Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về thanh toán bằng tiền điện tử ở Việt Nam đáp ứng thời kỳ công nghiệp 4.0
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ
VỀ THANH TOÁN BẰNG TIỀN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4.0
Nguyễn Văn Tứ
Tóm tắt: Trong nhiều năm qua, thị trường thương mại điện tử ở nước ta xuất
hiện nhiều thuật ngữ có liên quan đến tiền như tiền điện tử, tiền ảo, tiền kỹ thuật số,
tiền di động, tiền công nghệ,... tuy nhiên khung pháp lý điều chỉnh về các loại tiền và
thanh toán bằng các loại tiền trên trong các giao dịch vẫn chưa hoàn thiện và đồng
bộ. Bài viết làm rõ bản chất của tiền điện tử, thanh toán bằng tiền điện tử để phân biệt
với các thể loại tiền khác; phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thanh toán bằng
tiền điện tử và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về thanh toán
bằng tiền điện tử ở Việt Nam đáp ứng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Từ khóa: thanh toán điện tử; tiền điện tử; ví điện tử; cách mạng 4.0; tiền ảo
1. Đặt vấn đề
Để hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đón đầu kỷ nguyên số, trong những năm
qua Chính phủ đã có nhiều sự quan tâm và ban hành nhiều văn bản nhằm thúc đẩy
việc thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. Hiện nay thanh toán bằng tiền
điện tử đang được người dân biết đến như là một kênh thanh toán thuận tiện, nhanh
chóng và an toàn trong các giao dịch. Thanh toán bằng tiền điện tử đang dần thay thế
cho phương thức thanh toán truyền thống bằng tiền mặt tại Việt Nam và trên toàn thế
giới. Các hình thức thanh toán bằng tiền điện tử được sử dụng phổ biến nhất là: Thanh
toán bằng thẻ, bằng ví điện tử và bằng thiết bị điện thoại thông minh.
Gần đây, thị trường thương mại điện tử Việt Nam xuất hiện nhiều loại tiền ảo,
tiền kỹ thuật số, tiền công nghệ, ... và các đồng tiền này được một số tổ chức, nhóm
người sử dụng làm phương tiện thanh toán chính thức trong các giao dịch thay thế
tiền Đồng Việt Nam. Dưới gốc độ pháp lý, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quy
định rõ ràng nội hàm và các vấn đề khác liên quan đến tiền điển tử và thanh toán bằng
tiền điện tử dẫn đến có sự nhầm lẫn giữa tiền điện tử và các loại tiền khác, điều này
57
tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ vi phạm pháp luật, xa hơn có thể ảnh hưởng đến chính
sách tiền tệ của Việt Nam.
Bước vào kỷ nguyên số, các quốc gia trên thế giới đều có các chính sách nhằm
điều chỉnh thích ứng và tận dụng lợi ích từ các đồng tiền công nghệ do đó việc hoàn
thiện pháp luật tiền điện tử, thanh toán bằng tiền điện tử nhằm phân biệt giữa tiền
điện tử và các loại tiền công nghệ khác góp phần loại trừ các rủi ro pháp lý liên quan,
đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Việc nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý về tiền điện tử
và thanh toán bằng tiền điện tử tại Việt Nam hiện nay là công việc cần thiết.
2. Khái niệm, đặc điểm về tiền điện tử và thanh toán bằng tiền điện tử
2.1. Khái niệm
Khái niệm tiền điện tử:
Hiện nay, trên thế giới cũng như Việt Nam, khái niệm tiền điện tử vẫn chưa
được quy định ở bất kỳ văn bản chính thức nào mà chỉ dừng lại từ các quan điểm của
các tổ chức, cá nhân quan tâm, nghiên cứu.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tiền điện tử còn được gọi với tên gọi
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) mô tả tiền điện tử là giá trị tiền tệ được
lưu trữ trên một thiết bị điện tử được sử dụng phổ biến để thực hiện giao dịch thanh
toán cho các tổ chức khác không phải là tổ chức phát hành. Còn Ngân hàng Thanh
toán quốc tế (BIS) định nghĩa tiền điện tử là giá trị được lưu trữ hoặc sản phẩm trả
trước, trong đó thông tin về khoản tiền hoặc giá trị khả dụng của khách hàng được
lưu trữ trên một thiết bị điện tử thuộc sở hữu của khách hàng.
công nhận của chính phủ. Nó không được biểu hiện dưới dạng tiền giấy hoặc tiền xu
mà chúng ta có thể cầm nắm được; thông qua các thiết bị điện tử lưu trữ như
42
Vũ Dương Thành Luân, Tiền điện tử là gì? Phân biệt tiền điện tử, tiền ảo, tiền mã hóa,
truy cập ngày 01/8/2021.
58
Dưới gốc độ pháp lý, điểm đ khoản 3 Điều 4 Luật Phòng, chống rửa tiền có đề
cập đến thuật ngữ “tiền điện tử” tuy nhiên thuật ngữ này chưa được giải thích thêm ở
bất kỳ văn bản luật, văn bản dưới luật nào.
Theo tác giả, “tiền điển tử” là một phương tiện thanh toán chứa đựng giá trị
đồng tiền được thừa nhận của một quốc gia, được lưu trữ trên các thiết bị điện tử như
thẻ trả trước, ví điện tử, tiền di động,... do các tổ chức dịch vụ cung ứng được nhà
nước cấp phép hoạt động và chịu sự quản lý của Nhà nước.
Khái niệm thanh toán bằng tiền tiện tử:
Thanh toán là sự chuyển giao tài sản của một bên (cá nhân hoặc tổ chức) cho
bên kia, thường được sử dụng khi trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ trong một giao dịch
có ràng buộc pháp lý. Thanh toán điện tử được định nghĩa là bất kỳ hình thức chuyển
tiền nào được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử. Thanh toán bằng hệ thống này
Khái niệm thanh toán bằng tiền điện tử cũng chưa được quy định ở bất kỳ văn
bản chính thức nào tuy nhiên từ việc phân tích bản chất của thanh toán và các đặc
điểm của tiền điện tử, theo tác giả, thanh toán bằng tiền điện tử là việc sử dụng đồng
tiền được chấp thuận tại một quốc gia được lưu trữ trên các thiết bị điện tử để chi trả
cho các giao dịch mà không dùng tiền mặt.
2.2. Đặc điểm
Đặc điểm về tiền điện tử:
So với tiền mặt thông thường và các đồng tiền công nghệ mới xuất hiện trên thị
trường hiện nay như Bitcoin, Ethereum, ... tiền điện tử mang một số đặc trưng nỗi bật
để phân biệt với các đồng tiền khác như sau:
Thứ nhất, chức năng thanh toán
Tiền điện tử là một phương tiện thanh toán chứa đựng giá trị đồng tiền được
thừa nhận của một quốc gia do đó tiền điện tử mang đầy đủ các chức năng của một
đồng tiền của quốc gia, là phương tiện thanh toán trao đổi, thước đo giá trị và cất trữ
43 Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở
59
giá trị hay nói cách khác đây là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao
tiền công nghệ khác như Bitcoin, Ethereum,... lại không được các quốc gia thừa nhận
là đồng tiền để thanh toán trong các giao dịch.
Thứ hai, hình thức lưu trữ
Tiền điện tử được lưu trữ trên các thiết bị điện tử như thẻ trả trước, ví điện tử,
tiền di động,... tiền điện tử chỉ được lưu trữ trong các sản phẩm điện tử gồm 2 loại:
(i) phần cứng như thẻ chíp, điện thoại thông minh gắn chíp và (ii) dữ liệu dựa trên
phần mềm như ví điện tử Paypal. Còn các loại tiền khác như Bitcoin được tạo ra và
vận hành, lưu trữ dựa trên hệ thống các máy tính kết nối mạng internet ngang hàng
được gọi là Blockchain44, không do bất cứ cá nhân, tổ chức nào quản lý.
Thứ tư, đối tượng phát hành tiền điện tử
Thông thường ở các quốc gia, tiền điện tử do các tổ chức đáp ứng điều kiện theo
quy định của pháp luật, điều kiện của Ngân hàng nhà nước (NHNN) mới được phát
hành tiền điện tử như các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi ngân hàng, bưu chính, ...
Do đó, để đảm bảo an toàn cho người sử dụng, các quốc gia luôn có quy định rất chặt
chẽ đối với các tổ chức phát hành tiền điện tử. Trong khi các đồng tiền công nghệ
khác như Bitcoin, không được phát hành bởi chính phủ hay một tổ chức tài chính, mà
được tạo ra và vận hành dựa trên hệ thống các máy tính kết nối mạng internet ngang
hàng. Còn tiền ảo là loại tiền thường được sử dụng trong các trò chơi điện tử trực
tuyến, do một công ty trò chơi điện tử nào đó phát hành mà không có bất cứ một tài
sản cơ sở nào, chỉ công ty đó kiểm soát và chỉ sử dụng cho các giao dịch trong nội bộ
hệ thống.
Thứ năm, chịu sự giám sát, quản lý chặt chẽ của nhà nước
Tiền điện tử có cơ chế đảm bảo tiền tệ của NHNN. Theo đó, tiền điện tử do các
ngân hàng phát hành sẽ được đảm bảo bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc tại NHNN, còn tiền
44 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân cấp lưu trữ thông tin trong
các khối thông tin được liên kết với nhau bằng mã hóa và mở rộng theo thời gian. Mỗi khối thông tin đều chứa
thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết tới khối trước đó, kèm một mã thời gian và dữ liệu giao
dịch. Blockchain được thiết kế để chống lại việc thay đổi của dữ liệu: Một khi dữ liệu đã được mạng lưới chấp
nhận thì sẽ không có cách nào thay đổi được nó.
60
điện tử do các tổ chức phi ngân hàng phát hành sẽ được đảm bảo bằng cơ chế ký quỹ
tại hệ thống ngân hàng (với một tỷ lệ ký quỹ nhất định). Thông thường, tỷ lệ ký quỹ
này sẽ cao hơn nhiều so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc do các quy định an toàn áp dụng đối
với các tổ chức này thấp hơn nhiều so với ngân hàng. Trong khi đó, các loại tiền công
nghệ khác chưa được pháp luật của các quốc gia quy định và chưa chịu sự giám sát,
quản lý của nhà nước.
Đặc điểm về thanh toán bằng tiền điện tử:
Thứ nhất, thanh toán bằng tiền điện tử là việc trả cho người khác giá trị tiền
được lưu trữ hoàn toàn trên thiết bị điện tử mà không dùng tiền mặt hoặc trả tiền bằng
hình thức khác như bằng giấy (séc, lệnh chi, ...). Tiền sử dụng để thanh toán ở đây
chính là đồng tiền pháp định của mỗi quốc gia, được quốc gia đó thừa nhận và điều
chỉnh.
Thứ hai, phương thức thanh toán phổ biến của thanh toán bằng tiền điện tử
thường là ví điện tử, thẻ ngân hàng, điện thoại thông minh, ...
Thứ ba, thanh toán bằng tiền điện tử có nhiều ưu thế hơn so với thanh toán bằng
tiền mặt bởi lẽ quy trình thanh toán nhanh gọn, lịch sử thanh toán được lưu lại công
khai minh bạch. Ngoài ra, so với các phương tiện thanh toán sử dụng các loại tiền
khác xuất hiện trên thị trường thì việc thanh toán bằng tiền điện tử được các quốc gia
thừa nhận là phương tiện thanh toán và chịu sự điều chỉnh nghiêm ngặt của pháp luật.
3. Thực trạng pháp luật về thanh toán bằng tiền điện tử ở Việt Nam hiện
nay
3.1. Khung pháp lý hiện hành về thanh toán bằng tiền điện tử
Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật
nào điều chỉnh trực tiếp, riêng biệt về hoạt động thanh toán bằng tiền điện tử mà chỉ
được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, có điều chỉnh liên quan đến thanh
toán bằng tiền điện tử, như: Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010; Luật Các
tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức
tín dụng năm 2017; Luật Đầu tư năm 2020; Luật Giao dịch điện tử năm 2005; Luật
Công nghệ thông tin năm 2006; Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Phòng, chống
rửa tiền năm 2012; Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ
61
về thanh toán không dùng tiền mặt (đã sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 80/2016/NĐ-
CP ngày 01/6/2016 và Nghị định số 16/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019); Thông tư
19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân
hàng; ...
Ngoài ra, thời gian qua Thủ tướng Chỉnh phủ đã có nhiều sự quan tâm và đã ban
hành một số văn bản để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động thanh toán điện tử, đáp
ứng thời kỳ công nghiệp 4.0, hội nhập kinh tế quốc tế tại các Quyết định số 2545/QĐ-
TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai
đoạn 2016 - 2020; Quyết định 1255/QĐ-TTg ngày 21/8/2017 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với
các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo: Giao NHNN nhiệm vụ rà soát, nghiên cứu và
đề nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật về tiền điện tử;
...
Nhìn chung, các văn bản nêu trên bước đầu tạo được khuôn khổ pháp lý cơ bản
cho việc quản lý hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh toán
bằng tiền điện tử tại Việt Nam nói riêng. Các quy định trên cũng đã đem lại nhiều
chuyển biến tích cực trong hoạt động thanh toán của nền kinh tế, thúc đẩy thanh toán
không dùng tiền mặt, thanh toán bằng tiền điện tử đi vào cuộc sống, hạn chế dần các
thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán, bảo đảm thực thi có hiệu quả các quy
định pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
3.2. Một số bất cập, hạn chế của khung pháp lý hiện hành về thanh toán bằng
tiền điện tử
Trong bối cảnh và thực tiễn hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh
toán bằng tiền điện tử ở nước ta vẫn còn bộc lộ một số bất cập, hạn chế sau:
Thứ nhất, định nghĩa về tiền điện tử, thanh toán bằng tiền điện tử
Tại điểm đ khoản 3 Điều 4 Luật Phòng, chống rửa tiền đã đề cập đến thuật ngữ
“tiền điện tử” tuy nhiên thuật ngữ này chưa được giải thích hay định nghĩa ở bất kỳ
văn bản pháp luật nào khác. Do đó dẫn đến việc trong thực tế, tiền điện tử thường bị
hiểu lẫn sang khái niệm tiền ảo hoặc các loại tiền công nghệ khác. Thuật ngữ “thanh
toán bằng tiền điện tử” cũng đã xuất hiện và xâm nhập vào đời sống kinh tế - xã hội
62
tuy nhiên cũng chưa được định nghĩa ở bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào nên
cũng dễ bị hiểu trùng, nhầm lẫn với thuật ngữ “thanh toán điện tử”, “thanh toán qua
internet” hay “thương mại điện tử”, ...
Hiện nay Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày
22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt có đưa ra định nghĩa
về tiền điện tử, theo đó khoản 12 Điều 3 Dự thảo quy định: “Tiền điện tử là giá trị
tiền tệ lưu trữ trên các phương tiện điện tử được trả trước bởi khách hàng cho ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh
toán để thực hiện giao dịch thanh toán và được đảm bảo giá trị tương ứng tại ngân
hàng, bao gồm: thẻ trả trước, ví điện tử, tiền di động”. Tuy nhiên, định nghĩa về tiền
điện tử theo Dự thảo là chưa bao quát, chưa làm rõ đặc trưng nỗi bật của tiền điện tử
(ở đây là tiền pháp định, tiền đồng Việt Nam) để phân biệt với các thể loại tiền khác
mới xuất hiện trên thị trường như tiền công nghệ, tiền kỷ thuật số, tiền ảo, ...
Thứ hai, hình thức thanh toán bằng tiền điện tử
Pháp luật hiện hành chưa quy định thống nhất về các hình thức thanh toán bằng
tiền điện tử tuy nhiên tại một số văn bản dưới luật có đề cập đến hai hình thức thanh
toán có liên quan đến sử dụng thiết bị điện tử đó là thanh toán bằng ví điện tử và
thanh toán bằng thẻ ngân hàng. Cụ thể:
- Khoản 8 Điều 1 Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định 101/20212/NĐ-CP của Chính phủ về
thanh toán không dùng tiền mặt quy định: “Dịch vụ ví điện tử là dịch vụ cung cấp
cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ
trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di
động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền
gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại
ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện
tử theo tỷ lệ 1:1”.
- Khoản 4 Điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của NHNN về
hoạt động thẻ ngân hàng quy định: “Thẻ trả trước (prepaid card) là thẻ cho phép chủ
63
thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với
số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ”.
Đối chiếu với các đặc điểm của hình thức thanh toán bằng tiền điện tử đã phân
tích ở Mục 2 nêu trên có thể thấy 02 hình thức thanh toán bằng ví điện tử và hình thức
thanh toán bằng thẻ ngân hàng có đầy đủ các đặc điểm của hình thức thanh toán bằng
tiền điện tử. Do đó, Nghị định quy định về ví điện tử và Thông tư quy định về thẻ trả
trước của ngân hàng nêu trên đã gián tiếp thừa nhận thanh toán bằng ví điện tử và
thanh toán bằng thẻ trả trước là 02 hình thức thanh toán bằng tiền điện tử phổ biến,
được điều chỉnh ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, thị trường thanh toán các giao dịch ở nước ta vẫn xuất hiện một số
hình thức thanh toán thông qua các thiết bị điện tử chưa được luật quy định như thanh
toán bằng di động, thanh toán bằng các đồng tiền kỷ thuật số, ... Đặc biệt, hình thức
thanh toán bằng tiền di động thời gian qua được Chính phủ quan tâm và khuyến khích
hoạt động, tuy nhiên đến nay hình thức này vẫn chưa được quy định ở bất kỳ văn bản
chính thức nào. Điều này dẫn đến việc có sự áp dụng không thống nhất quy định của
pháp luật liên quan đến thanh toán bằng tiền điện tử và gây khó khăn trong quản lý
nhà nước đối với các hình thức thanh toán bằng tiền điện tử.
Thứ ba, đối tượng cung ứng dịch vụ thanh toán bằng tiền điện tử
Pháp luật hiện hành không có bất kỳ quy định riêng lẻ nào về đối tượng cung
ứng dịch vụ thanh toán bằng tiền điện tử mà chỉ quy định gián tiếp thông qua Nghị
định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng
tiền mặt và Nghị định 80/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 101 về thanh toán không
dùng tiền mặt. Theo đó, tại khoản 3 Điều 4 quy định: “Tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán)
gồm: NHNN Việt Nam, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng
nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và một số tổ chức khác”. Và khoản 1 Điều 1 Nghị
định 80/2016/NĐ-CP quy định: “Tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán là:
a) Tổ chức không phải là ngân hàng được NHNN cấp Giấy phép hoạt động cung ứng
dịch vụ trung gian thanh toán; b) Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài được phép cung ứng dịch vụ ví điện tử”. Xét về bản chất, thanh toán bằng tiền
64
điện tử mang các đặc điểm và là một hình thức biểu hiện của thanh toán không dùng
tiền mặt do đó các tổ chức nêu trên được pháp luật gián tiếp thừa nhận là đối tượng
cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và đối tượng cung ứng dịch vụ
trung gian thanh toán.
Ngoài ra, tại Phụ lục IV Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Ban hành kèm theo Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 đã bổ sung ngành, nghề: “Cung
ứng dịch vụ trung gian thanh toán, cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản
thanh toán của khách hàng (223)”. Việc Quốc hội bổ sung ngành, nghề kinh doanh
trên vào nhóm ngành nghề kinh doanh có điều kiện góp phần quản lý hiệu quả các
đối tượng cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Tuy nhiên, thị trường xuất hiện
nhiều tổ chức đủ điều kiện về tài chính, vốn pháp định, cơ sở hạ tầng cung ứng dịch
vụ thanh toán điện tử tốt, ưu việt hơn cả Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
và một số tổ chức khác như tổ chức viễn thông, tổ chức tài chính khác,... nhưng lại
chưa có khung pháp lý để xác định các tổ chức trên có được hoạt động ngành nghề
cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán bằng tiền điện tử theo Luật Đầu tư hay không
và vẫn chưa xác định được các tổ chức này xếp vào nhóm tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán hay trung gian thanh toán để hoạt động trên thị trường Việt Nam.
Thứ tư, trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung
gian thanh toán bằng tiền điển tử
Quy định về trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ
trung gian thanh toán bằng tiền điển tử hiện nay được tổng hòa trong khá nhiều hệ
thống pháp luật chuyên ngành điều chỉnh. Chính vì vậy, có thể nhận định, hệ thống
pháp luật Việt Nam hiện hành không có văn bản quy định riêng mà chỉ dừng lại ở
một số điều luật cụ thể ở các khía cạnh sau:
- Điều 23 Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 quy định về trách nhiệm báo
cáo giao dịch chuyển tiền điện tử của tổ chức phát hành tiền điện tử, theo đó các tổ
chức được cấp giấy phép thực hiện phát hành tiền điện tử có trách nhiệm báo cáo giao
dịch chuyển tiền điện tử vượt quá mức giá trị theo quy định của NHNN Việt Nam.
- Điều 41 Luật An ninh mạng năm 2018 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ trên không gian mạng, theo đó doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên
65
không gian mạng tại Việt Nam, mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng
trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm: Cảnh báo khả năng mất an ninh
mạng trong việc sử dụng dịch vụ trên không gian mạng do mình cung cấp và hướng
dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng phương án, giải pháp phản ứng nhanh với sự cố
an ninh mạng, xử lý ngay điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, tấn công mạng, xâm
nhập mạng và rủi ro an ninh khác; khi xảy ra sự cố an ninh mạng, ngay lập tức triển
khai phương án khẩn cấp, biện pháp ứng phó thích hợp, đồng thời báo cáo với lực
lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng theo quy định của Luật An ninh mạng; ...
- Chương XX Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 cũng có các quy
định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, phạt vi phạm đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Quy định
này cũng có liên quan đến trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán,
trung gian thanh toán trong quá trình hợp đồng cung cấp dịch vụ thanh toán .
- Điều 17 đến Điều 23 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của
Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt quy định trách nhiệm về phí dịch vụ,
bồi thường thiệt hại, giải quyết tranh chấp, đảm bảo an toàn trong thanh toán, bảo mật
thông tin trong quá trình thực hiện các giao dịch thanh toán của các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán.
- Các quy định liên quan đến hình thức thanh toán được xem là thanh toán bằng
tiền điện tử như ví điện tử, thẻ trả trước nêu tại Thông tư 39/2014/TT-NHNN ngày
11/12/2014 của Thống đốc NHNN Việt Nam hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh
toán (Thông tư sửa đổi số 23/2019/TT-NHNN); Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày
30/6/2016 của NHNN Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng có quy định
đến khái niệm các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và liệt kê các tổ
chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
Tuy nhiên, các quy định nêu trên vẫn chưa đề cập đến quy trình thanh toán bằng
ví điện tử, thẻ trả trước; chưa có chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm tính bảo
mật, chống rủi ro thanh toán dẫn đến khi có tranh chấp liên quan đến thanh toán người
sử dụng dịch vụ thanh toán không thể chứng minh lỗi dẫn đến vi phạm; trình tự thủ
tục khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi vi phạm trong các giao dịch thanh toán
66
bằng tiền điện tử; quy trình giải quyết tranh chấp cũng chưa được quy định rõ ràng
dẫn đến khi có tranh chấp xảy ra, người thực hiện việc thanh toán chưa có cơ chế để
được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Ngoài ra, việc quản lý chi phí phát sinh mà
người thực hiện việc thanh toán phải trả khi thanh toán bằng tiền điện tử cũng chưa
được quy định rõ ràng.
4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về thanh toán bằng
tiền điện tử ở Việt Nam đáp ứng thời kỳ công nghiệp 4.0
Thứ nhất, cần có một định nghĩa rõ ràng về tiền điện tử
Việc đầu tiên khi hoàn thiện khung pháp luật về tiền điện tử là cần đưa ra một
định nghĩa rõ ràng, cụ thể về tiền điển tử để xác định phạm vi và đối tượng chịu sự
quản lý. Từ đó, làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp luật khác có liên
quan, trong đó có quy định về thanh toán bằng tiền điện tử; quản lý, giám sát cụ thể
đối với hoạt động cung ứng phát hành tiền điện tử; cơ chế quản lý các giao dịch thanh
toán bằng tiền điện tử;... đáp ứng nhu cầu từ thực tiễn và đáp ứng kỷ nguyên công
nghệ số.
Định nghĩa về tiền điện tử nêu tại Dự thảo thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP
ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt cần khẳng định
cụ thể rằng tiền điện tử là giá trị tiền đồng Việt Nam được lưu trữ trên các phương
tiện điện tử. Việc quy định cụ thể giá trị tiền đồng Việt Nam nhằm xác định rõ việc
thanh toán các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam chỉ được thanh toán bằng Đồng Việt
Nam, ngoài ra không được thanh toán bằng các thể loại tiền khác, các thể loại tiền
mới xuất hiện trên thị trường như Bitcoin, Ethereum,... là các thể loại tiền không được
dùng để thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam, đây chính là đặc điểm đặc trưng nhất để
phân biệt giữa phương tiện thanh toán pháp định và các phương tiện thanh toán không
được điều chỉnh hiện hành.
Với việc phân tích các đặc điểm đặc trưng của tiền điện tử tại Mục 2 nêu trên,
theo tác giả, tiền điện tử cần phải được định nghĩa cụ thể như sau: “Tiền điển tử là
một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt chứa đựng giá trị tiền đồng Việt
Nam, được lưu trữ trên các thiết bị điện tử như thẻ ngân hàng, ví điện tử, tiền di động,
67
... do các tổ chức dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán cung ứng, được
nhà nước cấp phép hoạt động và chịu sự quản lý của Nhà nước”.
Thứ hai, mở rộng hình thức biểu hiện của thanh toán bằng tiền điện tử
Dự thảo thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ
về thanh toán không dùng tiền mặt sắp tới cần quy định rõ ràng và thống nhất ví điện
tử, thẻ trả trước, tiền di động là các hình thức biểu hiện đặc trưng của thanh toán bằng
tiền điện tử đồng thời ban hành Thông tư riêng để tổ chức, quản lý, vận hành hình
thức biểu hiện thanh toán bằng tiền điển tử là tiền di động bởi lẽ ví điện tử, thẻ trả
trước cũng đã có các Thông tư quy định riêng, rất chặt chẽ.
Bên cạnh việc liệt kê các hình thức biểu hiện của thanh toán bằng tiền điện tử
nêu trên, Dự thảo Nghị định cũng cần dự liệu các hình thức biểu hiện của thanh toán
bằng tiền điện tử khác bởi lẽ trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
4, thị trường hoàn toàn có thể xuất hiện nhiều hình thức thanh toán bằng tiền điện tử
mới, mang nhiều ưu điểm hơn cho bên thanh toán và bên được thanh toán. Ngoài ra,
Cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần quy định “Quy trình thanh toán
bằng tiền điện tử” thật cụ thể, rõ ràng nhằm khắc phục tình trạng các hình thức thanh
toán mới trên thị trường ra đời nhưng lại chưa có cơ chế quản lý, vận hành. Khi đã có
quy trình thanh toán bằng tiền điện tử, các loại hình mới ra đời nếu đáp ứng đầy đủ
quy định về quy trình thanh toán bằng tiền điện tử thì được xem là hình thức thanh
toán bằng tiền điện tử.
Thứ ba, tổ chức được cung ứng, phát hành tiền điện tử
Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về tổ chức được cung ứng, phát
hành tiền điện tử mà chỉ được hiểu gián tiếp thông qua quy định liệt kê về các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không
dùng tiền mặt tại Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về
thanh toán không dùng tiền mặt. Việc liệt kê tổ chức nào thuộc nhóm tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức nào thuộc nhóm cung ứng dịch vụ trung gian thanh
toán như trên không đảm bảo tính dự liệu của luật khi trên thị trường dần xuất hiện
nhiều tổ chức có đầy đủ tài chính, vốn pháp định, mang nhiều ưu điểm trong dịch vụ
thanh toán bằng tiền điện tử. Do đó, quy định mới không nên liệt kê các tổ chức cung
68
cấp dịch vụ thanh toán mà cần quy định các điều kiện họat động của 02 nhóm tổ chức
này và xác định ngành nghề cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, cung ứng dịch
vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng là ngành nghề kinh
doanh có điều kiện để thống nhất với Luật Đầu tư năm 2020, tổ chức nào đáp ứng
điều kiện theo quy định thì được hoạt động một trong hai nhóm.
Thứ tư, bổ sung quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của tổ chức cung ứng
dịch vụ, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán bằng tiền điện tử trong việc
thực hiện các giao dịch thanh toán
Việc thanh toán bằng tiền điện tử diễn ra trên không gian mạng do đó tiềm ẩn
nhiều rủi ro cho các bên thực hiện giao dịch, nhất là bên thanh toán. Để các bên trong
giao dịch thanh toán có cơ chế để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
thì cần bổ sung các quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán, trung gian thanh toán bằng tiền điện tử như quy trình bảo mật thông
tin, quyền sao kê lịch sử thanh toán, quy trình giải quyết tranh chấp, cơ quan có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp, chế tài xử lý,...Việc bổ sung các quy định nêu trên cần
rà soát hệ thống pháp luật hiện hành để viện dẫn áp dụng, tránh trường hợp cùng một
nội dung nhưng được quy định tại nhiều văn bản luật.
5. Kết luận
Thanh toán bằng tiền điện tử là xu hướng của toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý về
thanh toán bằng tiền điện tử là việc làm cần thiết, có tính thời sự và ý nghĩa khoa học.
Bài viết đã từng bước làm rõ bản chất của tiền điện tử, thanh toán bằng tiền điện tử
để phân biệt với các thể loại tiền mới đang xuất hiện trên thị trường hiện nay; phân
tích thực trạng pháp luật điều chỉnh về tiền điền tử và đưa ra một số kiến nghị hoàn
thiện khung pháp lý điều chỉnh về vấn đề này nhằm đáp ứng kỷ nguyên công nghệ
số.
69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chính phủ (2012), Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng
tiền mặt;
2. Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không
dùng tiền mặt năm 2019;
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), Thông tư 19/2016/TT-NHNN quy
định về hoạt động thẻ ngân hàng.
5. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2010), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam;
6. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2020), Luật Đầu tư;
7. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2018), Luật An ninh mạng;
8. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2012), Luật Phòng, chống rửa tiền;
9. Quyết định số 2545/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020;
10. Quyết định 1255/QĐ-TTg ngày 21/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài
sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo: Giao NHNN nhiệm vụ rà soát, nghiên cứu và đề nghị sửa
đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật về tiền điện tử.
70
Bạn đang xem tài liệu "Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về thanh toán bằng tiền điện tử ở Việt Nam đáp ứng thời kỳ công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_kien_nghi_nham_hoan_thien_khung_phap_ly_ve_thanh_toan.pdf

