Chính sách của Mỹ đối với Cuba dưới thời tổng thống Dwight Eisenhower (1959-1961)

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Đức Quân và tgk  
CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUBA  
DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG DWIGHT EISENHOWER (1959-1961)  
POLICIES OF UNITED STATES TOWARDS CUBA  
UNDER PRESIDENT DWIGHT EISENHOWER (1959-1961)  
NGUYỄN ĐỨC QUÂN và ĐÀO THỊ MỘNG NGỌC  
TÓM TẮT: Sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939-1945) kết thúc, quan hệ quốc tế bị chi  
phối bởi cục diện Chiến tranh Lạnh giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô. Chính sách của Mỹ đối với  
Cuba dưới thời tổng thống D. Eishenhower (1959-1961) cũng chịu tác động bởi cục diện đó. Chính  
quyền Eishenhower đã thực thi một số chính sách mới đối với Cuba, nổi bật trong đó là cắt đứt  
quan hệ ngoại giao và áp dụng lệnh cấm vận từng phần.  
Từ khóa: Mỹ, Cuba; D. Eishenhower; Fidel Castro; cấm vận.  
ABSTRACT: After World War II (1939-1945), international relations were influenced by the Cold  
War situation between the United States and the Soviet Union. The policies of United States  
towards Cuba under President D. Eishenhower (1959-1961) was also affected by that situation.  
Eishenhower’s government has implemented some new policies on Cuba, which was featured in  
severing diplomatic relations and applying partial embargo.  
Key words: United States; Cuba; D. Eisenhower; Fidel Castro; embargo.  
thuộc Đảng Cộng hòa hay Dân chủ) nhằm thích  
ứng với sự thay đổi của bản thân nước Mỹ và  
tương quan lực lượng trên thế giới trong các  
thời kỳ khác nhau.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai  
(1939-1945) kết thúc, thế giới bước vào thời kỳ  
Chiến tranh Lạnh giữa hai siêu cường Mỹ và  
Liên Xô. Từ liên minh chống phát xít, sự đối  
lập về mục tiêu và chiến lược đã đưa hai cường  
quốc vào thế đối đầu, kéo theo là cục diện hai  
cực, hai phe: phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô  
đứng đầu và phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng  
đầu. Chính sách của Mỹ đối với Cuba dưới thời  
tổng thống D. Eishenhower (1959-1961) cũng  
nằm trong cục diện đó.  
Về phía Cuba, tháng 01-1959, Cách mạng  
Cuba thành công. Cuba trở thành nước xã hội  
chủ nghĩa đầu tiên ở Tây bán cầu. Sự kiện này  
trở thành một thách thức trực tiếp đối với vị trí  
của Mỹ tại khu vực. Sau khi giành được thắng  
lợi, Cuba đã nhanh chóng thiết lập mối quan hệ  
kinh tế và quân sự đối với Liên Xô. Cuba còn  
tham gia hỗ trợ tích cực cho phong trào giải  
phóng dân tộc ở Mỹ Latinh. Sự thành công của  
nhà nước Cuba độc lập theo mô hình chủ nghĩa  
xã hội được nhận định là có ảnh hưởng trực  
tiếp đến quyền lợi của Mỹ ở Mỹ Latinh.  
Về phía Mỹ, bằng sức mạnh kinh tế và  
quân sự, Mỹ đã triển khai chiến lược toàn cầu  
với tham vọng chi phối và lãnh đạo thế giới.  
Chiến lược toàn cầu ngăn chặn Liên Xô và phe  
xã hội chủ nghĩa là chiến lược nhất quán và  
được điều chỉnh qua các đời tổng thống Mỹ (dù  
Trước những vấn đề trên, chính quyền  
Eishenhower đã thực thi một số chính sách mới  
 ThS. Trường Đại học Văn Lang, [email protected]  
 ThS. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, ngocdtm@hcmue.edu.vn, Mã số: TCKH22-18-2020  
59  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 22, Tháng 7 - 2020  
đối với Cuba. Điểm nổi bật trong chính sách  
của Mỹ đối với Cuba dưới thời tổng thống  
Eishenhower là Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao  
và áp dụng lệnh cấm vận từng phần (lệnh cấm  
vận toàn phần chính thức có hiệu lực từ năm  
1962, dưới thời tổng thống John F. Kenedy).  
2. NỘI DUNG  
chiến lược đánh đòn phủ đầu bất ngờ vào đối  
phương, hạn chế thấp nhất khả năng đánh trả  
đối phương, giành thắng lợi quyết định trong  
những ngày đầu của chiến tranh; Cuộc chiến  
tranh không chỉ nhằm vào các nước xã hội chủ  
nghĩa mà có thể ở bất cứ nơi nào Mỹ thấy cần  
thiết” [3, tr.24]. Tổng thống D. Eisenhower  
khẳng định, Mỹ có quyền “giúp đỡ bất cứ nước  
nào bị “cộng sản đe dọa” [5, tr.961].  
2.1. Chiến lược “trả đũa ồ ạt” của chính  
quyền D. Eishenhower (1953–1961)  
Dwight Eisenhower chính thức trở thành  
tổng thống thứ ba mươi bốn của Mỹ với hai  
nhiệm kỳ 1953–1961. Trong thời kỳ cầm quyền  
của tổng thống D. Eishenhower, tình hình quốc  
tế và tương quan so sánh lực lượng trên thế giới  
có nhiều thay đổi. Liên Xô đã phá vỡ thế độc  
quyền của Mỹ về vũ khí nguyên tử. Phong trào  
giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển  
mạnh. Nhật Bản và Tây Âu khôi phục và phát  
triển mạnh mẽ sau chiến tranh, rút ngắn khoảng  
cách với Mỹ. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1953–  
1954 và 1957–1958 trong chính nước Mỹ càng  
làm cho tình hình nước Mỹ khó khăn thêm. Vì  
vậy, để chiếm ưu thế, đe dọa và thúc ép, buộc  
Liên Xô phải lùi bước trước sức mạnh của  
mình, Tổng thống D. Eisenhower đã điều chỉnh  
chiến lược “ngăn chặn”, đẩy mạnh cuộc Chiến  
tranh Lạnh lên một mức cao hơn với các biện  
pháp quyết liệt hơn. Chiến lược toàn cầu mới  
của Tổng thống D. Eisenhower bao gồm chiến  
lược quân sự “trả đũa ồ ạt” và chính sách ngoại  
giao “bên miệng hố chiến tranh”.  
Về ngoại giao: chính sách “bên miệng hố  
chiến tranh” được Mỹ thực hiện thông qua  
nhiều biện pháp khác nhau. Mỹ dùng vũ khí  
nguyên tử đe dọa, buộc đối phương lùi bước;  
thúc ép các nước đồng minh tham gia cuộc  
chạy đua vũ trang, thành lập các liên minh quân  
sự, xây dựng hệ thống căn cứ quân sự; Mỹ tìm  
cách lôi kéo Liên Xô vào cuộc chạy đua vũ  
trang tốn kém. Ngoài ra, Mỹ cũng tiến hành  
“thanh lọc” Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó có  
những chuyên gia về Trung Quốc, “vì việc để  
tuột mất Trung Quốc vào tay những người cộng  
sản năm 1949, sa thải 400 người khác vì coi họ  
là những người đã đe dọa nền an ninh quốc gia  
và cấm lưu hành những cuốn sách có nội dung  
tuyên truyền cho Chủ nghĩa Cộng sản của thư  
viện Mỹ đặt ở nước ngoài” [5, tr.957].  
Chính sách của Mỹ đối với Cuba thời kỳ này  
cũng nằm trong phạm vi điều chỉnh chiến lược  
toàn cầu mới của tổng thống D. Eisenhower.  
2.2. Chính sách về chính trị – ngoại giao và  
kinh tế của Mỹ đối với Cuba dưới thời tổng  
thống D. Eisenhower (1959-1961)  
Về quân sự: Eisenhower cho rằng, Mỹ cần  
“phát triển lực lượng quân sự đủ mạnh để có  
thể thay đổi được những lực lượng khiêu khích  
đi xâm lược nước ngoài đồng thời đẩy mạnh  
những điều kiện hòa bình” [5, tr.956]. Để  
đương đầu với những thách thức từ Liên Xô và  
Trung Quốc, Mỹ đã tạo ra những Hiệp định về  
quốc phòng chung như Tổ chức Hiệp ước Đông  
Nam Á (1954), Tổ chức Hiệp ước Trung Đông  
(1959). Mỹ cũng đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật,  
sản xuất vũ khí chiến lược và giảm bớt số quân  
và vũ khí thông thường, “dùng vũ khí hạt nhân  
2.2.1. Về chính trị - ngoại giao  
Trong thời gian Cách mạng Cuba diễn ra,  
chính quyền của Tổng thống Eisenhower đã hỗ  
trợ cho nhà độc tài Fulgencio Batista nhưng  
cũng nhận ra rằng, chế độ độc tài Batista khó  
có thể tiếp tục tồn tại. Cuối năm 1958, khi các  
lực lượng vũ trang Batista bị sụp đổ, Mỹ đã có  
kế hoạch cho quá trình chuyển đổi, thay thế  
Batista bằng các sĩ quan quân đội sẵn sàng tiếp  
tục cuộc chiến chống lại lực lượng của Fidel  
Castro, nhưng không thành công. Cách mạng  
60  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Đức Quân và tgk  
Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro đã  
thắng lợi vào ngày 01-01-1959.  
nhạy cảm không kém với những hành động sai  
trái của họ. Bonsal “hy vọng họ có thể duy trì  
mối quan hệ thân mật thẳng thắn... ngay cả về  
những vấn đề có thể xảy ra bất đồng” [6, tr.13].  
Tại cuộc họp báo vào ngày hôm sau, Fidel  
Castro đã mô tả cuộc gặp này là “một cuộc trò  
chuyện thân mật”. Ông nhận xét đại sứ Bonsal  
là “Một đại sứ tốt”. Tuy nhiên, bất chấp cuộc  
gặp gỡ đầu tiên đầy hứa hẹn này, Bonsal thấy  
khó khăn trong việc sắp xếp các cuộc họp tiếp  
theo với nhà lãnh đạo tối cao của Cuba. Sau  
này, Fidel cho rằng ông cố tình tránh Bonsal, vì  
“Những lời tuyên bố của quý ông này đơn giản  
là không thể chịu đựng được”. Như vậy, thông  
điệp của Fidel đã rất rõ ràng, rằng “Đại sứ Mỹ  
không còn nữa, không như cựu đại sứ tại Cuba  
Earl E.T.Smith từng nói, đại sứ là người quan  
trọng thứ hai ở Cuba; đôi khi còn quan trọng  
hơn cả tổng thống” [6, tr.13].  
Sau khi Cách mạng Cuba thành công, Bộ  
trưởng ngoại giao Mỹ Allen Dulles thông báo  
với Eisenhower rằng, “Chính phủ lâm thời (ở  
Cuba) có vẻ không bị dính líu về sự lan truyền  
của Cộng sản và có những dấu hiệu cho thấy,  
họ có ý định theo đuổi một mối quan hệ hữu  
nghị với nước Mỹ” [1, tr.264]. Vì vậy, bề ngoài  
Mỹ vẫn tỏ ra thân thiện với chính quyền cách  
mạng. Mỹ là nước thứ hai trên thế giới sau  
Venezuela công nhận chính phủ cách mạng.  
Đại sứ Mỹ đã đến Cuba và có cuộc gặp thân  
mật với Fidel Castro. Đại sứ Philip W. Bonsal  
đến Cuba vào ngày 19-2-1959. Nhiệm vụ của  
ông là xây dựng mối quan hệ thân thiện với  
chính quyền cách mạng mới của Cuba, giữ các  
kênh đàm phán sao cho có thể đấu tranh chống  
lại những trở ngại ở Mỹ cũng như Cuba. Mối  
quan hệ giữa Cuba và Mỹ được hy vọng  
chuyển sang giai đoạn mới, bình đẳng hơn.  
Vào tháng 4-1959, văn phòng Mỹ Latinh  
của Bộ Ngoại giao Mỹ đã tổ chức một hội nghị  
của người đứng đầu vùng Caribbean tại San  
Salvador để thông báo ngắn gọn quan điểm của  
Mỹ về chính sách của Cuba. Bonsal lập luận  
rằng, Fidel đưa ra các chính sách theo chủ  
nghĩa dân tộc và có phần xã hội và trung lập,  
nhưng tuy nhiên, quỹ đạo của chế độ là dễ uốn  
nắn. Bonsal nói với các cộng sự của mình rằng  
Cuba cần một cuộc cách mạng, và Fidel cũng  
có giá trị nhất định.  
Tháng 3-1959, tức chỉ hai tháng sau khi  
Cách mạng Cuba thành công, Hội đồng An  
ninh Quốc gia (NSC) trong chính quyền  
Eisenhower đã thông qua kế hoạch “đưa một  
chính phủ khác lên nắm quyền ở Cuba” [2,  
tr.61]. Tuy nhiên, kế hoạch này chưa được Mỹ  
thực hiện. Trong lúc Fidel chuẩn bị đi Mỹ  
(tháng 4-1959), quan hệ giữa hai bên đã căng  
thẳng. Chiến dịch chống Cuba đã bắt đầu trong  
chính phủ, quốc hội và truyền thông Mỹ.  
Phó Tổng thống Nixon sau cuộc gặp với  
Fidel Castro tháng 4-1959 đã nhận xét về F.  
Castro như sau: “Một sự thật mà chúng ta có  
thể tin chắc là việc Castro có những phẩm chất  
rất mơ hồ, những phẩm chất giúp ông ta trở  
thành một nhà lãnh đạo. Cho dù chúng ta có  
nghĩ gì về ông ta thì ông ta vẫn sẽ là một nhân  
tố ảnh hưởng lớn trong sự phát triển của Cuba  
và rất có thể là những vấn đề của châu Mỹ  
Latinh nói chung. Ông ta có vẻ chân thật. Ông  
ta hoặc mơ hồ đến khó tin về Chủ nghĩa Cộng  
sản hoặc đang giữ kỷ luật của Cộng sản – theo  
phán đoán của tôi thì ông ta mơ hồ. Những ý  
kiến của ông ta như ý kiến về việc vận hành  
Bonsal có cuộc gặp gỡ đầu tiên với Fidel  
vào ngày 05-3-1959. Fidel Castro mô tả kế  
hoạch cải cách nông nghiệp, giảm tiền thuê  
nhà, nhà ở giá rẻ và công nghiệp hóa, những  
thứ được xem là yếu tố quan trọng của cuộc  
cách mạng Cuba. Đại sứ Bonsal cố gắng truyền  
tải đến nhà lãnh đạo Fidel Castro sự thiện chí  
và hy vọng mà chính phủ của Mỹ đã vạch ra  
trong mối quan hệ giữa hai nước. Bonsal cho  
rằng, người dân Mỹ cũng tự hào về đất nước của  
mình cũng như người Cuba và người Mỹ cũng  
61  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 22, Tháng 7 - 2020  
một chính quyền hay một nền kinh tế như thế  
nào không phát triển hơn những nhân vật mà  
tôi đã gặp ở 50 quốc gia trên thế giới. Nhưng vì  
ông ta có quyền lực lãnh đạo nên chúng ta  
không có lựa chọn nào khác là ít nhất cũng cố  
giúp ông ta đi đúng hướng” [1, tr.265]. Như  
vậy, có thể nhận thấy rằng, thời gian đầu sau  
khi Cách mạng Cuba thành công, chính quyền  
Mỹ vẫn chưa thực hiện những chính sách có  
tính chất quyết liệt chống Cuba.  
Tháng 3-1960, chính phủ Mỹ quyết định  
tăng cường các hoạt động chống lại F. Castro.  
CIA bắt đầu vũ trang cho nhóm phiến quân  
chống lại chính quyền cách mạng ở miền Trung  
Cuba. Nhóm này chủ yếu là lính cũ của Batista  
và giới điền chủ giàu có. Tổng thống Mỹ  
Eisenhower đã giải thích với Thủ tướng Anh  
Harold Macmillan: Castro sáp nhập hoàn toàn  
những người Cộng sản vào chế độ của mình,  
tiến hành một cuộc cách mạng thiếu suy nghĩ  
chống lại trật tự xã hội hiện nay, và còn là  
người theo chủ nghĩa quốc tế hơn một kiểu  
người yêu nước thông thường mà những người  
Cộng sản cần có với kỳ vọng mở rộng cuộc  
cách mạng của ông ta ra những nước xung  
quanh. Nếu những người Cộng sản có thể tìm  
được các nhà lãnh đạo khác có thể đạt được  
những tiêu chuẩn về “cùng tồn tại hòa bình của  
Khrushchev và tiêu chuẩn một cuộc cách mạng  
của Mao thì chúng ta qua thực sẽ gặp rắc rối  
nghiêm trọng” [1, tr.268]. H. Macmillan trả lời  
Eisenhower rằng: “… và tất nhiên với việc Cuba  
nằm ngay ở ngưỡng của các ông thì quan hệ  
chiến lược thậm chí còn quan trọng hơn về kinh  
tế… Tôi thấy chắc chắn rằng Castro phải bị  
loại bỏ nhưng đó là một hành động đòi hỏi các  
ông phải tính toán khéo léo và tôi chỉ mong  
rằng các ông sẽ thành công” [1, tr.268].  
Những bất đồng giữa Mỹ và Cuba bắt đầu  
gia tăng từ cuối năm 1959, khi F. Castro tiến  
hành những vụ trấn áp quyết liệt chống những  
người theo chính phủ Batista. Dòng người di cư  
ồ ạt chạy sang Mỹ. Họ định cư tại bang Florida  
và trở thành một cộng đồng gây sức ép dư luận  
xã hội Mỹ theo tinh thần chống lại chính quyền  
cách mạng ở Cuba. Đồng thời, một bộ phận  
tham gia vào lực lượng do CIA tập hợp, sẵn  
sàng trở về nước để phá hoại thành quả của  
cuộc cách mạng.  
Tháng 2-1960, chuyến thăm Cuba của Phó  
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Xô viết Anasta  
Mikoyan được phía Mỹ đánh giá là “một bước  
tiến dài hướng tới phá vỡ những mối liên hệ  
còn lại giữa chính quyền Cuba và Mỹ”. Chuyến  
viếng thăm này thực sự làm cho Mỹ lo lắng.  
Eisenhower ghi lại trong Hồi ký của mình: “Tôi  
đã từng nói rằng, trên đường về Matxcơva từ  
Cuba, Mikoyan lúc đó đang dồi dào sức trẻ  
cảm thấy những gì đang diễn ra trong cuộc  
cách mạng non nớt và vô tổ chức của Cuba đã  
đưa ông ta về những năm tháng trước đây của  
Cách mạng Nga”. Chính Mikoyan sau này cũng  
xác nhận với Dean Rusk - Bộ trưởng Ngoại giao  
dưới thời Tổng thống J.F. Kenedy: “Người Mỹ  
các ông phải nhận ra ý nghĩa của Cuba đối với  
những người Bolshevik già chúng tôi. Chúng tôi  
đã chờ đợi trong suốt cuộc đời mình để được thấy  
một quốc gia tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản mà  
không chờ đến Hồng quân. Điều đó đã diễn ra ở  
Cuba và nó làm cho chúng tôi cảm thấy như chính  
mình lại là thanh niên một lần nữa” [1, tr.267].  
Ngày 17-3-1960, chính quyền Eisenhower  
đã phê chuẩn một kế hoạch với nhan đề “Chương  
trình hành động bí mật chống chế độ Fidel  
Castro” trong đó có những điểm cơ bản sau:  
Thành lập tổ chức người Cuba lưu vong để lôi kéo  
người Cuba trung thành, chỉ đạo các hoạt động đối  
nghịch và che đậy các hoạt động của CIA; thực  
hiện việc tuyên truyền cổ động với danh nghĩa  
của tổ chức lưu vong đối lập này; thu thập  
thông tin tình báo bí mật ở bên trong đất nước  
Cuba và cung cấp cơ sở vật chất cho hoạt động  
của tổ chức lưu vong; phát triển lực lượng quân  
sự bên ngoài Cuba để tổ chức huấn luyện lãnh  
đạo các nhóm kháng chiến [4, tr.721-722].  
62  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Đức Quân và tgk  
Ngoài ra, CIA cũng được giao tổ chức các  
lực lượng trong nước Cuba vừa chống đối,  
thường xuyên quấy rối chính quyền bất cứ nơi  
nào có thể, vừa làm cơ sở hậu cần cho quân đổ  
bộ sau khi chúng vào được đất liền. Những kế  
hoạch này về sau do chính quyền kế nhiệm  
Eisenhower là John F. Kenedy thực hiện.  
Cuba còn có nguồn thu nhập rất lớn từ du lịch,  
trong đó khách du lịch đến Cuba từ Mỹ nhiều  
hơn bất kỳ nước nào khác.  
Vào những năm cuối cùng của chính  
quyền D. Eisenhower, trừng phạt kinh tế đã  
được Mỹ áp dụng để chống lại Cuba.  
Tháng 5-1959, Cuba thông qua Luật cải  
cách ruộng đất đưa đến việc quốc hữu hóa các  
tài sản thuộc sở hữu Mỹ trên đất Cuba. Mỹ đã  
giảm hạn ngạch nhập khẩu đường Cuba vào thị  
trường Mỹ, mà trước đó vốn không phải chịu  
thuế quan. Cụ thể, tháng 7-1960, Tổng thống  
Mỹ Eisenhower giảm lượng đường nhập khẩu  
của Cuba từ trên 3 triệu tấn xuống còn 700.000  
tấn. Đáp lại, Chính phủ Cuba đã quốc hữu hoá  
tất cả các tài sản của Mỹ tại Cuba, trị giá  
khoảng 1,8 tỷ đôla Mỹ.  
Tháng 01-1961, Cuba đã hạn chế số nhân  
viên đại sứ quán Mỹ tại Habana còn 11 người  
và cho phép các nhân viên còn lại của sứ quán  
có 2 ngày để rời Cuba. Đáp lại, cũng trong  
tháng 01-1961, Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao  
với Cuba. Trước đó, ngày 18-10-1960, đại sứ  
Mỹ tại Cuba Phillip Bonsal được triệu hồi về  
nước để “hội ý lâu dài”, nhưng P. Bonsal biết  
rằng nhiệm vụ của mình ở Cuba đã kết thúc.  
Quyết định cắt đứt quan hệ ngoại giao với  
Cuba khiến Mỹ có thể tự do theo đuổi mọi  
hướng hành động để có thể loại bỏ được Fidel  
Castro. Tuy nhiên, những vấn đề còn tồn tại  
trong chính sách của Mỹ đối với Cuba dưới  
thời tổng thống Eisenhower, những bước tiếp  
theo trong chính sách của Mỹ đối với Cuba sẽ  
do chính quyền kế nhiệm - chính quyền của  
Tổng thống John F. Kenedy thực hiện.  
Từ tháng 8 đến tháng 10-1960, Chính phủ  
Cuba tiến hành quốc hữu hoá các ngân hàng  
của Mỹ, các xí nghiệp công nghiệp và ruộng  
đất, các doanh nghiệp bán buôn và bán lẻ. Ngày  
19-10-1960, Mỹ bắt đầu cấm vận kinh tế từng  
phần đối với Cuba.  
Ngày 16-12-1960, Tổng thống Eisenhower  
hủy toàn bộ hạn ngạch nhập đường từ Cuba.  
Đây là một đòn giáng nặng nề vào nền kinh tế  
Cuba, vì đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của  
Cuba. Các công ty Mỹ cũng bắt đầu cắt giảm số  
lượng dầu bán cho Cuba.  
Như vậy, xét về mặt chính trị - ngoại giao,  
có thể nói, thời gian đầu sau khi cách mạng  
Cuba thành công, Mỹ vẫn có ý muốn duy trì  
mối quan hệ hữu nghị giữa hai bên, mặc dù bên  
trong Mỹ luôn tìm cách loại bỏ Fidel Castro.  
Về sau, mối quan hệ giữa Mỹ và Cuba càng  
thêm căng thẳng, dẫn đến quan hệ ngoại giao  
song phương không còn tồn tại.  
Đầu năm 1961, Mỹ ban hành lệnh cấm  
công dân Mỹ thăm Cuba, ngoại trừ những  
trường hợp có giấy phép đặc biệt. Tiếp theo đó,  
chính quyền Mỹ cấm các mặt hàng Mỹ xuất  
khẩu sang Cuba, trừ thức ăn phi trợ cấp, thuốc  
tây và dụng cụ y tế.  
2.2.2. Về kinh tế  
Trước khi cuộc cách mạng ở Cuba diễn ra,  
kinh tế Cuba gắn kết chặt chẽ với kinh tế Mỹ.  
Mỹ là đối tác thương mại chính của Cuba và  
cung cấp nguồn đầu tư nước ngoài chủ yếu. Mỹ  
còn là thị trường tiêu thụ đường chính, là nước  
xuất khẩu chính của Cuba. Trước Cách mạng  
Cuba, người Mỹ nắm quyền kiểm soát 70%  
diện tích đất trồng trọt và ¾ số ngành công  
nghiệp chủ yếu của đất nước này. Ngoài ra,  
Nhìn chung, lệnh cấm vận này được Mỹ  
áp dụng với Cuba theo hướng tăng dần mức độ,  
dưới thời Tổng thống D.Eisenhower chỉ là cấm  
vận từng phần. Tuy nhiên, lệnh cấm vận này đã  
gây ra rất nhiều khó khăn cho chính phủ Cuba.  
63  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 22, Tháng 7 - 2020  
Cuba, là làm thay đổi chính quyền xã hội chủ  
nghĩa ở Cuba, bằng cải tổ hoặc lật đổ, cũng như  
mong muốn ngăn chặn sự lan rộng của chủ  
nghĩa xã hội ở Tây bán cầu. Tuy nhiên, cho tới  
nay, nước Cuba xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại bất  
chấp các âm mưu cũng như chính sách đã được  
Mỹ thực thi đối với nhà lãnh đạo Fidel Castro  
cũng như quốc gia này.  
3. KẾT LUẬN  
Về địa lý, Cuba là một nước ở Tây bán cầu  
nằm sát cạnh bang Florida của Mỹ. Chính vì  
vậy, sự tồn tại của nước Cuba xã hội chủ nghĩa  
ở sát bên Mỹ đã tác động rất nhiều đến chính  
sách của Mỹ trong cục diện Chiến tranh Lạnh  
bao trùm thế giới lúc bấy giờ. Mục tiêu chính  
của các chính sách về chính trị - ngoại giao và  
kinh tế, nhất là lệnh cấm vận của Mỹ đối với  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] John Lewis Gaddis (2009), Giờ chúng ta mới biết: suy nghĩ lại về lịch sử Chiến tranh Lạnh,  
Sách lưu hành nội bộ, Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội.  
[2] Nguyễn Văn Phước (2004), Fidel - Cuộc đối đầu 10 đời Tổng thống Mỹ và những âm mưu ám  
sát của CIA, Nxb Trẻ.  
[3] Lê Khương Thùy (2003), Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau Chiến tranh  
Lạnh, Nxb Khoa học xã hội.  
[4] Phạm Quốc Tuấn (2003), Fidel Castro – Con người huyền thoại, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.  
[5] William A. DeGregorio (2016), 44 đời tổng thống Hoa Kỳ, Người dịch: Nguyễn Hoàng Diệp,  
Đặng Việt Vinh, Nxb Thế giới.  
[6] William LeoGrande, Peter Kornbluh (2014), Back channel to Cuba: The hidden history of  
negotiations betweem Washington and Hanava, The University of North Carolina Press, USA.  
Ngày nhận bài: 08-6-2020. Ngày biên tập xong: 10-7-2020. Duyệt đăng: 24-7-2020  
64  
pdf 6 trang Thùy Anh 17580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách của Mỹ đối với Cuba dưới thời tổng thống Dwight Eisenhower (1959-1961)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_cua_my_doi_voi_cuba_duoi_thoi_tong_thong_dwight_e.pdf