Các quy định của pháp luật Việt Nam về dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và giải pháp hoàn thiện

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
VỀ DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP  
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN  
Nguyễn Thị Tuyển *  
*Phòng Pháp chế và Chính sách - Cục Sở hữu trí tuệ  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Hiện nay, việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) nói  
riêng và sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung là một trong những vấn đề mà  
các doanh nghiệp Việt Nam vấp phải trong giao thương trên thị trường  
quốc tế. Việc thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu thông tin, thiếu kinh nghiệm  
đã trở thành rào cản lớn đối với các doanh nghiệp trong việc bảo vệ thành  
quả đầu tư do chính họ sáng tạo. Từ đó, các dịch vụ hỗ trợ hệ thống bảo  
hộ SHCN cũng lần lượt ra đời và ngày càng được chú trọng hơn, trong  
đó phải kể tới dịch vụ đại diện SHCN và dịch vụ giám định SHCN.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật  
Việt Nam về dịch vụ đại diện SHCN và đề xuất giải pháp hoàn thiện.  
Từ khóa: Đại diện sở hữu công  
nghiệp, dịch vụ đại diện sở hữu  
công nghiệp.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 03/02/2021  
: 13/3/2021  
: 17/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Currently, one of the problems that Vietnamese enterprises facing is the  
protection and enforcement of industrial property rights in particular and  
intellectual property rights in general in the international trading market.  
Lack of legal knowledge, of information and of experience have become  
major barriers for businesses in protecting their investment results. From  
which, the protection system support services for industrial property rights  
have also come out in turn and have been paid more and more attention,  
including the representative services of industrial property rights and  
verification services of industrial property rights. This article provides a  
analysis of the provisions of Vietnamese law on representative services  
on industrial property rights and also recommendations for further  
improvements.  
Keywords: Representative  
services of industrial property,  
representative  
services  
of  
industrial property.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 03 Feb. 2021  
: 13 Mar. 2021  
: 17 Mar. 2021  
Approved  
Trong xu thế tự do hóa thương mại và  
hội nhập kinh tế thế giới, hệ thống bảo hộ  
sở hữu trí tuệ, trong đó có sở hữu công  
nghiệp, ngày càng khẳng định được vai trò  
quan trọng trong việc thúc đẩy năng lực đổi  
mới và đầu tư cho sáng tạo, tạo động lực  
phát triển khoa học và công nghệ, bảo đảm  
môi trường kinh doanh lành mạnh và công  
bằng, khai thác mọi nguồn lực tiềm năng  
trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài,  
góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã  
hội của đất nước. Sự phát triển của hệ thống  
bảo hộ SHTT tạo cho các doanh nghiệp  
ngày càng nhiều cơ hội phát triển nhưng  
cũng đặt ra không ít thách thức.  
Dịch vụ đại diện SHCN ở Việt Nam - một  
ngành kinh doanh có điều kiện, một dịch  
vụ pháp lý mang tính chuyên biệt cao đòi  
hỏi tính chuyên nghiệp cao, đã được hình  
thành từ những năm 1996. Cho tới nay, hệ  
thống này đã lớn mạnh lên rất nhiều cả về  
26  
Số 07(431) - T4/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
số lượng cũng như chất lượng1, chiếm được  
lòng tin của khách hàng trong và ngoài  
nước2 và ngày càng khẳng định được vai trò  
hết sức quan trọng của mình trong hệ thống  
bảo hộ SHCN.  
tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam thông  
qua việc tham gia các Hiệp định thương  
mại tự do (FTA) thế hệ mới, làn sóng của  
cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, xu hướng  
bảo hộ thương mại gia tăng cũng như mục  
tiêu hướng tới một chính phủ kiến tạo, một  
số quy định điều chỉnh hoạt động dịch vụ  
đại diện SHCN của Luật SHTT không còn  
đáp ứng được yêu cầu, cần được sửa đổi,  
bổ sung.  
Sự ra đời của Luật SHTT năm 2005  
đánh dấu bước phát triển mới, thúc đẩy  
hoạt động bảo hộ và thực thi quyền SHTT  
tại Việt Nam. Trải qua hơn 15 năm thi hành,  
pháp luật dịch vụ đại diện SHCN đã phát  
huy vai trò quan trọng trong việc tạo hành  
lang pháp lý cho hoạt động đại diện SHCN  
trong cả nước, tạo môi trường kinh doanh  
lành mạnh cho hệ thống đại diện SHCN  
được phát triển, mang lại nhiều giá trị tích  
cực cho hoạt động xác lập quyền SHCN của  
cả chủ thể của quyền này, góp phần khuyến  
khích hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh chuyển  
giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài,  
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của  
đất nước. Hệ thống dịch vụ đại diện SHCN  
ngày càng khẳng định vai trò hết sức quan  
trọng trong lĩnh vực SHCN, không chỉ ở  
Việt Nam mà ở nhiều quốc gia, khu vực trên  
thế giới.  
1. Về phạm vi hoạt động đại diện SHCN  
Điều 151 Luật SHTT quy định: “1. Dịch  
vụ đại diện sở hữu công nghiệp bao gồm:  
a) Đại diện cho tổ chức, cá nhân trước  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xác  
lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu  
công nghiệp;  
b) Tư vấn về vấn đề liên quan đến  
thủ tục xác lập và thực thi quyền sở hữu  
công nghiệp;  
c) Các dịch vụ khác liên quan đến  
thủ tục xác lập và thực thi quyền sở hữu  
công nghiệp.  
2. Đại diện sở hữu công nghiệp gồm tổ  
chức kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu  
công nghiệp (sau đây gọi là tổ chức dịch  
vụ đại diện sở hữu công nghiệp) và cá nhân  
hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp  
trong tổ chức đó (sau đây gọi là người đại  
diện sở hữu công nghiệp)”.  
Hiện nay, các vấn đề liên quan đến dịch  
vụ đại diện SHCN được quy định trong  
Luật SHTT năm 2005 đã được sửa đổi, bổ  
sung một số điều năm 2009 và năm 2019  
(Luật SHTT) và các văn bản hướng dẫn thi  
hành. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập quốc  
1 Qua số liệu thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ, số lượng các đại diện không ngừng tăng lên, từ con số 05 tổ chức  
dịch vụ đại diện SHCN vào năm 1996, đến năm 2001 đã tăng lên thành 19 tổ chức dịch vụ đại diện SHCN với  
52 người đại diện SHCN và cho tới nay tăng lên tới 220 tổ chức với 369 người đại diện SHCN. Trong số 369  
người đại diện SHCN có 283 người được cấp theo chứng chỉ và 86 người cấp theo kinh nghiệm, 105 người  
được đào tạo ở nước ngoài (chủ yếu là các nước Liên Xô cũ, Tiệp Khắc và Đức), 254 người được đào tạo trong  
nước, 123 người chuyên ngành kỹ thuật, 155 người chuyên ngành luật, còn lại là những chuyên ngành khác.  
2
Theo số liệu thống kê hằng năm của Cục SHTT, số lượng đơn SHCN nộp đến Cục SHTT thông qua đại  
diện ngày một gia tăng từ 23.826 đơn (năm 2010), 22.728 đơn (năm 2011), 24.590 đơn (năm 2012), 24.241  
đơn (năm 2013), 25.388 đơn (năm 2014), 27.270 đơn (năm 2015), 30.288 đơn (năm 2016), 30.391 đơn (năm  
2017), 32.613 đơn (năm 2018), 38.329 đơn (năm 2019) và 36.912 đơn (tháng 11/2020), với tỉ lệ đơn nộp thông  
qua đại diện trong tổng số đơn nộp đến Cục so với đơn nộp trực tiếp tương ứng là 71,5%, 66,66%, 68,72%,  
64,11%, 63,16%, 60,31%, 58,90%, 57,86%, 58,37%, 58,60% và 57,32%.  
Số 07(431) - T4/2021  
27  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Khoản 1 Điều 28 Luật Luật sư năm 2006  
(Luật Luật sư) quy định:“Tư vấn pháp luật  
là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp  
khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan  
đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ.  
Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật trong tất  
cả các lĩnh vực pháp luật”. Đối chiếu hai  
điều luật này, có hai cách hiểu sau đây:  
về đại diện SHCN theo quy định của Điều  
151 Luật SHTT.  
Như vậy, có thể thấy rằng, giữa quy  
định về phạm vi dịch vụ đại diện SHCN  
của Luật SHTT với quy định của Luật Luật  
sư về phạm vi hoạt động của luật sư chưa  
bảo đảm sự thống nhất. Điều này gây nên  
những trở ngại nhất định cho hoạt động tư  
vấn pháp luật về SHCN.  
Cách hiểu thứ nhất, bất kỳ dịch vụ nào  
liên quan đến thủ tục xác lập và thực thi  
quyền SHCN, điển hình là các dịch vụ đại  
diện và tư vấn, đều thuộc “dịch vụ đại diện  
SHCN”; vì vậy, chỉ tổ chức dịch vụ đại diện  
SHCN mới được thực hiện “tư vấn về vấn  
đề liên quan đến thủ tục xác lập và thực  
thi quyền SHCN”; luật sư (nếu không phải  
là đại diện SHCN) thì không được tư vấn  
về vấn đề liên quan đến thủ tục xác lập và  
thực thi quyền SHCN, tức là không được  
tư vấn pháp luật về SHCN. Mục 7 Danh  
mục các lĩnh vực cá nhân được phép thành  
lập tổ chức khoa học và công nghệ, được  
ban hành theo Quyết định số 97/QĐ-TTg  
ngày 24/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ  
quy định phù hợp với quy định nêu trên của  
Luật SHTT. Theo đó, trong lĩnh vực dịch vụ  
SHTT có “dịch vụ tư vấn về SHTT (không  
bao gồm tư vấn liên quan đến thủ tục xác  
lập và bảo vệ/thực thi quyền SHTT” (Mục  
7.3), được xếp độc lập với “dịch vụ đại diện  
về diện SHTT (bao gồm đại diện, tư vấn  
và các dịch vụ khác liên quan đến thủ tục  
xác lập và bảo vệ/thực thi quyền SHTT)”  
(Mục 7.1).  
Mặt khác, theo quy định của Điều 134  
Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), đại diện  
là việc cá nhân, pháp nhân (gọi chung là  
người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của  
cá nhân hoặc pháp nhân khác (gọi chung  
là người được đại diện) xác lập, thực hiện  
giao dịch dân sự. Xét về bản chất, dịch vụ  
đại diện SHCN là một dạng cụ thể của dịch  
vụ đại diện theo ủy quyền trong lĩnh vực  
SHCN. Vì vậy, với tính chất là luật chuyên  
ngành, Luật SHTT cần quy định theo hướng  
dịch vụ đại diện SHCN là đại diện cho tổ  
chức, cá nhân trước cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền về xác lập và bảo đảm thực thi  
quyền SHCN, không nên bổ sung thêm hoạt  
động “tư vấn về vấn đề liên quan đến thủ tục  
xác lập và thực thi quyền SHCN”. Điều này  
đã dẫn đến sự xung đột với các luật chuyên  
ngành khác, trong đó có Luật Luật sư.  
Tác giả cho rằng, để xác định rõ hơn bản  
chất của dịch vụ đại diện SHCN và tránh  
mâu thuẫn với quy định trong các văn bản  
luật khác, khoản 1 Điều 151 Luật SHTT cần  
được sửa đổi theo một trong hai phương  
án sau:  
Cách hiểu thứ hai, nếu không thực hiện  
tất cả các hoạt động trong quy định nêu  
trên, chẳng hạn chỉ thực hiện dịch vụ tư  
vấn mà không thực hiện dịch vụ đại diện  
thì không bị coi là thực hiện “dịch vụ đại  
diện SHCN”. Với cách hiểu này, theo Luật  
Luật sư, luật sư thực hiện tư vấn pháp luật  
về SHCN không bị coi là vi phạm quy định  
Phương án 1: Bỏ các nội dung được quy  
định tại điểm b và c (dịch vụ tư vấn và các  
dịch vụ khác); theo đó, khoản 1 Điều 134  
BLDS được viết lại như sau: “Dịch vụ đại  
diện SHCN là việc tổ chức, cá nhân đáp ứng  
điều kiện hoạt động, thay mặt cho tổ chức,  
cá nhân khác thực hiện các giao dịch trước  
28  
Số 07(431) - T4/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
2. Về điều kiện hành nghề dịch vụ đại  
diện SHCN  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác  
lập và bảo vệ quyền SHCN”.  
Theo quy định của Điều 155 Luật SHTT,  
cá nhân được phép hành nghề dịch vụ đại  
diện SHCN nếu có Chứng chỉ hành nghề  
dịch vụ đại diện SHCN và hoạt động cho  
một tổ chức dịch vụ đại diện SHCN. Để  
được cấp Chứng chỉ hành nghề thì cá nhân  
phải đạt yêu cầu tại Kỳ kiểm tra nghiệp  
vụ đại diện SHCN. Một trong những điều  
kiện để được dự kiểm tra là cá nhân đó phải  
có bằng tốt nghiệp đại học (Nghị định số  
63/1996/NĐ-CP trước đây yêu cầu phải là  
tốt nghiệp đại học chuyên ngành pháp lý,  
kỹ thuật).  
Phương án 2: Thay cụm từ “tư vấn”  
bằng cụm từ “chuẩn bị giấy tờ pháp lý” vào  
điểm b, bỏ điểm c; theo đó, khoản 1 Điều  
134 BLDS được viết lại như sau: 1. Dịch vụ  
đại diện sở hữu công nghiệp bao gồm:  
a) Đại diện cho tổ chức, cá nhân trước  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xác  
lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu  
công nghiệp;  
b) Chuẩn bị các giấy tờ pháp lý liên quan  
đến thủ tục xác lập và thực thi quyền sở hữu  
công nghiệp.  
Thực tiễn thi hành Luật SHTT cho thấy,  
kể từ khi có sự thay đổi từ điều kiện “tốt  
nghiệp đại học chuyên ngành pháp lý, kỹ  
thuật” sang điều kiện “tốt nghiệp đại học”,  
tức là chấp nhận tất các các chuyên ngành  
đào tạo, chất lượng của người đại diện  
SHCN giảm đã giảm sút, thể hiện ở các  
điểm sau: (i) số lượng đơn nộp vào Cục  
SHTT dự kiểm tra nghiệp vụ bị từ chối  
hoặc phải bổ sung do sai sót về nội dung và  
hình thức ngày càng nhiều; (ii) khả năng lập  
luận, trao đổi trực tiếp của người đại diện  
với cơ quan có thẩm quyền xác lập và thực  
thi quyền SHCN còn yếu do thiếu hiểu biết  
về pháp luật cơ bản; (iii) số lượng thí sinh  
dự thi đầu vào nghiệp vụ đại diện SHCN  
không đạt yêu cầu tăng lên rõ rệt, trong đó  
thí sinh không đạt yêu cầu ở hai môn thi  
pháp luật về SHCN và sáng chế - thiết kế  
bố trí chủ yếu rơi vào các trường hợp không  
tốt nghiệp đại học chuyên ngành pháp lý và  
chuyên ngành kỹ thuật3; (iv) kỹ năng viết  
bản mô tả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu  
dáng công nghiệp kém.  
Quy định này nhằm bảo đảm đưa dịch  
vụ đại diện SHCN đến gần với dịch vụ giấy  
tờ pháp lý mà Việt Nam bảo lưu không  
cam kết mở cửa thị trường trong cam kết  
gia nhập WTO. Theo hệ thống phân loại  
CPC của Liên hợp quốc, dịch vụ giấy tờ và  
chứng thực pháp lý thuộc nhóm 87 phiên  
bản 1, phiên bản 2 thuộc phân lớp 8213, bao  
gồm: soạn thảo và chứng thực tài liệu, các  
dịch vụ pháp lý liên quan đến quyền đối với  
sáng chế, quyền tác giả và các quyền SHTT  
khác; soạn thảo và chứng thực tài liệu, giấy  
tờ và các dịch vụ pháp lý liên quan khác  
như di chúc, hôn nhân, hợp đồng thương  
mại, điều lệ doanh nghiệp... và phù hợp với  
phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế  
Việt Nam được ban hành theo Quyết định  
số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 của  
Thủ tướng Chính phủ, nhóm 69102 (Hướng  
dẫn chung và tư vấn, chuẩn bị các tài liệu  
pháp lý) gồm: dịch vụ hướng dẫn chung và  
tư vấn, chuẩn bị các tài liệu pháp lý liên  
quan đến bản quyền, bằng phát minh, sáng  
chế, quyền tác giả...  
3 Theo số liệu thống kê hàng năm của Cục Sở hữu trí tuệ, số lượng thí sinh đạt yêu cầu trong các kỳ kiểm  
tra 2009, 2011, 2013, 2015, 2017 và 2019 lần lượt là có tới 42/223 (18.83%), 41/148 (27.7%), 2/76 (2.63%),  
15/128 (11,7%), 7/253 (2,77%) và 40/238 (16,8%).  
Số 07(431) - T4/2021  
29  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Mặt khác, theo quy định hiện hành, chỉ  
có một thuật ngữ chứng chỉ hành nghề dịch  
vụ đại diện SHCN cho những người muốn  
hành nghề dịch vụ đại diện trong lĩnh vực  
SHCN. Theo đó, cá nhân được thực hiện  
dịch vụ với tất cả các đối tượng SHCN bao  
gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,  
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí  
mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương  
mại, chỉ dẫn địa lý và chống cạnh tranh  
không lành mạnh. Để được cấp chứng chỉ  
này, mỗi cá nhân phải trải qua một kỳ thi  
sát hạch cho tất cả các đối tượng SHCN;  
trong đó, có những môn không liên quan  
đến đối tượng mà họ có nhu cầu làm đại  
diện và thực tế, rất khó để các thí sinh có  
thể đạt được yêu cầu cho cả 5 môn trong  
một Kỳ kiểm tra.  
chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí là những đối  
tượng SHCN có tính sáng tạo cao) hoặc chỉ  
chuyên về nhãn hiệu (gồm nhãn hiệu, chỉ  
dẫn địa lý, tên thương mại… là những đối  
tượng SHCN có tính xã hội cao). Người  
đại diện SHCN cũng thường chỉ hành nghề  
dịch vụ đại diện SHCN đối với một hoặc  
một số các đối tượng SHCN nhất định, ví  
dụ như đại diện về sáng chế, đại diện về  
nhãn hiệu hoặc đại diện về kiểu dáng công  
nghiệp… Về hiệu quả hoạt động, những cá  
nhân, tổ chức có uy tín trong lĩnh vực dịch  
vụ đại diện SHCN cũng chỉ được đánh giá  
thực sự mạnh về một lĩnh vực hoặc chỉ  
thiên về sáng chế, kiểu dáng hoặc chỉ thiên  
về nhãn hiệu.  
Điều này cho thấy, quy định về đại diện  
SHCN chưa phù hợp với thực tế, cản trở  
người có nhu cầu chỉ hành nghề dịch vụ đại  
diện SHCN cho một hoặc một số đối tượng  
sở hữu công nghiệp cụ thể. Thực tế, trong  
các kỳ kiểm tra nghiệp vụ đại diện SHCN,  
đa phần những cá nhân chưa qua đào tạo  
về kỹ thuật khó có thể vượt qua được các  
môn kiểm tra liên quan đến sáng chế, thiết  
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng  
công nghiệp4…  
Ở các tổ chức dịch vụ đại diện SHCN,  
để đảm bảo sự chuyên môn hóa, nhiều tổ  
chức thường phân thành các phòng/ban/  
nhóm chuyên môn thực hiện việc đại diện  
đối với từng nhóm đối tượng SHCN (sáng  
chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu,...).  
Việc phân thành các nhóm chuyên môn  
như trên phù hợp với nhu cầu đào tạo,  
tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực  
chuyên môn của người đại diện đối với  
mỗi lĩnh vực nhất định, nhất là hoạt động  
đại diện đối với đối tượng có yêu cầu cao  
về mức độ chuyên sâu như sáng chế. Mặt  
khác, nhiều tổ chức đại diện, tùy thuộc vào  
năng lực của người đại diện SHCN hành  
nghề trong tổ chức đó, chỉ có thể chuyên  
về một lĩnh vực hoặc sáng chế (gồm sáng  
Xét về bản chất, đối tượng SHCN có  
thể chia thành hai nhóm lĩnh vực chuyên  
ngành: Sáng chế (bao gồm: sáng chế, thiết  
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng  
công nghiệp) và Nhãn hiệu (bao gồm: nhãn  
hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí  
mật kinh doanh, chống cạnh tranh không  
lành mạnh). Sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu  
4 Theo số liệu thống kê kỳ kiểm tra nghiệp vụ đại diện SHCN năm 2009 của Cục Sở hữu trí tuệ, trong số 223  
thí sinh dự thi (19 thí sinh tốt nghiệp chuyên ngành khoa học, kỹ thuật, 151 thí sinh tốt nghiệp chuyên ngành  
luật, còn lại là các ngành khác), có 109 thí sinh trượt môn sáng chế, 103 thí sinh trượt môn kiểu dáng công  
nghiệp. Trong số 19 thí sinh tốt nghiệp chuyên ngành khoa học, kỹ thuật, chỉ có 3/109 thí sinh trượt môn sáng  
chế - thiết kế bố trí, có 7/103 thí sinh trượt môn kiểu dáng công nghiệp, số thí sinh còn lại đạt điểm khá cao,  
thậm chí có cả điểm 10).  
30  
Số 07(431) - T4/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
dáng công nghiệp là những đối tượng mà  
trong quá trình thực hiện các nội dung liên  
quan đến xác lập, thực thi quyền SHCN  
đòi hỏi người thực hiện không chỉ nắm  
chắc kiến thức về mặt pháp luật, mà còn  
phải có những kiến thức chuyên ngành kỹ  
thuật nhất định. Do đó, những người đại  
diện cho khách hàng trong xác lập và thực  
thi quyền SHCN đối với các đối tượng này  
cần phải đáp ứng cả hai yêu cầu có kiến  
thức pháp luật và cả kiến thức kỹ thuật  
chuyên ngành. Những người không trải  
qua quá trình đào tạo về kỹ thuật chuyên  
ngành sẽ rất khó để có thể hành nghề dịch  
vụ đại diện sáng chế. Trong khi đó, nhãn  
hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật  
kinh doanh và chống cạnh tranh không  
lành mạnh là những đối tượng không  
mang tính chất kỹ thuật, cần nhiều tư duy  
trực quan trong việc đưa ra lập luận và  
đòi hỏi nhiều về kiến thức pháp luật nên  
những người đã qua đào tạo về pháp luật,  
trong đó có pháp luật về SHCN là có thể  
thực hiện được công việc đại diện SHCN  
liên quan đến nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý,  
tên thương mại…  
công nghiệp điển hình trong khu vực như  
Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Úc  
đều quy định tiêu chuẩn về trình độ đối  
với người muốn được hành nghề dịch vụ  
đại diện SHTT5, đó là: có trình độ đại học  
trở lên hoặc đại học chuyên ngành pháp  
lý đối với lĩnh vực dịch vụ đại diện nhãn  
hiệu, chuyên ngành kỹ thuật, pháp lý đối  
với lĩnh vực dịch vụ đại diện sáng chế.  
Đây là xu hướng chung mà Việt Nam cần  
hướng đến khi hội nhập vào nền kinh tế  
thế giới.  
Từ những phân tích trên đây, tác giả cho  
rằng, để khắc phục những bất cập trong  
quy định về điều kiện hành nghề dịch vụ  
đại diện SHCN, cần sửa đổi khoản 1, 2  
Điều 155 Luật SHTT theo hướng không bổ  
sung thêm vào trong Luật này khái niệm  
tổ chức đại diện sáng chế, tổ chức đại diện  
nhãn hiệu, người đại diện sáng chế, người  
đại diện nhãn hiệu vì sẽ gây rối khi dùng  
từ trong các quy định mà phân định lĩnh  
vực kinh doanh, hành nghề của tổ chức, cá  
nhân theo loại chứng chỉ hành nghề được  
cấp cho mỗi cá nhân; cá nhân đạt yêu cầu  
kiểm tra trong nhóm lĩnh vực nào thì được  
cấp chứng chỉ hành nghề tương ứng với  
lĩnh vực đó. Cụ thể:  
Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động  
đại diện được tách ra theo hai nhánh gồm:  
đại diện về sáng chế (gồm sáng chế, kiểu  
dáng công nghiệp) và đại diện về nhãn  
hiệu. Tại một số nước (như Hoa Kỳ, Châu  
Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore), việc  
kiểm tra nghiệp vụ để cấp chứng chỉ hành  
nghề chỉ áp dụng đối với đại diện sáng  
chế, trong khi dịch vụ đại diện về nhãn  
hiệu được mở cho tất cả các luật sư. Pháp  
luật một số nước có lịch sử phát triển hệ  
thống SHTT lâu dài như Anh, Pháp, Đức,  
Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, hoặc những nước  
Phương án 1: Quy định cá nhân được  
cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện  
SHCN phải có bằng tốt nghiệp đại học đối  
với trường hợp hành nghề trong lĩnh vực  
nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại,  
chống cạnh tranh không lành mạnh, bí mật  
kinh doanh; hoặc có bằng tốt nghiệp đại  
học chuyên ngành khoa học kỹ thuật đối  
với trường hợp hành nghề trong lĩnh vực  
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế  
5 Cục Sở hữu trí tuệ, Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học “Tổ chức và hoạt động của hệ thống đại  
diện sở hữu công nghiệp”, 12/2001, tr. 35.  
Số 07(431) - T4/2021  
31  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
bố trí, để phù hợp với đặc thù của từng  
lĩnh vực và đảm bảo chất lượng đầu ra đối  
với các cá nhân hành nghề trong lĩnh vực  
dịch vụ đại diện sáng chế.  
kiến thức pháp lý và có thực tế hoạt động áp  
dụng luật) có thể đáp ứng được những quy  
định này. Việc cho phép luật sư được hành  
nghề đại diện chỉ giới hạn riêng cho nhóm  
dịch vụ đại diện nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý,  
tên thương mại… là phù hợp với bản chất  
của các đối tượng SHCN này (việc xác lập  
quyền chủ yếu dựa trên căn cứ pháp lý mà  
bản thân luật sư có thể đáp ứng ngay được),  
không mở rộng cho tất cả các đối tượng  
khác như sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố  
trí, ngoài việc hiểu biết, vận dụng các căn  
cứ pháp lý, cần phải có kiến thức kỹ thuật  
thì mới có thể chuẩn bị tốt bộ tài liệu đơn  
(trong đó, có bản mô tả, yêu cầu bảo hộ, bản  
vẽ kỹ thuật… là những căn cứ mang tính  
quyết định để chứng minh và khẳng định  
đối tượng SHCN đó có đủ điều kiện được  
bảo hộ hay không).  
Phương án 2: Bổ sung yêu cầu phải có  
bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành pháp  
lý đối với tất cả các lĩnh vực dịch vụ đại  
diện SHCN và có thêm bằng tốt nghiệp đại  
học chuyên ngành khoa học kỹ thuật đối với  
lĩnh vực dịch vụ đại diện sáng chế để đưa  
dịch vụ đại diện SHCN gần hơn với dịch  
vụ giấy tờ pháp lý theo biểu cam kết dịch  
vụ gia nhập WTO (đòi hỏi người thực hiện  
dịch vụ này cần có những nền tảng cơ bản  
về pháp lý để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ  
đại diện cho khách hàng trước cơ quan nhà  
nước trong việc bảo vệ quyền lợi của khách  
hàng trong quá trình xác lập và thực thi  
quyền SHCN, cũng như đảm bảo cho việc  
chuẩn bị các giấy tờ pháp lý đáp ứng tốt hơn  
các yêu cầu mà pháp luật đặt ra), phù hợp  
với nhiều nước tiên tiến trên thế giới như  
Mỹ, EU (yêu cầu phải tốt nghiệp đại học  
chuyên ngành pháp lý).  
Thứ hai, hiện nay ở Việt Nam, theo  
Chương trình chi tiết đào tạo nghề luật sư  
theo hệ thống tín chỉ được Học viện Tư  
pháp ban hành trong thời gian gần nhất  
là Quyết định số 873/QĐ-HVTP ngày  
06/7/2017 của Giám đốc Học viện tư pháp  
thì Môn học “Kỹ năng tư vấn pháp luật về  
SHTT cho doanh nghiệp” bao gồm phần lý  
thuyết (Kỹ năng tư vấn pháp luật về SHTT  
cho doanh nghiệp), tình huống I (Tư vấn  
xác lập quyền SHTT cho doanh nghiệp)  
và tình huống II (Tư vấn bảo hộ, thực thi  
quyền và xử lý xâm phạm quyền SHTT  
cho doanh nghiệp) được coi là 1 trong 12  
môn học tự chọn, tương đương với 15 giờ  
tín chỉ (1 tín chỉ), nội dung đào tạo này phù  
hợp với nội dung kiểm tra nghiệp vụ đại  
diện SHCN mà cơ quan quản lý nhà nước  
về đại diện SHCN đã và đang tổ chức. Như  
vậy, chỉ những luật sư lựa chọn môn học  
này mới thật sự đủ điều kiện để có thể thực  
hiện các nghiệp vụ đại diện chuyên ngành  
Bên cạnh đó, cần quy định bổ sung ngoại  
lệ đối với cá nhân có Chứng chỉ hành nghề  
luật sư, trong trường hợp có lựa chọn môn  
học về kỹ năng tư vấn pháp luật về SHTT  
cho doanh nghiệp thì được cấp Chứng chỉ  
hành nghề dịch vụ đại diện SHCN (nếu có  
yêu cầu) đối với chuyên ngành nhãn hiệu vì  
những lý do sau:  
Thứ nhất, dịch vụ đại diện sở hữu công  
nghiệp trong lĩnh vực nhãn hiệu, chỉ dẫn  
địa lý, tên thương mại, cạnh tranh không  
lành mạnh không đòi hỏi phải am hiểu về  
kỹ thuật mà chủ yếu đòi hỏi nắm bắt được  
các kiến thức pháp lý và vận dụng các quy  
định của pháp luật vào các tình huống cụ  
thể nên luật sư (là những người có nền tàng  
32  
Số 07(431) - T4/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
nhãn hiệu ngay khi được cấp Chứng chỉ  
hành nghề luật sư.  
quy định của pháp luật, riêng các tổ chức  
hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề  
tại Việt Nam không được phép kinh doanh.  
Trong khi đó, theo quy định của Luật Luật  
sư, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài  
hành nghề tại Việt Nam được phép tư vấn  
pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật  
về SHCN. Cụ thể, Điều 70 Luật Luật sư  
quy định: “Chi nhánh, công ty luật nước  
ngoài hành nghề tại Việt Nam được thực  
hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp  
lý khác…”  
Thứ ba, nhiều nước trên thế giới quy  
định luật sư đủ điều kiện hành nghề dịch  
vụ đại diện SHCN vì bản thân quá trình đào  
tạo để được trở thành một luật sư, cá nhân  
đó đã phải trải qua quá trình đào tạo đại  
học chuyên ngành pháp lý và trải qua khóa  
đào tạo chuyên sâu nghiêm ngặt. Thực tiễn  
quá trình đào tạo luật sư của Việt Nam, cá  
nhân phải trải qua 5 năm đại học về chuyên  
ngành pháp lý và tham gia khóa đào tạo  
thực tiễn vận dụng kiến thức pháp lý vào  
các tình huống cụ thể và để được cấp Chứng  
chỉ hành nghề luật sư, họ phải trải qua kỳ  
sát hạch nghiêm ngặt.  
Như vậy, quy định của khoản 1 Điều  
154 Luật SHTT không thống nhất với  
quy định của Điều 70 Luật Luật sư về  
điều kiện kinh doanh. Điều này dẫn đến  
những ý kiến khác nhau giữa các cơ quan  
quản lý nhà nước đối với cùng một vụ  
việc6. Để khắc phục bất cập này, tác giả  
cho rằng, cần sửa đổi Luật Luật sư nhằm  
bảo đảm sự thống nhất với Luật SHTT  
hoặc sửa đổi Luật SHTT bảo đảm sự  
3. Về điều kiện kinh doanh dịch vụ đại  
diện SHCN  
Theo quy định của khoản 1 Điều 154  
Luật SHTT, để được kinh doanh dịch vụ  
đại diện SHCN, tổ chức phải là doanh  
nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề  
luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công  
nghệ được thành lập và hoạt động theo  
thống nhất với Luật Luật sư  
6 Năm 2014, Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam (VIPA) đã gửi đơn kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ đề nghị xử  
lý vi phạm về SHTT đối với một số tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam như Chi nhánh Tư  
vấn Tilleke & Gibbins đã và đang tiến hành kinh doanh trái phép dịch vụ đại diện SHCN, cụ thể là thực hiện  
dịch vụ tư vấn về quyền SHCN (đăng ký và thực thi quyền), vi phạm quy định tại Điều 151 và Điều 154 của  
Luật SHTT (các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại VN không được thực hiện chức năng kinh doanh  
dịch vụ đại diện SHCN). Tại thời điểm này, Cục SHTT (Bộ KH&CN) cho rằng Chi nhánh Tư vấn Tilleke &  
Gibbins đã vi phạm các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ đại diện SHCN khi thực hiện dịch vụ  
tư vấn pháp luật liên quan đến thủ tục xác lập và thực thi quyền SHCN và/hoặc thực hiện các dịch vụ pháp lý  
khác liên quan đến thủ tục xác lập và thực thi quyền SHCN, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 151 Luật Sở  
hữu trí tuệ, chữ “bao gồm” được hiểu là chỉ cần thực hiện một trong ba loại công việc nêu tại khoản 1 thì đã  
bị coi là thực hiện dịch vụ đại diện SHCN và như vậy là đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 154 Luật Sở  
hữu trí tuệ (tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam bị loại trừ, không được phép kinh doanh dịch  
vụ đại diện SHCN). Trong khi đó, Vụ Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) cho rằng, quy định nêu tại khoản 1 Điều  
151 Luật SHTT cho thấy chữ “bao gồm” được hiểu chỉ khi một tổ chức thực hiện đầy đủ các hành vi nêu tại  
khoản 1 Điều 151 của Luật Sở hữu trí tuệ, thì mới bị coi là đã thực hiện dịch vụ đại diện SHCN. Hoạt động  
tư vấn của Chi nhánh Tư vấn Tilleke & Gibbins không vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ  
đại diện SHCN theo Điều 151, Điều 154 Luật Sở hữu trí tuệ, đồng thời cũng phù hợp với phạm vi hoạt động  
của tổ chức/chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam, nêu tại Điều 4, khoản 1 Điều  
28 và Điều 70 Luật Luật sư.  
Số 07(431) - T4/2021  
33  
pdf 8 trang Thùy Anh 11180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các quy định của pháp luật Việt Nam về dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và giải pháp hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_quy_dinh_cua_phap_luat_viet_nam_ve_dich_vu_dai_dien_so_h.pdf