Các yếu tố ảnh hưởng hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em tại thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang

Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH toàn quốc lần thứ IV các Trường Đại học khối ngành Kinh tế & QTKD  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG HÀNH VI TIÊU DÙNG ĐỒ CHƠI TRẺ EM TẠI THÀNH  
PHỐ MỸ THO - TIỀN GIANG  
FACTORS AFFECTING CONSUMER BEHAVIOR OF TOYS FOR CHILDREN IN  
MY THO - TIEN GIANG CITY  
Trần Thị Nguyệt Thanh, Nguyễn Thị Mỹ Phương  
GVHD: ThS. Võ Xuân Hưởng  
Trường Đại học Tiền Giang  
TÓM TẮT  
Mục đích của nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em tại thành phố Mỹ Tho -  
Tiền Giang. Nghiên cứu được tiến hành dựa trên 179 đối tượng, là các phụ huynh có con nhỏ từ 3 đến 5 tuổi có cho bé sử  
dụng đồ chơi. Quá trình khảo sát được thực hiện tại thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang. Trong nghiên cứu này, phương pháp  
kiểm định Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến và phương pháp phân tích phương  
sai ANOVA được sử dụng để làm rõ các mối quan hệ giữa các nhân tố trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 3  
nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn đồ chơi cho bé của người tiêu dùng là “Sự tiện lợi”, “Chất lượng” và  
“Chiêu thị”. Trong đó, nhân tố có tác động mạnh nhất đến hành vi của người tiêu dùng là “Sự tiện lợi”.  
Từ khoá: hành vi tiêu dùng, đồ chơi.  
ABSTRACT  
The purpose of the study was to analyze factors affecting consumer behavior of toys for children in My Tho - Tien Giang  
City. The study was conducted on 179 parents having children age 3 to 5 that have used the toys. The survey was carried  
out in My Tho - Tien Giang City. In this study, reliable Cronbach Alpha coefficient method, Exploratory Factor Analysis (EFA)  
method, multivariable regression analysis and ANOVA variance analysis methods are used to clarify the relationship of the  
factors. The results showed that there are 3 major factors affecting the decision of consumers, namely, convenience, quality  
styling product and promotion elements. Among them, convenience is most strongly influent factors on consumer behavior.  
Keywords: Consumer behavior, toy.  
1. Giới thiệu  
Đồ chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ trong cuộc sống hằng ngày. Đặc biệt là ở độ  
tuổi mầm non, đồ chơi rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Bất cứ trẻ em nào cũng đều có nhu cầu  
chơi và rất yêu quý đồ chơi. Các em sống, thao tác và hoạt động cùng với đồ chơi. Đồ chơi là phương  
tiện giúp trẻ học tập, phát hiện ra những mối quan hệ trong xã hội, dần dần biết cách gia nhập vào các  
mối quan hệ đó. Ngoài ra, đồ chơi còn giúp trẻ trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, từ  
đó giúp trẻ được phát triển cân đối hài hòa. Vì vậy, đồ dùng đồ chơi có tác dụng to lớn và ý nghĩa sâu  
sắc trong việc phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm  
mỹ vừa chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học vừa có thể tham gia tốt vào cuộc sống xã hội sau này… Nếu  
được lựa chọn đúng, đồ chơi sẽ là một phương tiện giáo dục tác động mạnh mẽ đến sự phát triển  
nhân cách của trẻ nhỏ. Cho nên việc chọn mua đồ chơi cho trẻ em là một nhu cầu ưu tiên được các  
gia đình quan tâm. Do tác động quan trọng của đồ chơi đối với trẻ em như vậy, mà sản xuất các  
loại đồ chơi đẹp, mới lạ, có tác dụng giáo dục, đảm bảo sức khỏe và an toàn cho trẻ khi chơi luôn  
là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu trong ngành công nghiệp đồ chơi. Các hãng đồ chơi trẻ em  
hiện nay luôn cố gắng theo kịp sự thay đổi liên tục về nhu cầu đồ chơi của các bé.  
Theo kết quả điều tra thì toàn tỉnh Tiền Giang hiện có 376.575 trẻ em dưới 16 tuổi (chiếm tỷ lệ  
22,8% dân số của tỉnh), trong đó trẻ em 0 đến dưới 6 tuổi là 150.808 em [6]. Số lượng trẻ em không  
ngừng tăng qua mỗi năm tạo ra một thị trường tiềm năng cho các sản phẩm đồ chơi dành cho trẻ. Thị  
trường Mỹ Tho - Tiền Giang là nơi có nhiều cửa hàng lớn nhỏ kinh doanh đồ chơi trẻ em. Tuy nhiên  
265  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
rất ít thấy được đồ chơi trẻ em có nguồn gốc từ Việt Nam. Rõ ràng cơ hội cho các công ty sản xuất đồ  
chơi là rất lớn. Do đó, các doanh nghiệp cần phải nỗ lực hơn trong công việc kinh doanh của mình.  
Một trong các vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm là phụ huynh sẽ chọn sản phẩm đồ chơi nào cho trẻ.  
Những yếu tố nào tác động mạnh vào hành vi tiêu dùng của họ. Vì vậy, bài viết “Các yếu tố ảnh  
hưởng đến hành vi tiêu dùng đồ chơi của trẻ em tại thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang” được  
nghiên cứu để tìm ra giải pháp cho các doanh nghiệp kinh doanh đồ chơi trẻ em hiện nay.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Từ cơ sở lý thuyết nghiên cứu hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler (2002). Bên cạnh đó, kế  
thừa quan điểm của Feigenbaum (1991), Russell (1999) và thực tế nghiên cứu tiêu dùng đồ chơi trẻ em  
tại thị trường Mỹ Tho - Tiền Giang, nghiên cứu này sẽ lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu  
dùng đồ chơi trẻ em như hình 1 dưới đây:  
Giá  
Kiểu dáng  
Chất lượng đồ chơi  
Hành vi  
tiêu dùng  
Nhóm ảnh hưởng  
Chiêu thị  
Sự tiện lợi  
Thương hiệu  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
Giả thuyết nghiên cứu: Các yếu tố (giá, chất lượng đồ chơi, sự tiện lợi, thương hiệu, kiểu dáng,  
nhóm ảnh hưởng, chiêu thị) có mối tương quan cùng chiều với hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em của  
phụ huynh tại thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này được thực hiện qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.  
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo  
luận nhóm. Nghiên cứu này được dùng để khám phá, điều chỉnh và bổ sung thang đo các yếu tố ảnh  
hưởng hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em tại Mỹ Tho - Tiền Giang.  
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Thông qua  
bảng khảo sát các phụ huynh để thu thập số liệu. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện với kích  
thước mẫu là 179.  
Nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết với phương pháp hệ số  
tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi qui bội,… thông qua phần  
mềm SPSS 18.0. Sau đó, kết quả phân tích sẽ là cơ sở để đề ra giải pháp.  
266  
Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH toàn quốc lần thứ IV các Trường Đại học khối ngành Kinh tế & QTKD  
* Khung nghiên cứu  
Nghiên cứu sơ bộ  
Cơ sở lý thuyết  
Thang đo dự kiến  
(n = 5)  
Thang đo chính  
Điều chỉnh thang đo  
Nghiên cứu chính thức  
Phân tích Cronbach Alpha  
(n = 179)  
Thống kê mô tả  
Phân tích nhân tố EFA  
Phân tích hồi qui bội  
Hình 2. Khung nghiên cứu  
3. Kết quả và đánh giá  
3.1. Kết quả  
3.1.1. Giới thiệu về mẫu điều tra  
Mẫu được nghiên cứu tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang gồm  
trường mầm non Lê Thị Hồng Gấm, Bông Sen, Phước Thạnh, Tuổi Ngọc, Hoa Hồng, Hùng Vương,  
Sao Sáng. Tác giả đã tiến hành điều tra 200 phiếu, sau khi tiến hành nhập số liệu và sàng lọc phiếu  
điều tra thì kết quả có 179 phiếu hợp lệ đúng với mục đích khảo sát (chiếm tỉ lệ 8 9 , 5 %). Các phiếu  
bị loại do người trả lời phiếu khảo sát không cung cấp đầy đủ thông tin hoặc thông tin bị loại bỏ do  
người được điều tra đánh cùng một loại lựa chọn… Kết quả khảo sát về thông tin của người tiêu dùng  
được trình bày trong bảng 1.  
Bảng 1. Các thông tin về bé và phụ huynh  
Tiêu chí  
Phân Loại  
Số lượng  
Tỉ lệ %  
Nam  
98  
81  
54,75  
45,25  
Giới tính bé  
Nữ  
3 tuổi  
25  
13,97  
Tuổi bé  
4 tuổi  
5 tuổi  
26  
128  
42  
14,53  
71,51  
23,46  
Nhân viên văn phòng  
Công nhân trong các doanh nghiệp  
53  
47  
29,61  
26,26  
Nghề nghiệp  
Buôn bán  
Khác  
37  
30  
20,67  
16,76  
57,54  
18,99  
Dưới 3 triệu  
Từ 3 đến 5 triệu  
Từ 5 đến 10 triệu  
103  
34  
Thu nhập  
267  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
Trên 10 triệu  
12  
6,70  
(Nguồn: Kết quả điều tra năm 2015)  
- Về độ tuổi: các bé 5 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 71,5% vì bé ở độ tuổi này nhận thức rõ ràng hơn  
về thế giới xung quanh và sử dụng đồ chơi nhiều hơn phục vụ cho việc khám phá thế giới, để giúp bé  
tăng sức sáng tạo, giải trí và tiếp cận với cuộc sống.  
- Về giới tính: bé trai chiếm tỉ lệ cao nhất 54,7% vì bé trai thường hiếu động hơn bé gái và mau  
chán nên việc thường xuyên mua đồ chơi sẽ nhiều hơn so với bé gái. Việc lựa chọn đồ chơi trẻ em theo  
giới tính của bé rất được phụ huynh quan tâm. Vì vậy, các doanh nghiệp cần sản xuất đồ chơi giúp bé  
có được sự lựa chọn phù hợp về cả độ tuổi và giới tính để có thể kích thích khả năng sáng tạo và phát  
triển tư duy thông minh hơn cho bé theo từng giai đoạn nhất định.  
- Về nghề nghiệp của phụ huynh: số công nhân trong các doanh nghiệp có tỉ lệ cao nhất. Thêm  
vào đó thu nhập của họ không cao, chỉ ở mức trung bình (từ 3 đến 5 triệu đồng). Vì vậy giá cả đồ chơi  
là một trong những yếu tố mà các doanh nghiệp cần quan tâm. Bên cạnh đó, các bậc phụ huynh trên thị  
trường không có nhiều thời gian để tìm hiểu thông tin về đồ chơi cho bé. Đây cũng là vấn đề mà các  
nhà kinh doanh đồ chơi trẻ em nên quan tâm và cần có chiến lược xúc tiến sản phẩm đồ chơi trẻ em  
một cách hiệu quả nhất.  
- Về mức thu nhập: có 30 phụ huynh có thu nhập thấp hơn 3 triệu đồng/tháng, chiếm 16,8%, đa  
số các bậc phụ huynh có mức thu nhập hàng tháng từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng/ tháng. Với tỉ lệ  
nghề nghiệp như trên thì đa số thu nhập từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng là hoàn toàn phù hợp.  
3.1.2. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha  
Thang đo được đánh giá độ tin cậy thông qua hai công cụ là hệ số Cronbach Alpha và phân tích  
nhân tố khám phá (EFA). Công cụ chính để xác định độ tin cậy của các thang đo là hệ số Cronbach  
Alpha. Hệ số Cronbach Alpha được sử dụng để loại bỏ các biến không phù hợp hay còn gọi là các biến  
rác. Thang đo có hệ số tin cậy đáng kể khi hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0,6. Hệ số tương quan biến -  
tổng thể (item-total correlation) là hệ số tương quan của một biến với điểm trung bình của các biến  
khác trong cùng một thang đo. Do đó, hệ số này càng cao thì chứng tỏ sự tương quan của biến với các  
biến khác trong nhóm càng cao và hệ số tương quan biến - tổng thể phải bằng hoặc lớn hơn 0,3. Như  
vậy, theo Nunally & Burnstein (1994) thì các biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3 được  
xem là biến rác và đương nhiên là loại bỏ khỏi thang đo.  
Bảng 2. Hệ số tin cậy Cronbach Alpha của các thành phần thang đo  
Trung bình Phương  
Tương  
quan  
biến-tổng  
Alpha  
nếu loại  
biến  
thang đo  
nếu loại  
biến  
sai thang  
đo nếu  
loại biến  
BIẾN QUAN SÁT  
Giá: Cronbach Alpha = 0,700  
Giá phù hợp với thu nhập  
7,01  
6,60  
6,57  
2,723  
2,185  
3,083  
0,398  
0,375  
0,208  
0,610  
0,483  
0,698  
Giá phù hợp với chất lượng  
Sản phẩm có giá cạnh tranh  
Chất lượng: Cronbach Alpha = 0,743  
Đồ chơi phải đảm bảo an toàn  
Đồ chơi không có chất độc hại  
6,93  
7,01  
2,983  
2,333  
0,302  
0,398  
0,694  
0,682  
268  
Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH toàn quốc lần thứ IV các Trường Đại học khối ngành Kinh tế & QTKD  
Đồ chơi ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ  
Sự tiện lợi: Cronbach Alpha = 0,726  
Sản phẩm dễ tìm mua  
7,43  
2,698  
0,308  
0,684  
7,09  
6,60  
6,82  
2,644  
2,510  
2,035  
0,229  
0,363  
0,449  
0,748  
0,644  
0,690  
Luôn có sẵn tại điểm bán  
Được nhân viên tư vấn nhiệt tình, dễ chọn lựa  
Thương hiệu: Cronbach Alpha = 0,738  
Thương hiệu trong nước  
6,26  
6,15  
6,82  
2,521  
2,331  
2,612  
0,500  
0,531  
0,477  
0,686  
0,608  
0,827  
Thương hiệu nước ngoài  
Thương hiệu lâu năm, uy tín  
Kiểu dáng: Cronbach Alpha = 0,866  
Kiểu dáng phải đẹp  
5,98  
6,13  
5,89  
5,921  
6,000  
5,904  
0,484  
0,621  
0,605  
0,859  
0,781  
0,794  
Kiểu dáng phải phù hợp với giới tính trẻ  
Kiểu dáng phù hợp với lứa tuổi của trẻ  
Nhóm ảnh hưởng: Cronbach Alpha = 0,682  
Ảnh hưởng bởi bạn bè khi mua đồ chơi cho bé  
Tham khảo ý kiến gia đình  
6,89  
6,97  
6,70  
2,538  
1,960  
2,291  
0,357  
0,399  
0,342  
0,735  
0,428  
0,564  
Mua theo hướng dẫn của giáo viên  
Chiêu thị: Cronbach Alpha = 0,651  
Sản phẩm quảng cáo thường xuyên  
Dịch vụ bán hàng  
8,03  
7,67  
8,03  
2,059  
1,612  
1,982  
0,377  
0,392  
0,318  
0,623  
0,638  
0,776  
Có chương trình khuyến mãi khi mua  
(Nguồn: Kết quả xử lý SPSS năm 2015)  
Kết quả nghiên cứu về đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua việc đánh giá hệ số Cronbach  
Alpha của các biến được trình bày ở bảng 2 cho thấy đa số các thành phần đều có hệ số tin cậy  
Cronbach Alpha cao (đều lớn hơn 0,6) ngoại trừ các biến “Giá phù hợp với chất lượng, Tham khảo ý  
kiến gia đình, Mua theo hướng dẫn của giáo viên” bị loại vì hệ số tin cậy nhỏ hơn 0,6. Theo lý thuyết  
thì những giá trị nào có hệ số tương quan giữa biến - tổng nhỏ hơn 0,3 thì xem như bị loại và biến đó là  
“Sản phẩm có giá cạnh tranh, Sản phẩm dễ tìm mua”. Các biến còn lại thỏa mãn yêu cầu về hệ số  
tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3. Như vậy, 16 biến đo lường còn lại được sử dụng trong phân tích  
nhân tố khám phá EFA.  
269  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
3.1.3. Đánh giá thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá  
Bảng 3. Kết quả phân tích nhân tố EFA  
NHÂN TỐ  
BIẾN QUAN SÁT  
1
2
3
4
5
Luôn có sẵn tại điểm bán  
0,829  
0,420  
0,755  
Dịch vụ bán hàng  
Được nhân viên tư vấn nhiệt tình, dễ chọn lựa  
Đồ chơi ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ  
Đồ chơi không có chất độc hại  
Đồ chơi phải đảm bảo an toàn  
Kiểu dáng phù hợp với lứa tuổi của trẻ  
Kiểu dáng phải đẹp  
0,829  
0,820  
0,755  
0,943  
0,706  
0,596  
Kiểu dáng phải phù hợp với giới tính trẻ  
Thương hiệu nước ngoài  
0,910  
0,849  
0,612  
0,404  
Thương hiệu trong nước  
Thương hiệu lâu năm, uy tín  
Giá phù hợp với thu nhập  
Sản phẩm được quảng cáo thường xuyên  
Ảnh hưởng bởi bạn bè khi mua đồ chơi cho bé  
Có chương trình khuyến mãi khi mua  
0,820  
0,418  
0,698  
(Nguồn: Kết quả xử lý SPSS năm 2015)  
Bảng 4. Chỉ số KMO khi phân tích nhân tố  
0,769  
CHỈ SỐ KMO  
Approx. Chi-Square  
913,163E3  
Bartlett's  
Df  
225  
0,000  
Test of  
Sphericity  
Sig.  
(Nguồn: Kết quả xử lý SPSS năm 2015)  
Kết quả thu được sau khi đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA bằng phần  
mềm SPSS 18.0 có KMO = 0,769 (lớn hơn 0,5) và xác suất của các thành phần thang đo có Sig =  
0,000 nhỏ hơn 0,05. Điều này đã bác bỏ giả thuyết H0 và chứng tỏ phân tích nhân tố khám phá EFA ở  
đây là thích hợp.  
270  
Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH toàn quốc lần thứ IV các Trường Đại học khối ngành Kinh tế & QTKD  
Tuy nhiên, dựa vào kết quả thu được ta thấy trong số 16 biến quan sát thuộc các yếu tố ảnh  
hưởng hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em tách thành 5 nhóm nhân tố mới với hệ số tương quan giữa các  
biến quan sát với nhóm nhân tố lớn hơn 0,5. Trong đó loại biến “Dịch vụ bán hàng, Giá phù hợp với  
thu nhập, Ảnh hưởng bởi bạn bè khi mua đồ chơi cho bé” do hệ số tương quan giữa biến quan sát với  
nhóm nhân tố nhỏ hơn 0,5. Đồng thời, mức giá trị eigenvalues là 1,157 (lớn hơn 1) và tổng phương sai  
được giải thích là 70,913 %, nghĩa là 5 nhân tố được trích ra có thể giải thích được 70,913 % biến thiên  
của dữ liệu. Kết quả có 5 nhân tố mới được rút ra, cụ thể ở bảng 5:  
Bảng 5. Các nhóm nhân tố mới được rút ra  
Mã hóa  
N1  
Tên các nhóm nhân tố  
Các biến quan sát  
Luôn có sẵn tại điểm bán  
Sự tiện lợi  
Được nhân viên tư vấn nhiệt tình, dễ chọn lựa  
Đồ chơi ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ  
Đồ chơi không có chất độc hại  
Đồ chơi phải đảm bảo an toàn  
Kiểu dáng phù hợp với lứa tuổi của trẻ  
Kiểu dáng phải đẹp  
N2  
N3  
Chất lượng  
Kiểu dáng  
Kiểu dáng phải phù hợp với giới tính trẻ  
Thương hiệu nước ngoài  
Thương hiệu trong nước  
N4  
N5  
Thương hiệu  
Chiêu thị  
Thương hiệu lâu năm, uy tín  
Sản phẩm được quảng cáo thường xuyên  
Có chương trình khuyến mãi khi mua  
(Nguồn: Kết quả xử lý SPSS năm 2015)  
Kết quả thu được sau khi đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA lần 2 bằng  
phần mềm SPSS 18.0 có KMO = 0,713 và xác suất của các thành phần thang đo có Sig = 0,000 nhỏ  
hơn 0,05. Điều này đã bác bỏ giả thuyết H0 và đã chứng tỏ phân tích nhân tố khám phá EFA ở đây là  
thích hợp. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA cho thấy thang đo các yếu tố của hành vi tiêu  
dùng được xác định bởi 5 nhân tố mới với 13 biến quan sát còn lại.  
3.1.4. Phân tích hồi qui  
Mô hình hồi qui tuyến tính bội:  
HVTD = α0 + β1N1 + β2N2 + β3N3 + β4N4 + β5N5  
Trong đó  
HVTD: Hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em của phụ huynh - là thành phần phụ thuộc, 5  
thành phần còn lại là những thành phần độc lập và được giả định là các yếu tố tác động đến hành vi  
tiêu dùng đồ chơi trẻ em.  
α0: hệ số chặn của hàm hồi qui, βi: (với i = 1, 2, 3, 4, 5): các tham số hồi qui, đo lường độ lớn và  
chiều hướng ảnh hưởng của biến độc lập đối với thành phần phụ thuộc, được tính toán bằng phần mềm  
SPSS 18.0.  
271  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
* Đánh giá độ phù hợp của mô hình  
Bảng 6. Hệ số xác định  
R2 hiệu chỉnh  
0,675  
R
R2  
Sai số chuẩn của ước lượng  
0,712  
0,827a  
0,679  
(Nguồn: Kết quả xử lý SPSS năm 2015)  
Hệ số xác định R2 và R2 hiệu chỉnh (Adjusted R Square) được dùng để đánh giá độ phù hợp của  
mô hình. Vì R2 sẽ tăng khi đưa thêm biến độc lập vào mô hình nên dùng R2 hiệu chỉnh sẽ an toàn hơn  
khi đánh giá độ phù hợp của mô hình. R2 hiệu chỉnh càng lớn thể hiện độ phù hợp của mô hình càng  
cao. Kết quả phân tích hồi qui tuyến tính đa biến dựa vào bảng 6 có hệ số xác định R2 là 0,679 và hệ số  
xác định R2 hiệu chỉnh là 0,675 tức 67,5% sự biến thiên của mức độ hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em  
được giải thích bởi mối liên hệ tuyến tính của các thành phần độc lập. Mức độ phù hợp của mô hình  
này tương đối cao. Để kiểm định xem có thể suy diễn mô hình cho tổng thể hay không ta phải kiểm  
định độ phù hợp của mô hình.  
* Kiểm định độ phù hợp của mô hình  
Giả thuyết: H0: β1 = β2 = β3 = β4 = β5 = 0. Có nghĩa là các thành phần độc lập (N1: Sự tiện lợi, N2:  
Chất lượng, N3: Kiểu dáng, N4: Thương hiệu, N5: Chiêu thị) không có mối liên hệ tuyến tính với  
thành phần phụ thuộc (Hành vi tiêu dùng).  
Với mức ý nghĩa α = 5%. Nếu Sig < 5%: ta bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là có mối liên hệ tuyến  
tính giữa thành phần phụ thuộc với ít nhất một trong các thành phần độc lập. Và ngược lại, nếu Sig ≥  
5%: ta chấp nhận giả thuyết H0, nghĩa là không tồn tại mối liên hệ tuyến tính giữa thành phần phụ  
thuộc với các thành phần độc lập. Để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính đa bội ta  
dùng giá trị F ở bảng phân tích ANOVA sau (bảng 7):  
Bảng 7. Phân tích phương sai của mô hình hồi qui (ANOVA)  
Tổng bình  
phương  
Trung bình  
bình phương  
Biến thiên  
Độ tự do  
Giá trị F  
Sig.  
Hồi qui (Regression)  
Phần dư (Residual)  
Tổng  
128,789  
76,530  
3
64,395  
0,326  
132,394 0,000a  
163  
166  
205,319  
a. Nhân tố độc lập: N5, N1, N2, N4, N3  
b. Nhân tố phụ thuộc: HVTD  
(Nguồn: Kết quả xử lý SPSS năm 2015)  
Trong bảng phân tích phương sai ANOVA - bảng 7, trị số thống kê F được tính từ giá trị R  
square có giá trị Sig.=0,000 rất nhỏ (nhỏ hơn mức ý nghĩa 0,05): ta bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là có  
tồn tại mối liên hệ tuyến tính giữa hành vi tiêu dùng với ít nhất một trong các nhân tố: N1, N2, N3, N4,  
N5. Điều này cho thấy sự thích hợp của mô hình hồi qui tuyến tính đa biến với tập dữ liệu. Như vậy  
các thành phần độc lập trong mô hình có quan hệ với thành phần phụ thuộc, mô hình có thể sử dụng  
được. Qua kết quả bảng 8 dưới đây cho thấy:  
- “Sự tiện lợi” - N1 có hệ số hồi qui riêng phần là 0,501, với Sig = 0,000. Đồng nghĩa với nhân tố  
N1 ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của phụ huynh.  
272  
Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH toàn quốc lần thứ IV các Trường Đại học khối ngành Kinh tế & QTKD  
- “Chất lượng” - N2 có hệ số hồi qui riêng phần là 0,369, với Sig = 0,017. Đồng nghĩa với nhân  
tố N2 ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của phụ huynh.  
- “Chiêu thị” - N5 có hệ số hồi qui riêng phần là 0,091, với Sig = 0,031. Đồng nghĩa với nhân tố  
N5 ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của phụ huynh.  
- “Kiểu dáng” - N3, “thương hiệu”- N4 có hệ số hồi qui riêng phần lần lượt là 0,080 và 0,044,  
không có ý nghĩa thống kê với Sig = 0,347 và 0,113. Đồng nghĩa với nhân tố N3, N4 ít ảnh hưởng đến  
hành vi tiêu dùng của phụ huynh.  
Bảng 8. Các hệ số hồi qui trong mô hình hồi qui  
Hệ số hồi qui  
Các hệ số hồi qui chuẩn  
Mức ý  
nghĩa  
hóa  
chưa chuẩn hóa  
Nhân tố  
T
Beta  
Sai số chuẩn  
0,281  
Beta  
(Constant)  
-0,144  
0,501  
0,369  
0,080  
0,044  
0,091  
-1,222  
0,222  
N1  
N2  
N3  
N4  
N5  
0,050  
0,387  
0,331  
0,065  
0,037  
0,076  
10,070 0,000  
0,042  
8,729  
1,586  
0,942  
2,162  
0,017  
0,347  
0,113  
0,031  
0,050  
0,046  
0,042  
a. Dependent Variable: HVTD  
(Nguồn: Kết quả xử lý SPSS năm 2015)  
Căn cứ vào hệ số Beta, chúng ta có thể xác định được tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng  
đến hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em của các bậc phụ huynh, nếu trị tuyệt đối của hệ số Beta nào càng  
lớn thì yếu tố đó có ảnh hưởng càng mạnh đến hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em. Nhìn vào hệ số Beta  
của phương trình, chúng ta có thể thấy rằng, khách hàng bị tác động mạnh nhất là nhân tố “Sự tiện lợi”,  
thứ hai là “Chất lượng” và nhân tố thứ ba là “Chiêu thị” đến hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em.  
Phương trình hồi qui tuyến tính của mô hình có dạng:  
HVTD = - 0,144 + 0,501*N1 + 0,369*N2 + 0,091*N5  
Tóm lại, kết quả kiểm định hệ số hồi qui các biến độc lập cho thấy chấp nhận giả thuyết có nghĩa  
là các nhân tố N1, N2, N5 có mối quan hệ dương với hành vi tiêu dùng đồ chơi của các phụ huynh.  
Như vậy, các bậc phụ huynh bị tác động mạnh nhất khi tiêu dùng đồ chơi trẻ em là nhân tố “Sự tiện  
lợi”, “Chất lượng”, “Chiêu thị”. Bên cạnh đó cũng có các yếu tố (kiểu dáng, thương hiệu) tác động  
thấp đến hành vi tiêu dùng của phụ huynh. Song, không phải vì vậy mà ta loại bỏ các yếu tố tác động  
thấp này. Và đây chính là cơ sở để chúng ta đề ra giải pháp.  
3.2. Đánh giá  
Kết quả nghiên cứu là nguồn thông tin mới, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Nguồn thông tin  
này sẽ góp phần giúp các nhà quản trị hoạch định chiến lược, tạo một tiền đề, một hướng đi mới trong  
tương lai cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ chơi trẻ em. Nhà nước cũng có thể dựa vào  
kết quả nghiên này để đưa ra một số chính sách nhằm phát triển thị trường đồ chơi trong nước và có  
thể vươn xa ra thị trường thế giới.  
273  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
Với kết quả này các doanh nghiệp trong ngành này có thể thực hiện các dự án nghiên cứu thị  
trường tiếp theo để bổ sung và hoàn chỉnh dự án nghiên cứu, đồng thời có thể dựa vào kết quả  
nghiên cứu để xây dựng các chương trình thu hút khách hàng, quảng cáo, khuyến mại đúng hướng và  
có hiệu quả để tăng giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp trong ngành đồ chơi trẻ em tại thành phố  
Mỹ Tho nói riêng và Việt Nam nói chung.  
4. Kết luận  
Đề tài đã sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để xử lý số liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu sau  
khi sử dụng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach Alpha đã loại bỏ 5 biến rác trong 21 biến quan sát  
ban đầu, còn lại 16 biến quan sát cho phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả khi sử dụng phương  
pháp phân tích nhân tố khám phá EFA từ 16 biến quan sát đã rút trích thành 5 nhân tố mới là N1: Sự  
tiện lợi, N2: Chất lượng, N3: Kiểu dáng, N4: Thương hiệu, N5: Chiêu thị. Kết quả phân tích hồi qui đa  
biến cho thấy, trong nhóm các thành phần được đưa vào khảo sát thì có 3 thành phần ảnh hưởng đến  
hành vi tiêu dùng của phụ huynh, trong đó thành phần quan trọng thứ nhất là “Sự tiện lợi”, thành phần  
quan trọng thứ hai là “Chất lượng” và thành phần quan trọng thứ ba là “Chiêu thị”.  
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy các bậc phụ huynh tại thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang rất quan  
tâm những đồ chơi có chất lượng tốt, có nguồn gốc rõ ràng và đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, có thể  
giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng. Thông qua các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất những  
giải pháp cho các doanh nghiệp kinh doanh ngành hàng đồ chơi trẻ em tại Mỹ Tho - Tiền Giang.  
Giải pháp về sự tiện lợi  
Nhân tố sự tiện lợi khi mua sản phẩm có tác động mạnh đối với hành vi tiêu dùng đồ chơi cho bé  
của các phụ huynh. Kết quả này tương đối phù hợp với tình hình thực tế. Qua khảo sát cho thấy, khi  
chọn đồ chơi cho con khách hàng rất chú ý đến những tiện lợi khi mua sản phẩm như dễ dàng tìm mua  
sản phẩm, dễ lựa chọn, được nhân viên bán hàng tư vấn, hướng dẫn nhiệt tình. Vì vậy doanh nghiệp  
cần:  
- Chọn địa điểm bán hàng thuận lợi, có thể gần trường học.  
- Đào tạo đội ngũ bán hàng giỏi.  
Giải pháp về chất lượng  
Chất lượng sản phẩm là điều mà người tiêu dùng quan tâm nhất. Tuy nhiên, người tiêu dùng khó  
có thể nhận biết được. Vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất đồ chơi trẻ em cần:  
- Ghi rõ nguồn gốc xuất xứ, hạn sử dụng, chất liệu, công dụng, cách chơi cho bé trên bao bì sản  
phẩm đồ chơi.  
- Các cửa hàng chuyên bán đồ chơi trẻ em nên trưng bày bản cam kết đối với khách hàng về việc  
nhập và bày bán đồ chơi an toàn có chứng nhận của Cục Quản lý chất lượng hàng hoá.  
- Sản phẩm cần được bày trí gọn gàng, sạch sẽ, có sự đảm bảo, phân loại rõ ràng giữa các loại đồ  
chơi, bày trí phân bổ theo từng dòng sản phẩm.  
Giải pháp về chiêu thị  
- Thực hiện quảng cáo với các phương thức: Quảng cáo ngoài trời (Pano, bảng hiệu), quảng cáo  
trên báo chí, trên Internet...  
- Chú trọng việc quảng cáo thông qua hệ thống phân phối, các cửa hàng kinh doanh như pano,  
hộp đèn…  
- Có thể liên kết với các trường mầm non, các mạnh thường quân mua hàng vào dịp Tết trung  
thu, Quốc tế thiếu nhi hay phát thưởng cho các bé vào cuối năm học.  
274  
Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH toàn quốc lần thứ IV các Trường Đại học khối ngành Kinh tế & QTKD  
- Xây dựng và đưa vào trong nội dung quảng cáo thông điệp mà mình muốn chuyển tải, thông  
qua đó, giúp các bậc phụ huynh dễ dàng liên tưởng đến thương hiệu.  
- Xây dựng một chiến lược khuyến mãi có hệ thống và độc đáo, mang dấu ấn riêng cho nhãn  
hàng của mình, không nên chạy theo và bắt chước các thương hiệu khác.  
- Các doanh nghiệp không nên tập trung khuyến mãi vào cuối năm mà nên chia đều trong suốt cả  
năm nhằm thu hút và giữ được một lượng khách hàng ổn định. Có thể khuyến mãi vào dịp cuối năm  
học, Quốc tế thiếu nhi…để kích thích các bậc phụ huynh mua đồ chơi cho bé.  
Giải pháp khác  
- Thương hiệu: Thương hiệu là thành phần có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng đồ chơi cho bé.  
Yếu tố này chi phối và có sức ảnh hưởng tương đối mạnh đối với lựa chọn sản phẩm. Qua khảo sát cho  
thấy, khách hàng thích mua những loại đồ chơi có thương hiệu nổi tiếng, những sản phẩm có kích cỡ  
và thiết kế bao bì đẹp. Mẫu thiết kế bao bì càng bắt mắt, khách hàng thường có xu hướng mua sản  
phẩm đó nhiều hơn. Do phần lớn, các bậc phụ huynh chọn mua sản phẩm thường đánh giá sản phẩm  
qua yếu tố cảm quan bên ngoài. Vì vậy doanh nghiệp cần chú ý đến thương hiệu thu hút người tiêu  
dùng.  
- Kiểu dáng: Đồ chơi trẻ em trên thị trường rất đa dạng về mẫu mã, chất lượng… từ đồ chơi bằng  
nhựa, đồ chơi bằng gỗ đến sành, sứ, vải… Tuy nhiên khi lựa chọn đồ chơi cho bé các phụ huynh cũng  
rất quan tâm về kiểu dáng, mẫu mã cho phù hợp với lứa tuổi của bé. Vì vậy doanh nghiệp sản xuất đồ  
chơi trẻ em cần:  
+ Cải tiến công nghệ trong dây chuyền sản xuất để đưa ra thị trường những sản phẩm đẹp và  
nhiều tiện ích, giá cả phải chăng.  
+ Đồ chơi phải phù hợp với lứa tuổi của bé.  
+ Đồ chơi phải đảm bảo tính an toàn và kiểu dáng, màu sắc phải bắt mắt.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[5] Huyền Cao (2015), Thị trường đồ chơi trẻ em: Hàng Việt ở đâu? ngày truy cập 10/7/2015,  
[6] Nguyễn Thị Hảo (2014), Ghi nhận kết quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em từ năm  
2011  
đến  
nay,  
ngày  
truy  
cập:  
10/7/2015,  
275  
pdf 11 trang Thùy Anh 19060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng hành vi tiêu dùng đồ chơi trẻ em tại thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_hanh_vi_tieu_dung_do_choi_tre_em_tai_th.pdf