Xã hội học xây dựng pháp luật

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT  
Phạm Thị Duyên Thảo  
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Xã hội học xây dựng pháp luật là một loại nghiên cứu pháp lý - xã hội; theo đó,  
xây dựng pháp luật được tiếp cận dưới góc độ là một hiện tượng xã hội, xem xét  
các khía cạnh, bản chất xã hội, các bảo đảm cơ sở xã hội học của xây dựng pháp  
luật, các yếu tố xã hội tác động đến xây dựng pháp luật, cơ chế xã hội của xây  
dựng pháp luật cũng như hiệu quả, sự tác động ngược trở lại của xây dựng pháp  
luật đối với đời sống xã hội.  
Từ khóa: Xã hội học, xây dựng  
pháp luật.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/3/2021  
: 16/4/2021  
: 22/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Sociology of lawmaking is a type of socio-legal study; accordingly, law-making  
is approached from the perspective of a social phenomenon to consider the  
concept and nature of sociology so that it is to ensure the sociological basis of  
law-making, the social factors to impact on law-making, the social mechanism  
of law-making as well as the effectiveness, the reverse impacts of law-making  
on social life.  
Keywords: Sociology; lawmaking.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 20 Mar. 2021  
: 16 Apr. 2021  
: 22 Apr. 2021  
Approved  
1. Bản chất xã hội của xây dựng  
pháp luật  
XDPL tạo ra các khung khổ để thay đổi các  
hành vi có xu hướng cản trở sự phát triển  
(đặc biệt là hành vi của các công chức nhà  
nước) và ngược lại.  
Trước hết, xây dựng pháp luật (XDPL)  
chính là một loại thiết kế xã hội1, bao gồm  
việc dựng cho xã hội một “bản vẽ”, một bộ  
khung, mô hình, góp phần vào việc định  
hình, định hướng xã hội theo một hệ thống  
các quy ước nhất định. Hoạt động XDPL  
thực chất là tạo nên các quy phạm pháp  
luật (QPPL) - quy tắc của hành vi - để tác  
động vào các quan hệ xã hội, làm chúng  
đi theo đúng khuôn khổ mà xã hội mong  
muốn. Các khuôn khổ đó sẽ cung cấp quy  
tắc ứng xử, mô hình hóa hành vi của các  
thành viên trong xã hội, kiềm chế họ không  
thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện  
những hành vi nhất định, hoặc sẽ hành xử  
như thế này mà không phải như thế khác.  
XDPL xuất phát từ nhu cầu của xã hội,  
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.  
Nhu cầu điều chỉnh này, cùng các quyền, lợi  
ích, phần lớn trùng hợp với mong muốn của  
các cá nhân, các nhóm trong xã hội. Hoạt  
động XDPL không những nằm trong quá  
trình vận hành chung của xã hội, mà với các  
QPPL được xây dựng chủ động, mang tính  
“đón đầu”, “phòng ngừa” xã hội trong quá  
trình điều chỉnh, còn thể hiện sự định hướng  
xã hội.  
XDPL được vận hành nhờ các chất liệu  
đa dạng từ cuộc sống, chịu sự tác động  
nhiều chiều từ các khía cạnh, yếu tố khác  
1 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.268.  
Số 10(434) - T5/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nhau trong xã hội. Từ các yếu tố chung như:  
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bối cảnh  
quốc tế, ý thức pháp luật, truyền thống lịch  
sử cho đến các yếu tố trực tiếp như: tổ chức,  
năng lực, kỹ năng, kỹ thuật soạn thảo, phạm  
vi, tính chất, đối tượng điều chỉnh...  
mâu thuẫn về lợi ích, mức độ thiếu tương  
thích trong đáp ứng nhu cầu xã hội, sự yếu  
kém về kỹ thuật lập pháp, sự biến động của  
các quan hệ xã hội hoặc đến từ những tình  
huống xã hội thuộc phạm vi quản lý của  
Nhà nước. Những tình huống xã hội xuất  
hiện lặp đi lặp lại, nhất là tình huống mang  
yếu tố không bình thường, không chỉ giúp  
cho việc nhận diện vấn đề mà còn cho thấy  
các lỗ hổng của pháp luật hiện hành, kéo  
theo nhu cầu phải sửa đổi, bổ sung các quy  
định của pháp luật liên quan. Ví dụ, việc  
gia tăng các giao dịch về cây hoa phong  
lan đột biến với giá hàng chục, hàng trăm  
tỷ đồng đã thu hút không ít người lao vào  
đầu tư với mong muốn kiếm siêu lợi nhuận  
vì tin rằng sẽ có người bỏ tiền nhiều hơn  
để mua lại. Các hành vi lừa đảo theo đó  
cũng gia tăng, dẫn đến nhiều nghi vấn về  
tính xác thực của giao dịch. Ở góc độ pháp  
lý, nhiều ý kiến cho rằng, để những tình  
huống xã hội dạng này ngày càng xuất hiện  
là do những bất cập về pháp luật. Cụ thể,  
trong trường hợp nếu hộ gia đình, cá nhân  
trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất  
nông nghiệp (trồng trọt) chưa qua chế biến  
thành các sản phẩm khác, thì sản phẩm  
nông nghiệp trong trường hợp này không  
chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại  
khoản 1 Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng  
năm 2016 và được miễn thuế thu nhập cá  
nhân theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế  
thu nhập cá nhân năm 2007. Theo đó, việc  
cân nhắc, bổ sung các quy định về thuế và  
cơ chế kiểm soát đối với loại tình huống  
pháp lý này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong  
việc minh định các giao dịch, giúp người  
dân không bị cuốn vào những giao dịch  
tiềm ẩn đầy rủi ro, bất ổn có thể làm đảo  
lộn cuộc sống và mất trật tự an ninh.  
XDPL, đến lượt mình, cũng tác động trở  
lại mạnh mẽ đến các khía cạnh xã hội. Nó  
không chỉ là hoạt động chủ đạo góp phần  
tạo nên cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh,  
định hướng các quan hệ xã hội, mà còn là  
một hệ thống các thông tin xã hội tương ứng  
được thể hiện qua nội dung, cách thức điều  
chỉnh của các QPPL. XDPL góp phần quy  
phạm hóa các chuẩn mực xã hội khác như:  
đạo đức, phong tục, tập quán, các quy tắc  
của tổ chức chính trị, xã hội, làm đa dạng  
cách thức và gia tăng hiệu quả điều chỉnh  
các quan hệ xã hội.  
2. Cơ chế xã hội của xây dựng pháp luật  
Khác với cơ chế pháp lý trong XDPL,  
luôn mang tính quyền lực nhà nước với  
các quy trình luật định, cơ chế xã hội trong  
XDPL có đặc thù riêng, là quá trình gắn với  
sự tham gia của các lực lượng xã hội, gồm  
công dân, nhóm, tổ chức, hội nghề nghiệp,  
các thành phần khác nhau của xã hội dân sự  
vào việc XDPL của Nhà nước.  
Cơ chế xã hội trong XDPL có thể xuất  
hiện ở giai đoạn này hay giai đoạn khác,  
hoặc lặp đi lặp lại trong các giai đoạn của  
quá trình XDPL. Các hình thức của cơ chế  
đó là: nhận biết, phản ánh, thiết lập; tham  
gia; phản kháng, phản biện xã hội và giám  
sát xã hội trong XDPL.  
Nhận biết, phản ánh, thường xuất hiện  
ở giai đoạn đầu của quá trình XDPL. Từ  
thực tiễn, các thành phần xã hội nhận  
thức, đánh giá về trạng thái, tính chất,  
hiệu quả của các quy phạm pháp luật hiện  
hành trong khi điều chỉnh quan hệ xã hội.  
Những bất cập, thiếu khuyết của pháp luật  
sẽ được nhận diện. Bất cập có thể đến từ sự  
Gắn liền với nhận thức, hoạt động phản  
ánh sẽ diễn ra, nhằm tái hiện các vấn đề xã  
hội - pháp lý liên quan đến các đặc trưng,  
hệ quả xã hội hoặc tính chất của các QPPL,  
4
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nhằm đạt được những nhu cầu từ thực tiễn.  
Một biểu hiện phổ biến trong cơ chế nhận  
thức, phản ánh là dư luận xã hội. Dư luận xã  
hội là các ý kiến còn lại sau quá trình phân  
tích, đánh giá của các thành phần xã hội về  
những vấn đề mà họ cảm thấy có ý nghĩa  
hoặc động chạm đến lợi ích, giá trị chung.  
Thông qua dư luận xã hội, quá trình nhận  
biết, phản ánh trong XDPL của các thành  
phần xã hội được công khai, cập nhật.  
cách là các đối tượng nghiên cứu thụ động,  
mà với tư cách là các chủ thể tích cực, chủ  
động vào các chương trình phân tích được  
tiến hành “sẽ thúc đẩy một chương trình  
lập pháp ngày càng dân chủ”2.  
Ở Việt Nam, sự tham gia của xã hội vào  
XDPL được ghi nhận tại Điều 28 Hiến pháp  
năm 2013, cụ thể hóa tại Điều 5 Luật Ban  
hành văn bản QPPL năm 2015 “bảo đảm  
công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận,  
phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ  
quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban  
hành văn bản QPPL”. Cơ chế tham gia của  
xã hội vào XDPL không chỉ đảm bảo quyền  
của công dân, nhằm thu hút, phát huy năng  
lực sáng tạo của nhân dân mà còn gia tăng  
trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình  
tạo ra các sản phẩm pháp luật đáp ứng nhu  
cầu xã hội, phục vụ con người3.  
Sự tham gia trong XDPL là quá trình  
người dân, các lực lượng xã hội có thể góp  
phần hoạt động của mình vào xây dựng các  
quyết định, chính sách pháp luật có ảnh  
hưởng đến hành vi, các quyền và lợi ích  
của họ. Sự tham gia của xã hội vào XDPL  
thông thường đến từ các đối tượng chịu sự  
tác động trực tiếp từ các văn bản QPPL,  
các đối tượng khác chịu sự tác động của  
các dự thảo văn bản QPPL, của các tổ chức  
xã hội, chuyên gia, hoặc từ các chủ thể  
khác trong tương quan với nhận thức, mức  
độ quan tâm của họ đến XDPL. Các đối  
tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn  
bản QPPL thuộc nhóm yếu thế như phụ nữ,  
trẻ em, người khuyết tật, cơ chế tham gia  
có những đặc thù, ảnh hưởng từ yếu tố thể  
chất, tinh thần của nhóm. Sự tham gia của  
các chuyên gia, nhà khoa học có ý nghĩa  
quan trọng, bởi họ thường có tri thức, kỹ  
năng, gia tăng cơ hội xây dựng được các  
VBQPPL có chất lượng, hiệu quả. Sự tham  
gia của các đối tượng có lợi ích liên quan  
có thể làm cho họ hành xử khác đi. Đặc  
biệt, khi sự tham gia không phải với tư  
Phản biện, phản kháng xã hội: Phản  
biện xã hội trong XDPL là việc bày tỏ  
ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở  
khoa học đối với các chính sách, pháp luật  
ở những công đoạn nhất định của quá trình  
XDPL, là “nhận diện, tìm ra điểm đúng,  
sai, bất hợp lý của chính sách được đưa ra  
để giải quyết vấn đề phát sinh, từ đó có thể  
kiến nghị điều chỉnh hay thậm chí là hủy  
bỏ chính sách đó, đề xuất chính sách mới,  
phù hợp hơn để giải quyết vấn đề”4. Nhờ  
cơ chế phản biện, mức độ tương thích, hiệu  
quả của chính sách pháp luật sẽ được nhận  
diện, những lập luận, đề xuất đưa ra sẽ góp  
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của  
chính sách pháp luật khi được ban hành.  
2 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr.197.  
3 Xem Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Thị Minh Hà, Thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạt động XDPL  
ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cả cách tiếp cận dựa trên quyền con người, in trong sách “Sự tham gia của xã  
hội vào quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng trên thế giới và ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia  
Sự thật, Hà Nội, 2020, tr.125-150  
4 Lê Thị Thiều Hoa, Phản biện xã hội và vai trò của phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu  
tro-cua-phan-bien-xa-hoi-o-Viet-Nam-hien-nay.html.  
Số 10(434) - T5/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Phản biện có thể diễn ra trực tiếp tại các hội  
nghị lấy ý kiến, tiếp xúc cử tri của đại biểu  
dân cử hoặc thông qua việc đăng tải ý kiến  
trên phương tiện thông tin đại chúng, thông  
qua các tổ chức mà mình là thành viên hoặc  
qua việc đối thoại với các chủ thể có văn  
bản được phản biện.  
sự tham gia đa dạng, chủ động của nhân dân  
vào hoạt động XDPL, cũng là sự cạnh tranh  
cần thiết trong tương quan với việc nâng  
cao chất lượng, hiệu quả của cơ chế pháp  
lý của XDPL.  
3. Bảo đảm cơ sở xã hội học của xây dựng  
pháp luật  
Phản kháng xã hội trong XDPL có mục  
đích loại bỏ hoặc kiềm chế việc xây dựng  
hoặc ban hành những chính sách, pháp luật  
mà các chủ thể phản kháng thấy không hợp  
lý, không có ích cho xã hội, cộng đồng.  
Phản kháng và phản biện xã hội trong  
XDPL không hoàn toàn giống nhau, nhưng  
đều là những cách thức thể hiện thái độ,  
phản ứng tích cực của xã hội đối với các  
vấn đề liên quan đến XDPL, nhằm hướng  
tới chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm  
lập pháp, lập quy.  
Bảo đảm cơ sở xã hội học của XDPL  
là những yếu tố làm cho XDPL chắc chắn  
được thực hiện, duy trì hoặc có đầy đủ  
những gì cần thiết để triển khai hiệu quả.  
“Trong xã hội học pháp luật, hoạt động thu  
thập và phân tích thông tin xã hội cần thiết  
cho việc soạn thảo có kết quả các QPPL  
được hiểu là cơ sở xã hội học của hoạt động  
XDPL”5. Nội dung bảo đảm cơ sở xã hội  
học trong XDPL gồm:  
- Thông tin xã hội học về chính sách  
pháp luật  
Giám sát xã hội trong XDPL là việc  
công dân, các thành phần xã hội, thông qua  
các cách thức được pháp luật quy định, tiến  
hành quan sát, theo dõi, kiểm tra hoạt động  
XDPL của các chủ thể có thẩm quyền xem  
có đúng đắn, hợp pháp, hợp lý, chất lượng,  
hiệu quả không. Cách thức giám sát có thể  
qua khiếu nại, tố cáo, qua báo chí, phương  
tiện truyền thông đại chúng hoặc qua việc  
thực hiện dân chủ ở cơ sở trong liên quan  
đến quá trình XDPL.  
Là một trong những chính sách công có  
vị trí quan trọng trong đời sống pháp lý,  
chính sách pháp luật là “chiến lược hoạt  
động của Nhà nước trong lĩnh vực điều  
chỉnh pháp luật, cũng như hoạt động phản  
ánh các lợi ích xã hội trong việc phân bổ lại  
các lĩnh vực ảnh hưởng của các điều chỉnh  
xã hội khác nhau”6. XDPL cần phải có các  
thông tin xã hội học về chính sách pháp  
luật vì, “chính sách là nội dung, văn bản  
pháp luật là vỏ bọc chứa đựng các chính  
sách đó dưới dạng ngôn ngữ và hình thức  
pháp lý”7. Thông tin xã hội học về chính  
sách pháp luật cơ bản đến từ quá trình phân  
tích chính sách. Quá trình này cần thiết,  
bởi nó đảm bảo mục tiêu của pháp luật là  
phục vụ lợi ích công cộng hoặc một bộ phận  
nhất định trong công chúng; giúp cho các  
nhà lập pháp hiểu rõ “mức độ tác động của  
các biện pháp cưỡng chế thi hành tới đâu  
Các hình thức của cơ chế xã hội của  
XDPL có quan hệ mật thiết, tiếp nối, hòa  
trộn trong quá trình XDPL. Để giám sát,  
cần nhận biết, phản ánh và ngược lại. Giám  
sát cung cấp dữ liệu sống động cho quá  
trình phản kháng, phản biện xã hội, nhằm  
hướng tới chất lượng, hiệu lực thực sự của  
pháp luật. Ở góc độ tích cực nhất, các cơ  
chế xã hội của XDPL là biểu hiện mạnh mẽ  
5 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.275.  
6 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.195.  
7 Nguyễn Đức Lam, Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước, https://thongtinphapluatdansu.  
edu.vn/2009/04/06/2615/.  
6
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
và lường trước những phản ứng ngược lại;  
đặt sản phẩm lập pháp trong một chuỗi các  
hoạt động theo trật tự cố định, từ lúc nhận  
biết nhu cầu, xác định phương án, thiết kế  
phương án, cho đến lúc thông qua; giúp  
nhận biết mối liên hệ của văn bản chuẩn bị  
ban hành với những văn bản cùng lĩnh vực,  
từ đó tăng tính hiệu quả; hướng tới mức độ  
tương thích giữa chi phí và lợi ích để cân  
nhắc xem có cần ban hành văn bản QPPL  
đó hay không8. Trong quá trình phân tích  
chính sách, sự tham vấn rộng rãi ý kiến của  
quần chúng, các bộ ngành liên quan sẽ góp  
phần nâng cao chất lượng, làm minh bạch  
hóa, đời sống hóa hoạt động XDPL.  
chính là một trong những nguyên nhân dẫn  
đến hoạt động XDPL. Nhờ những thông tin  
này, mà các chủ thể có thẩm quyền nhận  
thức được trạng thái của QPPL hiện hành  
dưới góc độ hiệu quả xã hội, từ đó có những  
ứng xử phù hợp liên quan đến những văn  
bản pháp luật sắp ban hành một cách thực  
chất, tránh hình thức, phiến diện. Qua các  
thông tin về hiệu quả xã hội của QPPL hiện  
hành, các chủ thể xây dựng pháp luật có cơ  
sở thực tiễn để cân nhắc kỹ lưỡng việc ban  
hành QPPL liên quan.  
- Thông tin xã hội học về nhu cầu và các  
lợi ích pháp lý - xã hội  
Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn  
của con người về vật chất, tinh thần hoặc  
sự vật, hiện tượng nào đó như là điều kiện  
để tồn tại và phát triển. Lợi ích, ở một khía  
cạnh nhất định, nó “như là nhu cầu khách  
quan được chế định bởi vị trí xã hội của một  
cá nhân, một dân tộc, một nhóm xã hội nào  
đó”, “là sự phản ánh chủ quan những nhu  
cầu tồn tại khách quan”9, “là mối quan hệ  
lựa chọn đã được nhận thức của nhu cầu”10.  
Trong thực tế, có rất nhiều nhu cầu và các  
lợi ích pháp lý - xã hội với các tính chất và  
mức độ khác nhau cần phải được nhận thức  
trong quá trình XDPL. Đó có thể là những  
nhu cầu, lợi ích chung thuộc tất cả các lĩnh  
vực của đời sống xã hội, có thể là nhu cầu  
của cá nhân, tổ chức, các nhóm cộng đồng  
nhất định tương ứng. Việc xác định chính  
xác thông tin về nhu cầu và các lợi ích pháp  
lý - xã hội liên quan trong XDPL giúp cho  
việc lựa chọn được các nhu cầu, lợi ích  
mang tính ưu tiên, phù hợp với thực tiễn,  
- Thông tin xã hội học về hiệu quả của  
các QPPL hiện hành  
Thông tin xã hội học về hiệu quả của  
QPPL hiện hành là toàn bộ các “kết quả như  
yêu cầu” của QPPL, những thông báo, dữ  
liệu thu nhận dưới góc độ xã hội về quá trình  
QPPL phát huy giá trị, vai trò của nó trong  
khi điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan.  
Các thông tin này có thể là: mức độ đáp ứng  
về mục tiêu, phạm vi, tính chất điều chỉnh  
các quan hệ xã hội trực tiếp của QPPL; kết  
quả của việc điều chỉnh ở cả góc độ tích  
cực, tiêu cực, nguyên nhân dẫn tới những  
kết quả đó; mức độ tương tác của QPPL với  
các QPPL liên quan và với cả hệ thống pháp  
luật; mức độ hiện thực hóa các dự báo của  
QPPL trong quá trình ban hành trước đó;  
những yêu cầu đặt ra cùng các giải pháp cụ  
thể để tiếp tục hoàn thiện QPPL, đáp ứng  
mục tiêu điều chỉnh xã hội. Thông tin xã hội  
học về hiệu quả của QPPL hiện hành cũng  
8 Nguyễn Đức Lam, Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước, https://thongtinphapluatdansu.  
edu.vn/2009/04/06/2615/  
9
V.I. Pripisnov được dẫn theo bài viết “Lợi ích và vai trò động lực của nó đối với sự phát triển xã hội -  
trien-xa-hoi-phan-i/.  
10  
N.A. Gnilickij được dẫn theo bài viết “Lợi ích và vai trò động lực của nó đối với sự phát triển xã hội -  
trien-xa-hoi-phan-i/.  
Số 10(434) - T5/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trong tương quan với sự điều chỉnh trực tiếp  
của quy phạm pháp luật sắp ban hành. “Ở  
đây cần phải giải quyết hai nhiệm vụ có mối  
liên hệ chặt chẽ với nhau: bảo đảm việc thu  
thập thông tin đầy đủ và chính xác về các  
lợi ích xã hội, các lợi ích pháp luật và có  
khả năng phân biệt lợi ích khách quan với  
các lợi ích chủ quan”11.  
trong tương quan với các yếu tố tác động,  
điều kiện đảm bảo của xã hội và pháp luật.  
Cơ chế này là sự kết hợp giữa quá trình điều  
chỉnh xã hội của pháp luật, thông qua các  
yếu tố pháp lý đặc thù với quá trình tham  
gia của các thành phần, yếu tố xã hội khác.  
Thông tin xã hội học về cơ chế hoạt động  
pháp lý - xã hội của QPPL được soạn thảo  
cung cấp một họa đồ các công đoạn điều  
chỉnh pháp luật của QPPL trong xã hội,  
trong tương quan với quá trình điều chỉnh  
của các QPPL liên quan. Từ đó, có thể nhận  
diện được sự phù hợp hay không của QPPL  
trong quá trình điều chỉnh, mức độ đáp ứng  
các yêu cầu của xã hội, mức độ tương thích  
của QPPL trong hệ thống pháp luật nói  
chung, hiệu quả điều chỉnh của QPPL đó  
ra sao.  
Để xác định được nhu cầu, lợi ích mang  
tính ưu tiên dẫn đến các ưu tiên trong XDPL,  
cần căn cứ vào các thông tin như: sự nghiêm  
trọng của vấn đề xã hội cần điều chỉnh,  
phạm vi những vấn đề xã hội được xác định  
ảnh hưởng đến dân chúng, ai nằm trong  
nhóm bị ảnh hưởng; tác động xã hội của các  
văn bản QPPL được đề xuất, ai được lợi,  
ai chịu thiệt và trong phạm vi nào12... Các  
tiêu chí xác định việc ưu tiên trong XDPL  
có thể dựa vào việc giải quyết các vấn đề:  
“Cải thiện chất lượng điều hành nhà nước  
không, như thế nào? tạo thêm nhiều cơ hội  
việc làm không? Nâng cao sản xuất, hàng  
hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu căn bản  
của đại bộ phận dân chúng không? Nâng  
cao sự công bằng không, nâng cao như thế  
nào?”13. Thông tin xã hội học về nhu cầu  
và các lợi ích pháp lý - xã hội sẽ giúp các  
cơ quan xây dựng pháp luật sử dụng các dữ  
kiện thực tế để quyết định dành các nguồn  
lực cho dự luật nào và theo thứ tự ra sao.  
Thông qua cơ chế hoạt động pháp lý - xã  
hội của QPPL được soạn thảo, tác động của  
các yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hóa,  
xã hội, các quy phạm xã hội khác như đạo  
đức, tập quán, tín điều tôn giáo cũng được  
xem xét. Việc phân tích thực trạng và tìm  
lời giải cho mối tương quan giữa các yếu  
tố pháp lý với các yếu tố xã hội, giữa các  
quy phạm pháp luật với các quy phạm xã  
hội như đạo đức, tập quán cũng sẽ giúp thúc  
đẩy hay cản trở việc đạt được những mục  
đích, yêu cầu của pháp luật trong tương lai.  
- Thông tin xã hội học về cơ chế hoạt  
động pháp lý - xã hội của các QPPL được  
soạn thảo  
- Thông tin dự báo về hiệu quả, tác động  
xã hội của QPPL sẽ được ban hành  
“Dự báo pháp luật là loại nghiên cứu  
nhằm mục đích dự đoán các trạng thái tương  
lai của pháp luật và của các hiện tượng do  
pháp luật quy định, mang tính chất xác  
suất, nhiều phương án”14. Mặc dù, chỉ mang  
Cơ chế hoạt động pháp lý - xã hội của  
các QPPL được soạn thảo là cách thức, quá  
trình các QPPL hiện thực hóa việc tác động  
đến các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh,  
11 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 289.  
12 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr.64.  
13Ann Seidman, Robert B. Seidman, NalinAbeyesekere, Xem xét Dự án Luật, Cẩm nang cho các nhà lập pháp,  
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2004, tr.39.  
14 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 541.  
8
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tính chất dự đoán tương lai, dự đoán những  
thay đổi tiếp theo của trạng thái hiện có,  
nhưng dự báo về hiệu quả, tác động xã hội  
của QPPL sẽ được ban hành được xem là  
một trong những đảm bảo quan trọng của  
XDPL. Bởi lẽ, nó cung cấp các thông tin  
mang tính báo trước về tình hình hiệu quả,  
tác động xã hội của QPPL sẽ được ban hành  
có nhiều khả năng sẽ xảy ra, dựa trên cơ  
sở những số liệu, những thông tin đã có.  
Thông thường, các dự báo sẽ được gửi kèm  
các dự án đề xuất xây dựng hoặc dự thảo  
văn bản QPPL, và càng nhiều thông tin về  
dự báo càng tốt cho quá trình quyết định  
của chủ thể có thẩm quyền. Ở cấp độ cơ bản  
nhất, các dự báo phải chỉ rõ được ai sẽ là  
người được hưởng lợi, ai sẽ là người chịu  
ảnh hưởng; các chi phí của chính phủ; tác  
động của QPPL với các quan hệ xã hội mà  
nó điều chỉnh cùng tương quan với hệ thống  
các QPPL liên quan; mức độ trật tự và sự ổn  
định của các quan hệ xã hội sau khi được  
điều chỉnh; tình trạng pháp chế trong đời  
sống xã hội; những lợi ích vật chất và tinh  
thần được tạo ra; những hiện tượng và các  
quá trình khác của đời sống xã hội có thể  
xảy ra khi chịu sự tác động của pháp luật và  
quá trình điều chỉnh pháp luật...  
hình thành một loạt chế định của các ngành  
pháp luật khác, như chế độ tiền lương trong  
Luật Lao động hoặc chế định tiền trợ cấp  
và sở hữu của vợ chồng trong pháp luật hôn  
nhân gia đình...; trong sự hình thành và hoạt  
động của pháp luật về đất đai, tài nguyên  
thiên nhiên”15.  
Chính trị, theo nghĩa chung nhất, là sự  
ổn định, bền vững của thể chế, của hệ thống  
chính trị, góp phần tạo lập môi trường thuận  
lợi cho XDPL. Cụ thể hơn, chính trị thể hiện  
qua chủ trương, chính sách của đảng cầm  
quyền, là cơ sở tư tưởng cho quá trình thể  
chế hóa hành pháp luật của Nhà nước, cung  
cấp những định hướng phát triển cho các  
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội.  
Yếu tố pháp luật có tác động mạnh mẽ  
đến XDPL. Nó không chỉ thể hiện tính chất,  
mức độ điều chỉnh các quan hệ xã hội, lý  
do của việc XDPL mà còn tạo khuôn khổ  
pháp lý cho hoạt động này. Hệ thống pháp  
luật hiện hành có tác động trực tiếp đến quá  
trình XDPL bởi nó bộc lộ tính chất, phạm vi  
điều chỉnh cũng như sự thiếu hụt, mức độ,  
sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt,  
các quy định về quy trình, thủ tục, thẩm  
quyền, cũng như trách nhiệm pháp lý trong  
XDPL sẽ tác động đến chất lượng, cách  
thức XDPL.  
4. Các yếu tố tác động đến xây dựng  
pháp luật  
Văn hóa nói chung, văn hóa pháp luật  
nói riêng cũng có tác động không nhỏ đến  
XDPL. Nó chi phối nhận thức, thái độ, kỹ  
năng của chủ thể có thẩm quyền, đồng thời  
tác động đến mức độ quan tâm, tham gia  
của các chủ thể khác trong xã hội vào quá  
trình kiểm tra, giám sát, đóng góp ý kiến  
trong XDPL. Nếu ý thức pháp luật của các  
cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước  
mang tính tích cực, coi trọng trách nhiệm,  
đạo đức công vụ, sẽ góp phần nâng cao chất  
lượng, tạo niềm tin cho các chủ thể liên  
quan trong XDPL.  
Yếu tố tác động là những yếu tố làm cho  
quá trình XDPL có những ảnh hưởng, biến  
đổi nhất định. Đó có thể là các yếu tố chung  
như: kinh tế, chính trị, văn hóa, bối cảnh  
quốc tế, pháp luật, cũng có thể là các yếu  
tố cụ thể như: năng lực xây dựng pháp luật,  
vấn đề tổ chức, dư luận xã hội, cơ sở vật  
chất, kinh phí...  
Kinh tế là yếu tố mang tính nền tảng,  
tác động đến XDPL ở nhiều khía cạnh, từ  
tính chất, cơ cấu cho đến nội dung, “kinh tế  
đóng vai trò liên kết, quyết định cả trong sự  
15 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 241.  
Số 10(434) - T5/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Yếu tố năng lực XDPL là khả năng tạo  
ra được các dự thảo văn bản quy phạm  
pháp luật có chất lượng, hiệu quả, thuộc  
về đội ngũ các chủ thể có thẩm quyền  
XDPL. Nó được tạo nên bởi một tổng thể  
gồm năng lực chuyên môn, khả năng đáp  
ứng mục tiêu, trách nhiệm về lòng trung  
thành, tính cẩn mật, khả năng chấm dứt  
hoặc từ chối tuân theo các chỉ đạo có  
thể gây ảnh hưởng đến tính minh bạch,  
chất lượng của quá trình XDPL. Năng  
lực XDPL là yếu tố tác động mang tính  
quyết định đối với chất lượng của các văn  
bản QPPL được ban hành, bởi nó trực  
tiếp biến các chính sách, chủ trương, định  
hướng chính trị, mong muốn, nhu cầu của  
xã hội... thành các quy định cụ thể của  
pháp luật, cái sẽ tác động trực tiếp đến  
hành vi của các chủ thể liên quan.  
Yếu tố tổ chức cũng rất cần cho XDPL,  
vì suy cho cùng, mọi hoạt động muốn đạt  
hiệu quả, bắt buộc phải được tổ chức tốt.  
Yếu tố tổ chức trong XDPL đến từ nhiều  
khía cạnh, từ việc bố trí hợp lý về cơ cấu  
các chủ thể chịu trách nhiệm, cho đến  
tính khả thi của mọi công đoạn khi triển  
khai. Tất cả đều phải được nghiên cứu,  
tính toán hợp lý, khoa học, có kế hoạch  
cụ thể. Trong quá trình đó, trách nhiệm  
của các cá nhân phải được phát huy cao  
nhất, các bước, công đoạn phải có lộ trình  
và khả thi.  
Yếu tố chi phí và cơ sở vật chất trong  
thực tiễn cũng ảnh hưởng lớn tới quá trình  
XDPL. Nó không chỉ làm cho hoạt động  
XDPL vận hành trôi chảy, mà còn chi phối  
cả đến thời gian hoàn thành, phạm vi, tính  
chất của văn bản pháp luật được soạn thảo.  
Nếu kinh phí, cơ sở vật chất thiếu thốn,  
không đáp ứng yêu cầu, không hợp lý, thì  
các chủ thể có thẩm quyền khó bảo đảm  
tiến độ triển khai nhiệm vụ, việc tổ chức  
cho các thành phần xã hội, cơ quan, tổ chức  
và người dân tham gia XDPL theo quy định  
ở các công đoạn cũng khó đạt chất lượng  
như mong muốn.  
Dư luận xã hội là yếu tố để các lực lượng  
xã hội thể hiện quan điểm của mình về các  
vấn đề xã hội, trong đó có hoạt động XDPL.  
Dư luận xã hội góp phần tạo điều kiện để  
các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm  
chủ, thể hiện ý chí, mở rộng nền dân chủ  
xã hội, tích cực tham gia vào quá trình  
XDPL. Dư luận xã hội cũng là nguồn thông  
tin phản hồi có ý nghĩa quan trọng và thiết  
thực với XDPL, bởi mọi vướng mắc, thiếu  
hụt, khe hở của pháp luật đều có thể được  
nhận diện qua dư luận, từ đó giúp chủ thể có  
thẩm quyền ra các văn bản, quyết định phù  
hợp lòng dân. Dư luận xã hội cũng có sức  
mạnh to lớn trong việc định hướng, điều  
chỉnh hành vi của các thành viên trong xã  
hội, trong đó có hành vi của các chủ thể trực  
tiếp thực hiện hoạt động XDPL, để các chủ  
thể này lắng nghe dư luận một cách nghiêm  
túc, có những phân tích khoa học để rút  
ra được những kết luận chính xác về thực  
trạng các quan hệ xã hội đang cần có pháp  
luật điều chỉnh16.  
Các yếu tố cơ bản nêu trên, trong quá  
trình tác động đến XDPL luôn có tác động  
nhất định đến nhau, ảnh hưởng đến XDPL  
cả ở góc độ tích cực lẫn tiêu cực. Việc xem  
xét, nghiên cứu các yếu tố tác động đến  
XDPL là một khía cạnh quan trọng của các  
nghiên cứu pháp lý xã hội thuộc lĩnh vực  
XDPL. Nó giúp việc nhận diện mức độ, tính  
chất tác động, ảnh hưởng của các nhân tố xã  
hội, đồng thời phản ảnh nhu cầu của xã hội  
đối với quá trình điều chỉnh các lĩnh vực  
quan hệ xã hội nhất định. Từ đó, có thể đưa  
ra các phương án, giải pháp tối ưu, nhằm  
nâng cao chất lượng hoạt động và sản phẩm  
của XDPL.  
16 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, năm 2018, tr.253-255.  
10  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
5. Tác động xã hội của xây dựng pháp luật  
Thông qua XDPL, người dân, các lực  
lượng khác nhau trong xã hội thể hiện quan  
điểm, nhu cầu, nguyện vọng của mình,  
cũng chính là những yêu cầu đối với Nhà  
nước trong quá trình hiện thực hóa các  
quyền mà nhân dân giao phó. XDPL cũng  
chính là quá trình hiện thực hóa các quyền  
con người, hiện thực hóa chủ quyền nhân  
dân và các trách nhiệm của Nhà nước. “Khi  
Nhà nước đề ra một chính sách và sau đó  
cam kết thực hiện chính sách đó, thì các nhà  
soạn thảo pháp luật phải chuyển hóa chính  
sách đó thành quy định của pháp luật để  
cho các cán bộ nhà nước khác thực thi. Sau  
cùng, Nhà nước chỉ có một con đường là  
thực thi các chính sách của mình thông qua  
việc ban hành và thực thi pháp luật”19.  
Như đã trình bày, XDPL chính là một  
loại thiết kế xã hội, XDPL trước hết là  
việc quy phạm hóa các hành vi mang  
tính điển hình, phổ biến của các chủ thể  
trong xã hội vào phạm vi điều chỉnh của  
pháp luật. Từ đó, tạo ra một khung khổ  
pháp lý cho các quan hệ xã hội vận hành  
theo đúng mong muốn của Nhà nước và  
cộng đồng xã hội, tạo tiền đề cho một xã  
hội trật tự, ổn định, phát triển. “XDPL là  
việc biến ý chí của Nhà nước thành pháp  
luật và tạo cho nó một đặc tính pháp  
lý, nó cũng biến các yêu cầu của người  
dân thành pháp luật - yêu cầu mang tính  
quyền lực”17.  
XDPL cũng là hoạt động tạo nên sự  
kết nối giữa các thành viên trong quá  
trình tham gia vào các cơ chế xã hội -  
pháp lý của XDPL. Sự kết nối có thể  
qua việc cùng tạo nên dư luận xã hội về  
một vấn đề nhất định mà cộng đồng quan  
tâm, cũng có thể qua việc đóng góp ý  
kiến, tham gia, phản biện, phản kháng  
hoặc kiểm tra, giám sát quá trình XDPL  
của các chủ thể có thẩm quyền. XDPL vì  
vậy, có tác dụng tạo ra những liên kết và  
đồng thuận xã hội giữa các thành viên.  
“Cân nhắc các vấn đề có tầm quan trọng  
quốc gia, các vấn đề và nhu cầu của công  
chúng là một chức năng quan trọng của  
lập pháp hiện đại. Thông qua chức năng  
này, lập pháp phản ánh dư luận xã hội về  
nhiều vấn đề khác nhau. Các cuộc tranh  
luận được tổ chức trong quá trình lập  
pháp có giá trị giáo dục rất lớn đối với  
người dân”18.  
XDPL đôi khi cũng làm cản trở tiến trình  
dân chủ, hạn chế các quyền con người, nếu  
quá trình xây dựng diễn ra một cách hình  
thức, không thể hiện được ý chí, nguyện  
vọng cũng như sự tham gia của các thành  
phần xã hội, đặc biệt, khi sản phẩm của quá  
trình XDPL là những văn bản QPPL có chất  
lượng kém, không đáp ứng nhu cầu hoặc mâu  
thuẫn với hệ thống pháp luật đã ban hành.  
Như vậy, xã hội học XDPL là loại nghiên  
cứu pháp lý - xã hội nhằm nhận thức hoạt  
động XDPL một cách sống động nhất, gắn  
liền với hơi thở của xã hội. Thông qua những  
khía cạnh xã hội trong hoạt động XDPL,  
vai trò của các thành phần xã hội ngày càng  
được nhìn nhận trong quá trình XDPL; đồng  
thời, hoạt động XDPL lập pháp được đảm  
bảo bởi cơ sở xã hội vững chắc góp phần  
nâng cao chất lượng, tính khả thi của các văn  
bản QPPL trong thực tiễn  
17  
yourarticlelibrary.com/constitution/legislature-meaning-functions-and-types-of-legislature/40337.  
18  
yourarticlelibrary.com/constitution/legislature-meaning-functions-and-types-of-legislature/40337.  
19 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.13.  
Số 10(434) - T5/2021  
11  
pdf 9 trang Thùy Anh 24061 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xã hội học xây dựng pháp luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxa_hoi_hoc_xay_dung_phap_luat.pdf