Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm có thành phần chính là tảo xoắn spirulina của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 46, 2020  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH  
PHẦN CHÍNH LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
PHẠM XUÂN GIANG1, VÕ MINH TRÍ2  
1Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh,  
2Công ty SMAC Vietnam  
Tóm tắt. Sản phẩm có thành phần chính - tảo xoắn Spirulina - là một dạng thực phẩm tốt cho sức khỏe  
nhưng được sản xuất và kinh doanh ở nước ta chưa lâu. Vì vậy, để sản phẩm trở nên quen thuộc, sau đó tìm  
cách gia tăng ý định và cuối cùng thực hiện hành vi mua của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh là  
một việc cần thiết. Trên cơ sở khảo sát 350 khách hàng tiềm năng với 320 phiếu khảo sát hợp lệ và dữ liệu  
được xử lý bằng phần mềm SPSS 20, nghiên cứu đã cho thấy, bốn thang đo độc lập là: thái độ đối với sản  
phẩm, chuẩn chủ quan, sự kiểm soát hành vi được cảm nhận và rủi ro cảm nhận được chọn đưa vào mô  
hình có ảnh hưởng tới 69,6% ý định mua. Theo đó, 4 hàm ý quản trị được rút ra từ kết quả nghiên cứu. Hy  
vọng rằng, những hàm ý này, nếu được các doanh nghiệp thực hiện, sẽ làm gia tăng ý định mua sản phẩm  
của người tiêu dùng tại thành phố  
Từ khóa. Ý định mua, SP+S, FOSHU, người tiêu dùng, TP.HCM, Cronbach’Alpha, EFA, Tương quan hồi  
quy  
FACTORS AFFECTING THE BUYING INTENTION FOR PRODUCTS WITH  
SIPIRULINA INGREDIENT OF HO CHI MINH CITY’S CONSUMERS  
Abstract. The product has the main ingredient - Spirulina algae - is a good food for health but not produced  
and traded in our country for long. Therefore, in order for the product to become familiar, to increase buying  
intention and then to implement the buying behavior of consumers in Ho Chi Minh City, it is necessary. On  
the surveying of 350 potential customers with 320 valid questionnaires and data processed by SPSS 20, the  
study has shown that, four independent variables are: attitudes towards products, subjective norm, the  
perceived behavioral control and the perceived risk of being included in the model affects 69.6% of the  
intention to buy. Accordingly, 4 managerial implications are drawn from the research results. Hopefully,  
these implications, if implemented by businesses, will increase the buying intention of consumers in the  
city.  
Keywords. Buying intention, SP+S, FOSHU, Consumers in Hochiminh city, Cronbach Alpha, EFA,  
Correlation.  
1. GIỚI THIỆU  
Sản phẩm có thành phần chính là tảo xoắn Spirulina (SP+S) là một dạng thực phẩm tốt cho sức khỏe  
(FOSHU). Đây là loài vi tảo có dạng xoắn hình lò xo, màu xanh lam với kích thước chỉ khoảng 0,25mm.  
Chúng sống trong môi trường nước giàu bicarbonat (HCO3) độ kiềm cao (PH từ 8.5-11). Spirulina chứa  
hàm lượng protein rất cao, đồng thời chứa đầy đủ các loại vitamin và một số chất có hoạt tính sinh học  
khác. Giá trị protein trung bình của Spirulina là 65%, cao gấp nhiều lần so với các loại FOSHU khác. Trong  
thành phần của loại thực phẩm này, tảo xoắn Spirulina chiếm trên 80% tổng trọng lượng.  
Ngày nay SP+S đã phổ biến và có nhu cầu cao tại các thành phố lớn của Việt Nam cũng như trên toàn thế  
giới. Tuy vậy, SP+S đang có mặt ở nuớc ta nói chung và thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nói riêng  
chủ yếu lại có nguồn gốc từ Mỹ, Thụy Điển và Nhật Bản. Theo đó, dạng sản phẩm viên nén, đóng chai là  
phổ biến nhất.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
99  
Nhận biết xu hướng gia tăng sử dụng SP+S của người tiêu dùng Việt Nam, từ 2015 một số công ty, như:  
Vĩnh Hảo (Bình Thuận), Suối Nghệ (Đồng Nai), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Đông Anh (Hà Nội), Tiên Du  
(Bắc Ninh), Tiên Yên (Quảng Ninh), Green&Green (Khánh Hòa),.v.v … đã bắt đầu nuôi tảo xoắn Spirulina  
và chế biến thành thực phẩm. Sản phẩm của các công ty trong nuớc sản xuất chủ yếu là dạng cốm có chất  
lượng không thu kém hàng nhập và được bán chủ yếu trong các cửa hàng thuốc Tây.  
Việc sản xuất và kinh doanh sản phẩm SP+S ở nuớc ta chưa lâu, vì vậy để có thể đẩy mạnh tiêu thụ sản  
phẩm, việc nắm bắt được ý định mua SP+S của người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng ở TP.HCM là  
một việc làm cần thiết. Chính vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố chính có ảnh hưởng  
đến ý định mua SP+S của người tiêu dùng TP.HCM, sau đó tiến hành đo lường và kiểm định mức độ ảnh  
hưởng của các yếu tố này và cuối cùng, đề xuất một số hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp sản xuất và  
kinh doanh SP+S nhằm làm tăng ý định mua của người tiêu dùng tại TP.HCM  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Đối tượng nghiên cứu được xác định là các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua SP+S của người tiêu dùng  
TP.HCM và đối tượng khảo sát là khách hàng của các cửa hàng thuốc Tây tại các quận 1, 3, 5, 6, 10, Phú  
Nhuận đã biết loại sản phẩm SP+S. Hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài báo là định tính  
và định lượng.  
Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận trực tiếp với 4 chủ cửa hàng  
thuốc Tây có kinh doanh SP+S và 3 khách hàng thân thiết của các cửa hàng này trên địa bàn TP.HCM với  
một dàn bài được thiết lập trước nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung thang đo và biến quan sát.  
Phương pháp nghiên cứu định luợng gồm 2 bước là định lượng sơ bộ và định lượng chính thức. Dữ liệu sử  
dụng trong nghiên cứu định lượng sơ bộ được điều tra thuận tiện từ 30 khách hàng, được kiểm định  
cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm mục đích đánh giá sơ bộ thang đo và biến  
quan sát. Ngoài ra, việc thực hiện buớc nghiên cứu này còn là cơ sở để điều chỉnh từ ngữ, nội dung của  
bảng hỏi qua việc không hiểu hoặc hiểu không đồng nhất giữa những người được điều tra.  
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu định lượng chính thức được điều tra thuận tiện từ 350 khách hàng và  
được xử lý bởi phần mềm SPSS 20 nhằm đo lường và kiểm định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố ảnh  
hưởng đến ý định mua SP+S của người tiêu dùng TP.HCM.  
Vì khuôn khổ có giới hạn, nên nội dung của bài báo chỉ được thể hiện kết quả nghiên cứu định lượng chính  
thức.  
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
3.1 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
Theo ông Trần Đáng, nguyên Cục trưởng cục An toàn Vệ sinh thực phẩm thuộc Bộ Y tế, thì FOSHU là loại  
thực phẩm có nhiều công dụng, như: chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ bệnh  
tật, hỗ trợ làm đẹp, tạo cho con người có sức khỏe sung mãn, hỗ trợ điều trị được rất nhiều chứng bệnh.  
SP+S thuộc FOSHU và hơn thế, nó là loại thực phẩm tốt hàng đầu của FOSHU.  
Theo Elbeck (2008), ý định mua được mô tả là sự sẵn sàng của khách hàng trong việc mua sản phẩm. Việc  
bán hàng của doanh nghiệp có thể được khảo sát dựa trên ý định mua của khách hàng. Dự đoán ý định mua  
là bước khởi đầu để dự đoán được hành vi mua thực tế của khách hàng (Howard và Sheth, 1967). Từ đó, ý  
định mua được xem là cơ sở để dự đoán cầu trong tương lai (Warshaw, 1980; Bagozzi, 1983; Fishbein và  
Ajzen, 1975)  
Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) được xây dựng bởi Ajzen và Fishbein vào năm 1975 và lý thuyết hành vi  
có kế hoạch (TPB) được phát triển bởi Ajzen vào năm 1991 là lý thuyết nền cho vấn đề nghiên cứu. Theo  
đó, đã có nhiều nghiên cứu về hành vi “ý định” mua FOSHU nói chung và thực phẩm an toàn nói riêng  
được thực hiện trên cơ sở của hai lý thuyết này. Điển hình là các nghiên cứu ở ngoài và trong nuớc sau đây:  
G. Rezai và cộng sự (2012) có nghiên cứu về ý định mua FOSHU của những người tiêu dùng trẻ ở khu vực  
Klang Valley (Malaysia) với bốn thang đo độc lập là nhận thức và cảm nhận về sản phẩm, thái độ đối với  
sản phẩm, chuẩn chủ quan và cuối cùng là thang đo sự kiểm soát hành vi  
NinaUrala (2005) thì có nghiên cứu về ý định mua FOSHU của người tiêu dùng Phần Lan. Theo đó có bốn  
thang đo độc lập trong mô hình của nghiên cứu này, là: lợi ích có được từ việc dùng sản phẩm, sự cần thiết  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
100  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
của sản phẩm, sự tin tưởng và tự tin dùng sản phẩm, cuối cùng là sự toàn của sản phẩm  
Markovina và cộng sự (2011) lại có nghiên cứu về ý định mua FOSHU của những người tiêu dùng trẻ tuổi  
ở Croatia. Theo đó, mô hình nghiên cứu chỉ gồm ba thang đo là nhận thức về sức khỏe, sự tin tưởng vào  
sản phẩm, giá cả và chất lượng sản phẩm.  
Mitchell và Ring (2010) đã kiểm định ba yếu tố có ảnh hưởng đến ý định mua FOSHU của người tiêu dùng  
Thụy Điển là thái độ đối với sản phẩm, chuẩn chủ quan và sự kiểm soát hành vi được cảm nhận  
Nghiên cứu của Phạm Xuân Giang và Lê Thanh Hòa (2018) về ý định mua thực phẩm an toàn của người  
tiêu dùng tại một số quận trung tâm của TP.HCM với bảy thang đo độc lập là thái độ đối với môi trường,  
sự quan tâm tới sức khỏe, nhận thức về giá bán, nhận thức về chất lượng, sự sẵn có của sản phẩm, chuẩn  
chủ quan và truyền thông đại chúng;  
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2015) về ý định mua thực phẩm chức năng của người tiêu dùng tại  
Đà Nẵng với năm thang đo độc lập. Đó là thái độ, kiến thức, niềm tin kiểm soát, ý thức sức khỏe và truyền  
thông xã hội  
Nghiên cứu của Lê Thùy Hương (2014) đã chỉ ra có chín thang đo độc lập ảnh hưởng đến ý định mua thực  
phẩm an toàn của cư dân TP.Hà Nội là sự quan tâm đến sức khỏe, nhận thức về chất luợng, sự quan tâm  
đến môi trường, chuẩn mực chủ quan, nhận thức về sự sẵn có của sản phẩm, nhận thức về giá bán, tham  
khảo-thông tin, tham khảo-tuân thủ, tham khảo-giá trị bản thân và truyền thông đại chúng.  
Từ các công trình tham khảo trên đây kết hợp việc thảo luận tay đôi với từng thành viên trong phân tích  
định tính, có bốn thang đo độc lập được chọn đưa vào nghiên cứu thực nghiệm này là: Thái độ đối với sản  
phẩm; Chuẩn chủ quan; Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận và Rủi ro cảm nhận. Từ đó giả thuyết và mô  
hình nghiên cứu được xác định  
- Thái độ đối với sản phẩm  
Thái độ đối với hành vi là mức độ mà một người đánh giá một hành vi là tích cực hoặc tiêu cực (Fishbein  
và Ajzen, 1975). Thái độ là một trạng thái tâm lý diễn tả sự đánh giá một chủ thể với các mức độ từ thích  
đến không thích (Eagly và Chaiken, 1993, trích Mitchell và Ring, 2010). Trong nghiên cứu này, thái độ  
được dùng để chỉ trạng thái tâm lý cho ý định mua SP+S.  
+ Giả thuyết H1: Thái độ đối với SP+S có tác động đồng biến (+) đến ý định mua SP+S.  
- Chuẩn chủ quan  
Chuẩn chủ quan được hiểu như là sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, trước hết là hành động và lời  
khuyên của bạn bè, người thân, người nổi tiếng hoặc các nhóm tham khảo khác đến người tiêu dùng. Điều  
đó làm nảy sinh nơi người tiêu dùng một ý định hành vi cụ thể, ở đây là ý định mua và sử dụng SP+S.  
+ Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có tác động đồng biến (+) đến ý định mua SP+S.  
- Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận  
Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận đề cập đến nhận thức về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện  
các hành vi (Ajzen, 1991). Ajzen cho rằng sự kiểm soát hành vi là sự cảm nhận của cá nhân về mức độ dễ  
hay khó thực hiện hành vi cụ thể. Và Ông cũng cho rằng sự kiểm soát hành vi sẽ tác động lên ý định hoặc  
hành vi dựa trên các kỹ năng, tài nguyên và cơ hội để ngăn chặn, hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi.  
+ Giả thuyết H3: Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận có tác động đồng biến (+) đến ý định mua SP+S  
.
- Rủi ro cảm nhận  
Rủi ro được đánh giá từ lúc sản phẩm được nuôi trồng, đóng gói, phân phối đến quy trình chế biến thức ăn  
(Lucas, 2004). Trong nghiên cứu này, rủi ro khi dùng SP+S là những rủi ro hay tác dụng phụ mà người tiêu  
dùng có thể gặp phải khi họ dùng các sản phẩm SP+S. Chính rủi ro mà người tiêu dùng cảm nhận càng lớn,  
càng làm giảm ý định mua SP+S của họ  
+ Giả thuyết H4: Rủi ro cảm nhận có tác động nghịch biến (-) đến ý định mua SP+S.  
Từ những phân tích trên đây, mô hình nghiên cứu bao gồm bốn thang đo độc lập và một thang đo phụ thuộc:  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
101  
Thái độ đối với SP+S  
H1+  
Chuẩn chủ quan  
H2+  
Sự kiểm soát hành vi được  
cảm nhận  
H3+  
H4-  
Ý định mua SP+P  
Rủi ro cảm nhận  
Sơ đồ 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Có 35 biến quan sát của các thang đo độc lập và phụ thuộc được tổng hợp từ những nghiên cứu tham khảo  
trên đây. Tuy nhiên, trong bước nghiên cứu định tính theo góp ý của các chuyên gia thì có 9 biến bị loại, 5  
biến phải điều chỉnh tên gọi. Kết quả còn lại 26 biến và cách mã hóa như trong bảng 1:  
Bảng 1: Thang đo, biến và mã hóa biến quan sát  
STT  
Mã hóa  
Thang đo và biến quan sát  
Thái độ đối với SP+S (A)  
1
2
3
A1  
A2  
Tôi nhận thấy SP+S có những tác dụng có lợi đến sức khỏe của tôi.  
Tôi thấy rằng việc sử dụng SP+S là một phần của cuộc sống  
Tôi nhận thấy việc dùng SP+S là cách thuận tiện để có thể có được những  
dưỡng chất cần thiết cho cuộc sống thường ngày.  
A3  
4
5
6
A4  
A5  
A6  
A7  
Tâm trạng của tôi sẽ được cải thiện khi tôi dùng SP+S.  
Vẻ bề ngoài của tôi có thể được cải thiện khi tôi dùng SP+S.  
Tôi thấy việc dùng SP+S là cách dễ dàng để có cuộc sống khỏe mạnh.  
7
Tôi có thể ngăn ngừa được bệnh tật khi dùng SP+S thường xuyên.  
Chuẩn chủ quan (B)  
8
B1  
B2  
B3  
B4  
B5  
B6  
Gia đình (cha mẹ, anh chị …) tôi cho rằng tôi nên mua SP+S.  
Bạn bè tôi cho rằng tôi nên mua SP+S.  
Đồng nghiệp tôi cho rằng tôi nên mua SP+S.  
Gia đình tôi đều dùng SP+S.  
9
10  
11  
12  
13  
Bạn bè tôi đều dùng SP+S.  
Đồng nghiệp tôi đều dùng SP+S.  
Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận (C)  
14  
15  
C1  
C2  
Tôi tự tin sẽ sử dụng SP+S trong thời gian tới.  
Đối với tôi, việc sử dụng SP+S là dễ dàng.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
102  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
16  
C3  
C4  
Nếu tôi muốn, tôi có thể mua SP+S.  
17  
Tôi hoàn toàn tự quyết định việc tôi sử dụng SP+S trong tương lai  
Rủi ro cảm nhận (D)  
18  
19  
20  
D1  
D2  
D3  
Tôi sợ rằng SP+S sẽ có các tác dụng phụ.  
Tôi không biết SP+S có những ảnh hưởng như thế nào đến cơ thể tôi.  
Tôi nghi ngờ người ta sử dụng hóa chất khi chế biến SP+S.  
21  
D4  
Tôi lo ngại SP+S sẽ ảnh hưởng xấu đến tôi nếu tôi dùng quá nhiều.  
Ý định mua SP+S (E)  
1.  
2.  
3.  
4.  
5.  
E1  
E2  
E3  
E4  
E5  
Tôi có ý định mua SP+S.  
Tôi sẽ mua SP+S trong thời gian tới.  
Tôi có ý định khuyên gia đình mua SP+S.  
Tôi có ý định khuyên bạn bè mua SP+S.  
Tôi có ý định khuyên đồng nghiệp mua SP+S.  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả  
3.2 Kết quả nghiên cứu  
3.2.1 Mẫu và cơ cấu mẫu  
Kích thước mẫu: Theo Hair & ctg (2006) (được trích bởi Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2011) thì kích thước  
mẫu tối thiểu phải là 100 với tỷ lệ 5:1 (nghĩa là 1 biến quan sát cần tối thiểu 5 đơn vị điều tra). Mô hình của  
nghiên cứu có 21 biến quan sát độc lập, vì vậy kích thước mẫu tối thiểu được xác định là 21*5= 105. Tuy  
nhiên, để tăng độ chính xác và đề phòng có phiếu điều tra không hợp lệ phải loại bỏ, số phiếu khảo sát phát  
ra là 350 phiếu, trong đó có 320 phiếu hợp lệ (chiếm 91,4%). Mẫu được chọn bằng hình thức thuận tiện với  
đối tượng khảo sát là khách hàng của các cửa hàng thuốc Tây tại 6 quận trung tâm của TP.HCM đã biết  
loại sản phẩm SP+S  
Cơ cấu mẫu được xác định theo 5 tiêu chí là giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập.  
Theo đó, kết quả cho thấy: về giới tính thì khách hàng nữ chiếm tỷ trọng cao hơn so với nam; về độ tuổi  
của khách hàng thì 4 nhóm độ tuổi chiếm tỷ trọng tương đương; về trình độ học vấn thì khách hàng có trình  
độ đại học, về nghề nghiệp thì khách hàng là nhân viên văn phòng và về mức thu nhập thì những khách  
hàng có mức thu nhập bình quân từ 5-10 triệu đồng/tháng chiếm tỷ trọng cao nhất trong mẫu nghiên cứu  
Kiểm định Cronbach’s Alpha với mục đích loại bỏ các thang đo và biến quan sát không đạt chuẩn. Cụ thể:  
(1)Thang đo bị loại khỏi mô hình nghiên cứu khi có hệ số Cronbach’s Alpha <0.6; và (2)Biến quan sát bị  
loại khỏi thang đo khi có hệ số tương quan biến tổng <0,3  
3.2.2 Kiểm định Cronbach’Alpha  
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo độc lập  
Trong 4 thang đo độc lập chỉ có thang đo “Thái độ đối với SP+S” (Mã hóa là A) phải chạy Cronbach’s  
Alpha 2 lần. Lần 1, biến A4:“Tâm trạng của tôi sẽ được cải thiện khi tôi dùng SP+S” có hệ số tương  
quan biến tổng bằng 0,236<0,3 nên bị loại. Kết quả chạy lần 2, có hệ số Cronbach’s Alpha tổng thể của  
thang đo này tăng từ 0,811 lên 0,838>0,6. 6 biến quan sát còn lại có hệ số tương quan biến tổng đều lớn  
hơn 0.3.  
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo phụ thuộc  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
103  
Sau kiểm định lần 1, thang đo phụ thuộc “Ý định mua SP+S” (Mã hóa là E) có hệ số Cronbach’s Alpha là  
0,804>0,6 đồng thời cả 5 biến quan sát đều đạt yêu cầu để đưa vào bước phân tích tiếp theo.  
Tóm lại: Sau kiểm định Cronbach’s Alpha, biến quan sát của các thang đo độc lập bị loại 1 biến, còn lại  
20; số biến quan sát của thang đo phụ thuộc vẫn là 5 biến.  
3.2.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Phân tích EFA với mục đích loại những biến quan sát có hệ số tải nhân tố (factor loading) nhỏ hơn 0,5 và  
kiểm tra độ lớn của phương sai trích.  
Với thang đo độc lập, phân tích EFA lần đầu có hai biến là B2 và C4 cùng tải lên 2 hệ số nên phải xem xét  
để loại. Biến C4 tải lên 2 hệ số là 0,581 và 0,643 tương tự biến B2 là 0,615 và 0,655. Biến C4 bị loại trước  
vì hệ số tải nhân tố lớn nhất của biến này nhỏ hơn của B2 (0,643<0,655), tiếp tục phân tích tương tự để loại  
biến B2. Kết quả phân tích lần thứ ba-là lần cuối cùng, còn lại 18 biến:  
Bảng 2: Kiểm định KMO và Bartlett’s  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.  
Approx. Chi-Square  
Df  
Sig.  
0,891  
1978,620  
153  
Bartlett's Test of Sphericity  
0,000  
Kết quả kiểm định có hệ số KMO = 0,891> 0.5 nên phân tích nhân tố là thích hợp. Giá trị Sig. (Bartlett’s  
test) = 0,000 < 0,05 chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.  
Phân tích EFA cũng cho thấy, giá trị Eigenvalues = 1,163>1 của phương pháp trích Principal Components  
đã rút trích được 4 yếu tố từ 18 biến quan sát; tổng phương sai trích bằng 58,921%>50%, chứng tỏ rằng  
58,921% biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 4 yếu tố  
Bảng 3: Ma trận xoay các thành phần  
Component  
Tên biến  
1
2
3
4
A2  
A3  
A1  
A5  
A6  
A7  
B5  
B4  
B3  
B1  
B6  
D2  
D1  
D4  
D3  
C2  
C3  
C1  
0,745  
0,718  
0,716  
0,712  
0,696  
0,688  
THÁI ĐỘ  
(A)  
0,726  
0,708  
0,702  
0,698  
0,692  
CHUẨN CHÙ  
QUAN  
(B)  
0,770  
0,757  
0,746  
0,736  
RỦI  
RO  
(D)  
0,782  
0,731  
0,686  
HÀNH  
VI (C)  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả  
Với thang đo phụ thuộc, kết quả EFA có hệ số KMO = 0,831> 0,5 nên phân tích nhân tố là thích hợp, giá  
trị Sig. (Bartlett’s test) = 0,000 < 0,05 chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể,  
tổng phương sai trích bằng 56,373% >50 % chứng tỏ 56.373% biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 1  
yếu tố.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
104  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Tóm lại: Với thang đo độc lập, sau phân tích EFA 2 biến quan sát bị loại là C4 và B2, số biến còn lại là  
18, tất cả chúng đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0.5 và được gom thành 4 nhóm yếu tố. Với thang đo phụ  
thuộc, hệ số tải nhân tố của 5 biến trong thành phần của nó cũng đều lớn hơn 0.5 và một yếu tố đã được tạo  
ra. Mô hình nghiên cứu được hiệu chỉnh sau EFA là:  
Thái độ  
H1+  
Chuẩn chủ quan  
H2+  
Ý định mua SP+P  
H4-  
Rủi ro  
H3+  
Hành vi  
Hình 2: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh  
3.2.4 Phân tích hồi quy bội  
Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy, các biến độc lập trong bảng Correlations đều có quan hệ tương  
quan với biến phụ thuộc với mức ý nghĩa Sig.<0,05. Trong đó, biến “Thái độ” có hệ số tương quan mạnh  
nhất (71,8%), tiếp theo là biến “Rủi ro” 63%, biến “Chuẩn chủ quan” là 52,6% và cuối cùng biến “Hành  
vi” có hệ số tương quan yếu nhất là 42,6% đối với biến phụ thuộc “Ý định mua SP+S”. Như vậy có ba biến  
là đồng biến và một biến là nghịch biến với biến phụ thuộc.  
Đồng thời, qua bảng này cũng bước đầu cho biết, không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập,  
vì hệ số tương quan của từng cặp biến độc lập đều nhỏ hơn 80%.  
Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình thể hiện trong bảng 4. Theo đó, F=183,583 và Sig = 0,000  
<0,05 chứng tỏ mô hình lý thuyết phù hợp với thực tế, các biến độc lập có tương quan tuyến tính với biến  
phụ thuộc  
Bảng 4: Phương sai ANOVAa  
Mô hình  
Tổng bình  
phương  
df  
Trung bình bình  
F
Mức ý  
nghĩa Sig.  
phương  
Regression  
70,630  
30,298  
100,928  
4
17,658  
0,096  
183,583  
0,000b  
1
Residual  
Total  
315  
319  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả  
Độ phù hợp của mô hình thể hiện trong bảng 5 là khá tốt, với R2 = 0,700 và R2 hiệu chỉnh = 0,696 chứng  
tỏ 69,6% “Ý định mua SP+S” được giải thích bởi 4 biến độc lập. Đồng thời mô hình không có hiện tượng  
tự tương quan vì hệ số Durbin-Watson =2,260 nằm trong khoảng 1-3.  
Bảng 5: Hệ số xác định  
Mô hình  
R
R bình  
R bình phương  
Sai số chuẩn ước  
Hệ số Durbin-Watson  
phương  
hiệu chỉnh  
lượng  
1
0,837a  
0,700  
0,696  
0,31013  
2,260  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
105  
Độ lớn của các hệ số hồi quy bội được thể hiện trong bảng 6. Theo đó, biến thái độ có hệ số beta lớn nhất  
bằng 0,505; tiếp theo là biến rủi ro bằng -0,382; biến chuẩn chủ quan bằng 0,102 và cuối cùng biến sự  
kiểm soát hành vi với beta bằng 0,92  
Bảng 6: Hệ số hồi quy  
Mô hình  
Hệ số hồi quy chưa chuẩn Hệ số hồi  
t
Mức ý  
nghĩa  
Sig.  
Thống kê đa cộng  
tuyến  
hóa  
quy chuẩn  
hóa  
B
Std. Error  
Beta  
Độ chấp  
nhận  
Hệ số  
VIF  
(Constant)  
2,667  
0,170  
0,025  
0,026  
0,022  
0,027  
15,651  
0,505 14,090  
2,671  
2,537  
-0,382 -10,838  
0,000  
0,000  
0,008  
0,012  
0,000  
A
B
C
D
0,357  
0,070  
0,057  
-0,294  
0,741  
0,653  
0,725  
0,767  
1,350  
1
0,102  
0,092  
1,531  
1,379  
1,303  
a. Dependent Variable:E  
Nguồn: Tinh toán của nhóm tác giả  
Cột cuối cùng của bảng 6 có hệ số VIF <10 thể hiện dữ liệu nghiên cứu không có hiện tượng đa cộng tuyến,  
các biến độc lập đảm bảo tính “độc lập” giữa chúng.  
Kết quả hồi quy trên đây cũng cho phép khẳng định, 4 giả thuyết của mô hình nghiên cứu đều được chấp  
nhận, ba biến độc lập là thái độ, chuẩn chủ quan, hành vi có tác động thuận chiều và một biến là rủi ro có  
tác động nghịch chiều lên biến phụ thuộc-Ý định mua SP+S. Cụ thể:  
Bảng 7: Kết quả kiểm định giả thuyết  
Tên giả  
thuyết  
H1.  
Nội dung giả thuyết  
Kết luận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Thái độ đối với SP+S có tác động đồng biến (+) đến ý định mua SP+S.  
H2.  
H3.  
H4.  
Chuẩn chủ quan có tác động đồng biến (+) đến ý định mua SP+S.  
Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận có tác động đồng biến (+) đến ý định  
mua SP+S  
.
Rủi ro cảm nhận có tác động nghịch biến (-) đến ý định mua SP+S.  
Nguồn: Kết quả kiểm định của nhóm tác giả  
Tiến hành kiểm định đặc trưng mẫu theo 5 tiêu chí là giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và  
thu nhập, kết quả cho thấy, không có sự khác nhau về ý định mua SP+S giữa các nhóm khách hàng trong  
mẫu nghiên cứu.  
3.3 Một số hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu  
Hàm ý thứ nhất  
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến “Thái độ” có tác động tích cực, thuận chiều đến ý định mua SP+S của  
khách hàng với beta bằng 0,505. Bởi vậy, các doanh nghiệp cần sử dụng hợp lý các loại kênh truyền thông  
nhằm đưa thông tin đến với người tiêu dùng (trước hết là nguời già và nguời có bệnh mãn tính) làm cho họ  
hiểu được lợi ích sức khỏe khi dùng SP+S, từ đó hình thành nơi người tiêu dùng thái độ tích cực và dẫn đến  
hành vi mua.  
Thực tế khảo sát tại TP.HCM đã cho thấy, vẫn còn khách hàng của các tiệm thuốc Tây chưa biết đến loại  
sản phẩm này và vì thế họ khá thờ ơ với SP+S. Bởi vậy, ngoài việc sử dụng kênh truyền thông đại chúng,  
các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh SP+S cần quan tâm sử dụng nhân viên của các tiệm thuốc Tây  
với một chế độ hoa hồng hợp lý để giới thiệu, quảng bá SP+S.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
106  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Hàm ý thứ hai  
Biến “Rủi ro” có tác động nghịch chiều và ảnh hưởng lớn, với beta bằng -0,382, đến ý định mua SP+S. Vì  
vậy, doanh nghiệp phải phấn đấu đạt được các chứng nhận chất lượng quốc tế như một sự cam kết về tính  
an toàn và chất lượng sản phẩm SP+S. Đồng thời, các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình qui trình kiểm  
soát rủi ro, để kiểm soát tác dụng phụ cũng như tình trạng mất an toàn của sản phẩm. Cũng quan trọng  
không kém là doanh nghiệp phải có kênh tương tác với người tiêu dùng để luôn lắng nghe, giải đáp kịp thời  
những thắc mắc liên quan đến SP+S và tư vấn sử dụng sản phẩm. Kênh tương tác này của doanh nghiệp  
phải được thiết lập sao cho thuận tiện và hữu ích đối với người tiêu dùng  
Hàm ý thứ ba  
Biến “Chuẩn chủ quan” có ảnh hưởng mạnh thứ ba và thuận chiều đến việc nảy sinh ý định mua SP+S nơi  
người tiêu dùng với beta bằng 0,102. Thực tế đã chỉ ra rằng, nhận thức về lợi ích của FOSHU nói chung,  
SP+S nói riêng thông qua truyền miệng có ảnh hưởng lớn đến người tiêu dùng. Bởi vậy, nếu nhận biết  
người trong cùng một gia đình, bà con, bạn bè, đồng nghiệp đã sử dụng SP+S, chắc chắn người tiêu dùng  
sẽ nảy sinh ý định mua loại sản phẩm này. Để thông tin truyền miệng đến được với người tiêu dùng, doanh  
nghiệp cần thúc đẩy các hoạt động cộng đồng nhằm thông tin về lợi ích của SP+S. Hiệu ứng của chiêu  
marketing lan truyền này sẽ đưa thông tin đến được với người tiêu dùng, kể cả người tiêu dùng chưa mấy  
quan tâm đến SP+S. Kết quả tất yếu là sẽ hình thành một xu hướng ứng xử mới đối với SP+S, từ đó làm  
tăng ý định mua.  
Hàm ý thứ tư  
Biến độc lập “Hành vi” có tác động thuận chiều và đây là biến có ảnh hưởng yếu nhất đến ý định mua SP+S  
của người tiêu dùng với beta bằng 0,092. Theo đó, các thông tin về sự hữu ích, sự an toàn sau khi dùng  
SP+S đối với sức khỏe và đối với hình thức con người được truyền thông, thì người tiêu dùng mới tiếp nhận  
thông tin qua giao tiếp “nghe”. Điều cần thiết đối với các doanh nghiệp kinh doanh SP+S là làm sao để cho  
người tiêu dùng tiếp nhận những thông tin đó qua giao tiếp rất quan trọng nữa là “thấy”. Bởi “trăm nghe  
không bằng mắt thấy”. Thấy ở đây có thể là thấy người thật hay thấy qua hình ảnh của những người đã sử  
dụng SP+S (tốt nhất là người nổi tiếng) đã sử dụng SP+S với hình thức nổi trội, khỏe mạnh,…Từ đó, hình  
thành và kích thích người tiêu dùng của thành phố sử dụng sản phẩm tảo xoắn.  
4. HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO  
Hạn chế của nghiên cứu là việc lấy mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phi xác suất và kích thước  
mẫu chưa lớn. Thêm nữa, thông tin thu thập cho nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một số quận ở trung tâm  
thành phố. Vì vậy, các hàm ý quản trị chưa mang tính phổ quát cao cho cả TP.HCM.  
Tăng cường tính đại diện của mẫu nghiên cứu bằng cách lấy mẫu trên tất cả các quận, huyện của thành phố  
theo tỷ lệ dân số của từng quận, huyện trong tổng số dân của thành phố. Đồng thời đưa thêm vào mô hình  
nghiên cứu một số thang đo độc lập, biến kiểm soát mới. Kết quả là các hàm ý quản trị sẽ có tính phổ quát  
cao hơn cho cả TP.HCM. Ngoài ra, để công ty thực phẩm, trước hết là các công ty sản xuất bánh kẹo, thức  
ăn nhanh, thức ăn khô, bánh mì, đồ uống,… tăng doanh số bán hàng, trong sản xuất cần nghiên cứu bổ sung  
thành phần tảo xoắn nhằm tăng dưỡng chất cho người tiêu dùng. Kết quả là thúc đẩy doanh số không những  
cho ngành sản xuất thực phẩm mà còn cho cả ngành sản xuất và kinh doanh tảo xoắn.  
5. KẾT LUẬN  
Ý định mua sản phẩm SP+S phụ thuộc đến 69,6% bốn yếu tố trong mô hình nghiên cứu. Theo đó có bốn  
hàm ý quản trị đã được đề xuất. Hy vọng rằng, những hàm ý này, nếu được các doanh nghiệp kinh doanh  
SP+S thực hiện, sẽ làm gia tăng ý định mua của người tiêu dùng tại TP.HCM nói riêng và cả nuớc nói  
chung đối với loại sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên và thân thiện với môi trường này./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision process, 50, 179-211.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ THÀNH PHẦN CHÍNH  
LÀ TẢO XOẮN SPIRULINA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
107  
[2] Annunziata, A. & Vecchio, R. (2011). Factors affecting Italian consumer attitudes toward functional food.  
Agbioforum, 14(1), 10-32.  
[3] Hair Jr., J. F., Haddock, R. L., & Michael, S. Q. (1998). Multivariate Data Analysis with Readings. Englewood  
Cliffs, NJ: Prentice-Hall.  
[4] Markovina, J., Cacic, J., Kljusuric, J. G. & Kovacic, D. (2011). Young consumers' perception of functional foods  
in Croatia. British food journal, 113(1), 7-16.  
[5] Mitchell, C. & Ring, E. (2010). Swedish consumers' attitudes and purchase intentions of functional food - A study  
based on the theory of planned behavior. Master Thesis, UMEA Universitet  
[6] O'Connor, E.L. & White, K. M. (2010). Willingness to trial functional foods and vitamin supplements: the role  
of attitudes, subjective norms and dread of risks. Food quality and preference, 21(1), 75-81.  
[7] Rezai, G., Teng, P. K., Mohamed, Z. & Shamsudin, M. N. (2012). Functional food knowledge and perceptions  
among young consumers in Malaysia. International journal of economics and management sciences. 6(3), 2012.  
[8] Urala, N. (2005). Functional food in Finland. VTT publication  
[9] Phạm Xuân Giang và Lê Thanh Hòa (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm an toàn của người  
tiêu dùng tại một số quận trung tâm TP.HCM. Tạp chí Khoa học và Công nghệ trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Số  
34.  
[10] Lê Thùy Hương (2014). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm an toàn của cư dân đô  
thị - Lấy ví dụ tại Thành phố Hà Nội. Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.  
[11] Nguyễn Thị Thu Hà (2015). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm chức năng của người  
tiêu dùng tại Đà Nẵng. Luận văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng.  
[12] Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu SPSS. Nhà xuất bản Thống kê.  
[13] Nguyễn Đình Thọ (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Nhà xuất bản Lao động Xã hội,  
Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 28/06/2019  
Ngày chấp nhận đăng: 28/08/2019  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
pdf 10 trang Thùy Anh 16080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm có thành phần chính là tảo xoắn spirulina của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_y_dinh_mua_san_pham_co_thanh_phan_c.pdf