉnh liên quan đến phương  
tiện thực hiện hoạt động thương mại – phương tiện điện tử có kết nối mạng internet, mạng  
viễn thông di động, mạng mở khác.  
Tuy nhiên phạm vi điều chỉnh về hoạt động dịch vụ thương mại điện tử tại Nghị  
định số 52/2013/NĐ-CP và hoạt động môi giới thương mại tại Luật Thương mại 2005 có  
những điểm bị “vênh nhau” và tạo ra những khoảng trống pháp lý. Ví dụ: nhận diện hoạt  
động môi giới thương mại điện tử; quản lý hoạt động môi giới thương mại điện tử có yếu  
tố nước ngoài, quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ  
môi giới thương mại điện tử tại Việt Nam, nghĩa vụ đặc trưng của bên môi giới thương mại  
điện tử, cụ thể:  
Thứ nhất, do tính chất xuyên biên giới của hoạt động mꢀi giới thương mại điện tử,  
cơ quan quản lý nhà nước gặp khó khăn trong việc quản lý: (i) chủ thể môi giới thương  
mại là thương nhân nước ngoài không hiện diện thương mại tại Việt Nam; (ii) hoạt động  
đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi giới thương mại điện tử tại  
Việt Nam; (iii) bên được môi giới có quốc tịch hoặc trụ sở chính ở nước ngoài; (iv) thanh  
toán trực tuyến xuyên biên giới; (iv) cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR).  
Thứ hai, có những sự thay đổi trong việc xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật  
cho thấy bên mꢀi giới thương mại điện tử có phạm vi mꢀi giới rộng hơn so với bên mꢀi  
giới thương mại truyền thống. Cụ thể, bên mꢀi giới thương mại điện tử có nghĩa vụ thay  
mặt cho bên được mꢀi giới thương mại điện tử trong một số trường hợp. Bên mꢀi giới  
thương mại truyền thống khꢀng có nghĩa vụ này trong phạm vi mꢀi giới của mình.  
Nghị định số 85/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số  
52/2013/NĐ-CP cho thấy tư duy pháp lý đổi mới của đơn vị chủ trì về phạm vi của hoạt  
động môi giới thương mại. Theo đó chủ thể cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại  
điện tử bán lẻ có tích hợp chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến có nghĩa vụ: b) Đại  
diện cho người bán nước ngoài trên sàn giao dịch thương mại điện tử giải quyết các khiếu  
nại của người tiêu dùng liên quan đến hàng hoá, dịch vụ do thương nhân nước ngoài cung  
143  
cấp và có trách nhiệm thꢀng báo nghĩa vụ thuế của người bán nước ngoài khi tham gia  
sàn giao dịch thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam; c) Là đầu mối  
tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của người tiêu dùng trong trường hợp một giao dịch  
thực hiện trên sàn giao dịch thương mại điện tử có nhiều hơn 02 bên tham gia; đ) Liên đới  
bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 8, khoản 9 Điều  
36 mà gây thiệt hại9. Đây là quy định mới so với quy định của Luật Thương mại về môi  
giới thương mại truyền thống. Theo Luật Thương mại, chủ thể môi giới không tham gia  
vào quan hệ pháp luật hình thành giữa bên được môi giới và bên thứ ba. Tuy nhiên, theo  
quy định pháp luật về môi giới thương mại điện tử (Nghị định số 85/2021/NĐ-CP), bên  
môi giới có tham gia vào quan hệ pháp luật giữa bên được môi giới và bên thứ ba trong  
một số khâu như: đại diện thương nhân nước ngoài giải quyết khiếu nại của người tiêu  
dùng; đại diện thương nhân nước ngoài khai, khấu trừ, nộp thuế nhà thầu; có thể liên đới  
chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch vụ được môi giới. Như vậy, có thể thấy,  
pháp luật đang sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi vốn có của hoạt động môi  
giới truyền thống. Bên môi giới thương mại điện tử nhân danh bên được môi giới thương  
mại điện tử tham gia thực hiện quan hệ pháp luật giữa bên được môi giới thương mại điện  
tử và bên thứ ba.  
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 1/6/2021 Hướng dẫn  
thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân  
kinh doanh. Theo đó, điểm đ khoản 1 Điều 8 Thông tư quy định: “Tổ chức là chủ sở hữu  
sàn giao dịch thương mại điện tử thực hiện việc khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân  
theo lộ trình của cơ quan thuế. Trong thời gian chưa thực hiện được việc khai thuế thay,  
nộp thuế thay cho cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử phải  
có trách nhiệm cung cấp các thꢀng tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của cá nhân  
thꢀng qua sàn theo yêu cầu của cơ quan thuế theo quy định của pháp luật như: họ tên; số  
định danh cá nhân hoặc chứng minh nhân dân hoặc căn cước cꢀng dân hoặc hộ chiếu; mã  
số thuế; địa chỉ; email; số điện thoại liên lạc; hàng hóa, dịch vụ cung cấp; doanh thu kinh  
doanh; tài khoản ngân hàng của người bán; thꢀng tin khác liên quan”. Như vậy, bên môi  
giới thương mại điện tử được liệt kê là một trong số những chủ thể thực hiện việc kê khai  
nộp thuế thay cho cá nhân kinh doanh trên sàn của mình. Cách tiếp cận việc kê khai thuế  
thay và nộp thuế thay đã áp dụng đối với taxi công nghệ sau khi nghị định số 126/2020/NĐ-  
CP có hiệu lực. Cơ sở lý giải cho quy định này là chủ sở hữu ứng dụng taxi công nghệ là  
9 Điểm b, khoản 16 Điều 1 Nghị định số 85/2021/NĐ-CP.  
144  
bên quản lý giá, kiểm soát hoạt động kinh doanh và nắm doanh thu trước khi trả “tiền cước”  
về cho tài xế. Cung cấp thông tin khi cơ quan thuế yêu cầu là một trong những nghĩa vụ  
đương nhiên của bên môi giới thương mại điện tử. Tuy nhiên, nghĩa vụ kê khai thuế thay,  
nộp thuế thay được quy định trong Thông tư trên là nghĩa vụ rất mới, có thể coi là đặc thù  
của bên môi giới thương mại điện tử. Đây là nghĩa vụ không bao giờ có của bên môi giới  
thương mại truyền thống. Bên cạnh đó, theo tác giả có vấn đề cần làm rõ chính là: (1) Nếu  
đây là nghĩa vụ của bên môi giới thương mại điện tử, cần đưa ra sự lý giải thuyết phục bằng  
cách xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của hoạt động môi giới thương mại điện tử,  
qua đó thừa nhận phạm vi công việc cũng như nghĩa vụ đặc trưng của bên môi giới thương  
mại điện tử; (2) Nếu chỉ dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của hoạt động môi giới  
thương mại truyền thống, hoạt động thương mại điện tử thì phải thừa nhận rằng việc kê  
khai thuế thay, nộp thuế thay của các chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử chỉ là  
trách nhiệm thu hộ nhà nước, chứ không phải nghĩa vụ của họ trong quan hệ pháp luật cung  
ứng dịch vụ thương mại điện tử. Như vậy họ cần được hưởng lợi ích theo thỏa thuận cho  
việc đó.  
Với phương tiện thực hiện và cách thức thực hiện mang tính đặc trưng, nội dung  
của quan hệ pháp luật về môi giới thương mại điện tử cũng cần có những quy định mang  
tính đặc thù, khác với các quy định chung trong hoạt động môi giới thương mại truyền  
thống.  
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Luật Thương mại năm 2005 về hoạt động  
môi giới thương mại  
Thứ nhất, xem xét cân nhắc việc sửa nội dung quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật  
Thương mại năm 2005 để thống nhất rằng chủ thể được mꢀi giới khꢀng bắt buộc là thương  
nhân.  
Có như vậy, mới tạo ra sự phù hợp về đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh,  
phương pháp điều chỉnh, nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật môi giới thương mại nói  
chung và pháp luật môi giới thương mại điện tử nói riêng.  
Thứ hai, cần xem xét lại quy định về điều kiện giao dịch giữa bên được mꢀi giới và  
bên thứ ba.  
Hiện nay theo quy định của pháp luật, giao dịch giữa bên được môi giới với bên thứ  
ba phải là giao dịch thương mại (Điều 150 Luật Thương mại). Như thế, trường hợp chủ thể  
thương nhân môi giới cho chủ thể không phải là thương nhân chỉ được điều chỉnh bởi Luật  
145  
dân sự, Luật chuyên ngành mà chưa được nhìn nhận là hoạt động môi giới thương mại.  
Trong khi chủ thể môi giới thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận, mang tính nghề nghiệp,  
thường xuyên. Tác giả kiến nghị không nên đặt ra điều kiện giao dịch giữa bên bán được  
môi giới – bên mua được môi giới phải là giao dịch thương mại (mua bán hàng hoá, cung  
ứng dịch vụ thương mại). Nó có thể là giao dịch mua bán nói chung (hàng hoá, tài sản),  
cung ứng dịch vụ nói chung.  
Thứ ba, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn một trong hai giải  
pháp: quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ mꢀi giới thương mại điện tử được bổ sung  
trong Luật Thương mại năm 2005 hoặc ban hành văn bản Luật riêng điều chỉnh quan hệ  
pháp luật mꢀi giới thương mại điện tử.  
Trong Luật thương mại năm 2005, nguyên tắc điều chỉnh cốt lõi là bên môi giới  
thương mại độc lập và nhân danh chính mình trong giao dịch với bên được môi giới và bên  
thứ ba. Tuy nhiên, hiện nay Nghị định số 52/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định số  
85/2021/NĐ-CP) và Thông tư số 40/2021/TT-BTC là những văn bản dưới luật, đang điều  
chỉnh theo nguyên tắc bên môi giới thương mại điện tử nhân danh bên được môi giới  
thương mại điện tử trong giao dịch với bên thứ ba, trong giao dịch với cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền, trong những trường hợp cụ thể. Như vậy, văn bản dưới luật và Luật thương  
mại năm 2005 có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Theo khoản 2 Điều 156 Luật  
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy  
định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn, tức là Luật  
Thương mại năm 2005. Như vậy, quy phạm pháp luật đặc thù điều chỉnh về quan hệ môi  
giới thương mại điện tử chắc chắn sẽ phải được xây dựng và ban hành. Vấn đề nằm ở sự  
lựa chọn phương án của chủ thể có thẩm quyền liên quan để xác định nhóm quy phạm pháp  
luật môi giới thương mại điện tử được bổ sung trong Luật Thương mại hay Luật Thương  
mại điện tử.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. TS. Nguyễn Thị Vân Anh (2009), Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương  
mại ở Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội.  
2. Hoàng Thị Tuyết (2001), Hoạt động mꢀi giới thuê tàu của Vietfrancht, Luận văn thạc  
sĩ, Trường đại học Ngoại thương, trang 7.  
146  
pdf 14 trang Thùy Anh 10520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng quy định luật thương mại năm 2005 điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_quy_dinh_luat_thuong_mai_nam_2005_dieu_chinh_hoat.pdf