Chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong công ước viên 1980: Tiếp cận pháp lý và khuyến nghị thực thi tại Việt Nam
CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980:
TIẾP CẬN PHÁP LÝ VÀ KHUYẾN NGHỊ THỰC THI TẠI VIỆT NAM
TRẦN VIẾT LONG* - BÙI THỊ QUỲNH TRANG**
Bài viết phân tích các quy định trong Công ước Viên 1980 về chuyển rủi ro đối với hàng hóa
như nội hàm chuyển rủi ro đối với hàng hóa, nghĩa vụ khi chuyển rủi ro, thời điểm chuyển rủi
ro qua các điều luật cụ thể. Đồng thời, bài viết so sánh với quy định pháp luật Việt Nam để từ
đó khuyến nghị một số giải pháp thực thi có hiệu quả ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Chuyển rủi ro, Công ước Viên 1980, hàng hóa, hợp đồng.
Ngày nhận bài: 29/3/2021; Biên tập xong: 07/4/2021; Duyệt đăng: 10/4/2021
The article analyzes provisions in CISG 1980 relating to the passing of risk such as
the principle of the passing of risk, obligations in passing of risk, time of the passing of
risk. Furthermore, by comparison to Vietnamese regulations, it provides some effective
implementation solutions in Vietnam.
Keywords: Passing of risk, CISG 1980, goods, contract.
gày nay, thương mại quốc tế đóng lý quan trọng cho các bên trong quá trình
vai trò quan trọng trong chiến lược “phân bổ” rủi ro khi thực hiện các giao dịch
N
phát triển kinh tế quốc gia. Tuy
mua bán hàng hóa quốc tế.
nhiên, đi cùng với sự phát triển nhanh chóng
của hoạt động thương mại quốc tế là các rủi
ro sẽ xảy đến với các thương nhân, đặc biệt
là những rủi ro liên quan đến hàng hóa trong
các giao dịch liên quan đến hợp đồng. Do đó,
xác định trách nhiệm, nghĩa vụ và phân định
1. Quy định của Công ước Viên 1980 về
chuyển rủi ro đối với hàng hóa
1.1. Nguyên tắc chuyển rủi ro đối với hàng
hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nguyên tắc chuyển rủi ro đối với hàng
rủi ro là một trong những vấn đề pháp lý hóa được quy định tại Điều 66 của Công ước
quan trọng trong quá trình đàm phán, giao Viên 1980 như sau: “Việc mất mát hay hư hỏng
kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa hàng hóa xảy ra sau khi rủi ro chuyển sang người
mua không miễn trừ cho người này nghĩa vụ phải
trả tiền, trừ phi việc mất mát hay hư hỏng ấy là do
hành động của người bán gây nên”.
quốc tế.
Từ năm 1951, một Ủy ban đặc biệt do Hội
nghị Hague chỉ định để thực hiện việc sửa đổi
Luật thống nhất về mua bán hàng hóa quốc
tế đã báo cáo rằng rủi ro đối với hàng hóa là
một trong những vấn đề quan trọng nhất mà
các nhà soạn thảo cần phải xét đến1. Theo đó,
nội dung liên quan đến chuyển rủi ro đối với
hàng hóa trở thành một trong những vấn đề
trọng tâm trong quá trình sửa đổi Luật thống
nhất về mua bán hàng hóa quốc tế. Những
yếu tố này được đặc biệt chú trọng trong quá
trình soạn thảo Công ước Viên 1980 về Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Công ước
là một trong những nỗ lực thành công nhất
trong việc thống nhất pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế. Đặc biệt, Công ước
Viên 1980 đã xây dựng được một hệ thống các
nguyên tắc xác định vấn đề chuyển rủi ro đối
Về nguyên tắc, rủi ro đối với hàng hóa sẽ
được chuyển giao từ người bán sang người
mua tại một thời điểm nhất định. Theo đó,
sau thời điểm này, người mua phải chịu trách
nhiệm liên quan đến hàng hóa đó trong mọi
hoàn cảnh, trừ trường hợp người mua chứng
minh được rủi ro đối với hàng hóa đó xuất
phát từ lỗi của người bán. Như vậy, Điều 66
Công ước Viên 1980 quy định hai vấn đề trong
quá trình chuyển rủi ro đối với hàng hóa, bao
gồm hậu quả pháp lý và giới hạn trách nhiệm.
* Tiến sĩ, Giảng viên Trường Đại học Luật, Đại học Huế
** Giảng viên Trường Đại học Luật, Đại học Huế
1
P.M. Roth (1979), The Passing of Risk. Nguồn truy
với hàng hóa tại Chương IV, tạo ra cơ sở pháp html, truy cập ngày 03/09/2020.
120 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
TRẦN VIẾT LONG - BÙI THỊ QUỲNH TRANG
Thứ nhất, về hậu quả pháp lý
bên ngoài như thời tiết dẫn đến giảm sút chất
lượng, hàng hóa bị hao hụt do tính chất trong
Theo quy định tại Điều 66 Công ước Viên
1980, khi rủi ro đã được chuyển giao từ người
bán sang người mua, người mua phải thực
hiện nghĩa vụ thanh toán cho người bán theo
đúng hợp đồng đã giao kết cho dù hàng hóa
đang ở tình trạng mất mát hoặc hư hỏng. Nói
cách khác, người mua sẽ không thể viện dẫn
khoản 1 Điều 58 của Công ước để từ chối thanh
toán tiền hàng với lý do người bán không giao
hàng theo quy định trong hợp đồng.
Bên cạnh đó, người mua cũng mất quyền
khởi kiện người bán với các cáo buộc như:
Người bán đã vi phạm Điều 25 của Công ước
Viên 1980 khi “phá vỡ các kỳ vọng” chính
đáng của người mua theo hợp đồng hoặc
người mua không thể áp dụng các chế tài cáo
buộc người bán vi phạm hợp đồng hay thậm
chí áp dụng Điều 50 của Công ước nhằm yêu
cầu giảm giá đối với hàng hóa bị hư hỏng,
mất mát.
quá trình vận chuyển hoặc lưu trữ.
Có thể nhận thấy, những loại rủi ro thuộc
phạm vi điều chỉnh của Điều 66 bắt buộc
phải liên quan trực tiếp đến đặc tính vật lý
của hàng hóa và phát sinh từ những sự kiện
khách quan nằm ngoài ý chí chủ quan của
người bán. Do đó, một số trường hợp sẽ bị
loại trừ khỏi phạm vi rủi ro được xác định
tại Điều 66, bao gồm hành động của Nhà
nước hoặc cơ quan có thẩm quyền như tịch
thu hàng hóa hoặc ban hành lệnh cấm nhập
khẩu, xuất khẩu hàng hóa, hay các rủi ro kinh
tế như biến động giá cả trên thị trường cũng
không thuộc trường hợp này.
Ngoài ra, nguyên tắc giới hạn trách nhiệm
tại Điều 66 cũng loại trừ trách nhiệm của
người mua liên quan đến rủi ro đối với hàng
hóa là do “hành động hoặc sơ suất” của người
bán gây ra. Trong một số vụ việc liên quan
đến tranh chấp hợp đồng mua bán hóa chất,
Trọng tài nhận thấy rằng người bán đã cung
cấp sai thông tin về nhiệt độ bảo quản hóa
chất cho người vận chuyển, dẫn đến trường
hợp hóa chất bị hư hỏng do nhiệt độ bảo quản
không phù hợp, vì vậy, người bán phải chịu
trách nhiệm đối với những mất mát hoặc hư
hỏng của hàng hóa2. Tuy nhiên, cụm từ “hành
động hoặc sơ suất” tại Điều 66 cũng gây ra
khá nhiều tranh cãi trong quá trình giải thích
và áp dụng Công ước Viên 1980. Câu hỏi
được nhiều học giả đặt ra là liệu rằng những
“hành động hoặc sơ suất” của người bán theo
quy định tại Điều 66 có bao gồm tất cả các
hành động của người bán hay chỉ bao gồm
những hành động cấu thành các hành vi vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng? Theo bình luận của
Ban thư ký về Điều 78 của Bản dự thảo 1978
Tuy nhiên, để đảm bảo tính công bằng và
bảo vệ lợi ích tối ưu cho các bên tham gia hợp
đồng, Công ước Viên 1980 vẫn xây dựng các
nguyên tắc giới hạn trách nhiệm nhằm giải
phóng người mua thoát khỏi nghĩa vụ thanh
toán trong trường hợp chuyển rủi ro đối với
hàng hóa.
Thứ hai, về giới hạn trách nhiệm
Quy định cốt lõi của nguyên tắc giới hạn
trách nhiệm chính là khái niệm “rủi ro”, tức là
xác định những loại rủi ro nào thuộc phạm vi
điều chỉnh của Điều 66 Công ước Viên 1980.
Mặc dù Công ước không đưa ra bất kỳ giải
thích nào về khái niệm “rủi ro” nhưng việc sử
dụng cụm từ “mất mát hoặc hư hỏng đối với
hàng hóa” tại Điều 66 cũng đã chỉ rõ xu hướng
của Công ước trong việc xác định nội hàm của
khái niệm rủi ro. Ủy ban Liên hợp quốc về (sau này là Điều 66 của CISG 1980)3, Điều 66
Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) cũng không chỉ hướng đến các hành động hoặc sơ
đưa ra một số giải thích cụ thể về các trường suất của người bán mà cấu thành một vi phạm
hợp mất mát hoặc hư hỏng đối với hàng hóa
được đúc rút từ hệ thống các án lệ về Công
ước Viên 1980.
nghĩa vụ hợp đồng. Nguyên tắc này của Điều
2ꢁ CLOUT case No.683 (1999), CIETAC Arbitration,
China. Nguồn truy cập: hꢀp://cisgw3.law.pace.edu/
cases/990000c1.html, truy cập ngày 05/09/2020.
Mất mát hàng hóa là trường hợp hàng hóa
không thể tìm thấy, bị trộm hoặc bị chuyển
giao cho một chủ thể khác. Thậm chí, trong
một số trường hợp, hàng hóa bị lẫn lộn với
các loại hàng hóa khác mà không thể xác định
cũng được xem là mất mát. Hư hỏng hàng
hóa bao gồm trường hợp hàng hóa bị phá
3ꢁMichielBuydaert(2013),MasterThesis“ThePassing
of Risk in the international sale of goods: A comparision
between the CISG and the Incoterms”. Nguồn truy cập:
RUG01002060824_2013_0001_AC.pdf, truy cập
hủy toàn bộ, chịu những tác động khách quan ngày 05/09/2020.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 121
CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980:...
66 phải được giải thích theo nghĩa rộng, tức là chuyển rủi ro với thời điểm chuyển giao hàng
bất kỳ hành động của người bán vi phạm các hóa, tức là bên nào quản lý hàng hóa trên thực
nghĩa vụ pháp lý theo quy định của Luật bồi tế sẽ phải chịu rủi ro. Học thuyết này cho thấy
thường thiệt hại ngoài hợp đồng và dẫn đến những điểm ưu việt hơn so với hai học thuyết
những mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa đều còn lại, bởi lẽ bên nào chiếm hữu hàng hóa
thuộc trường hợp “hành động hoặc sơ suất” trên thực tế sẽ có điều kiện tốt hơn để bảo vệ
nêu trên.
hàng hóa cũng như thực hiện các biện pháp
cần thiết để khắc phục những rủi ro đã xảy
đến đối với hàng hóa.
1.2. Thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng
hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Các học thuyết nêu trên không thể giải
quyết một cách triệt để các vấn đề đặt ra. Do
đó, Công ước Viên 1980 đã nỗ lực để hài hòa
hóa các học thuyết về thời điểm chuyển rủi
ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế thông qua các quy định tại
Điều 67 đến Điều 69.
1.2.1. Thời điểm chuyển rủi ro đối với hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế có quy định về vận
chuyển hàng hóa (Điều 67)
Điều 67 Công ước Viên 1980 được áp
dụng để xác định thời điểm chuyển rủi ro đối
với hàng hóa khi hợp đồng mua bán có quy
định về vận chuyển hàng hóa. Giải thích khái
niệm “hợp đồng có quy định về vận chuyển”,
một số học giả cho rằng hợp đồng phải chứa
một điều khoản rõ ràng hoặc ẩn ý về nghĩa
vụ vận chuyển hàng hóa của người bán hoặc
người mua5. Điều khoản này có thể quy định
rõ ràng rằng hàng hóa sẽ được vận chuyển
bởi một nhà vận chuyển với nội dung cụ thể
về cách thức vận chuyển hoặc trong một số
trường hợp điều khoản này chỉ quy định
rằng hàng hóa sẽ được vận chuyển cho người
mua theo hợp đồng. Tuy nhiên, điều khoản
này xây dựng hai quy tắc để xác định thời
điểm chuyển rủi ro hàng hóa phù hợp với hai
tình huống nhất định: (i) Quy tắc “người vận
chuyển đầu tiên” và (ii) Quy tắc “địa điểm xác
định”.
Thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa
là một trong những vấn đề phức tạp nhất
trong quá trình soạn thảo Công ước Viên 1980
bởi vì mỗi quốc gia có những quy định khác
nhau về thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng
hóa. Khoa học pháp lý ghi nhận ba học thuyết
về thời điểm chuyển rủi ro như sau4:
Một là, học thuyết được sử dụng trong
hệ thống pháp luật của Thụy Sĩ, Hà Lan và
Tây Ban Nha. Theo học thuyết này, thời điểm
chuyển rủi ro đối với hàng hóa được xác định
là thời điểm ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, học
thuyết này được đánh giá là không phù hợp
với thực tiễn, bởi lẽ tại thời điểm ký kết hợp
đồng, hàng hóa vẫn nằm dưới quyền kiểm
soát của người bán nhưng rủi ro đối với hàng
hóa thì đã chuyển giao cho người mua. Như
vậy, áp dụng nguyên tắc này không đảm bảo
tính công bằng cho người mua trong giao dịch
mua bán hàng hóa quốc tế.
Hai là, học thuyết được sử dụng trong hệ
thống pháp luật của Pháp và Anh, đó là thời
điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa là
thời điểm chuyển giao quyền sở hữu. Nói
cách khác, người sở hữu hàng hóa tại thời
điểm hàng hóa bị phá hủy hoặc mất mát là
người phải chịu tổn thất. Tuy nhiên, trên thực
tế, đặc biệt đối với các giao dịch thương mại
quốc tế, quyền sở hữu hàng hóa không có mối
quan hệ với khái niệm rủi ro, bởi vì người bán
thông thường sẽ giao hàng cho người vận
chuyển nhưng không chuyển giao các giấy tờ
về quyền sở hữu cho đến khi người mua thực
hiện xong thủ tục thanh toán. Như vậy, trong
một số trường hợp người bán phải chịu rủi ro
đối với hàng hóa đang nằm dưới sự kiểm soát
của người mua.
Thứ nhất, quy tắc “người vận chuyển đầu
tiên”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Công
ước Viên 1980, quy tắc “người vận chuyển
đầu tiên” được áp dụng trong trường hợp
người bán không có nghĩa vụ giao hàng tại
một địa điểm xác định và rủi ro được chuyển
cho người mua tại thời điểm hàng hóa được
giao cho người vận chuyển đầu tiên. Nội hàm
của khái niệm “người vận chuyển” là vấn đề
Ba là, học thuyết được sử dụng trong
hệ thống pháp luật của Đức gắn thời điểm
4ꢁ Romein, A. (1999), The passing of risk a comparison
between the passing of risk under the CISG and German 5ꢁ Annotated Text of CISG, Article 67. Nguồn truy cập:
law. Nguồn truy cập: hꢀp://www.cisg.law.pace.edu/ https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/e-text-67.
cisg/giglio/romein.html, truy cập ngày 05/09/2020.
html, truy cập ngày 09/09/2020.
122 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
TRẦN VIẾT LONG - BÙI THỊ QUỲNH TRANG
gây ra khá nhiều tranh cãi trong thực tiễn giải người mua. Quy tắc này cũng được ghi nhận
quyết tranh chấp liên quan đến chuyển rủi ro trong nhiều hệ thống pháp luật như Pháp, Hoa
hàng hóa trong hợp đồng mua bán. Mặc dù Kỳ...7 Hàng hóa trong hoạt động thương mại
Công ước không quy định rõ ràng “người vận quốc tế thông thường sẽ được vận chuyển với
chuyển” nhưng người vận chuyển theo quy số lượng lớn để phục vụ cho nhiều hợp đồng
khác nhau. Nếu một phần hàng hóa vô tình bị
mất mát hoặc hư hỏng nhưng chưa xác định
được là đối tượng của hợp đồng mua bán nào
thì quy định này sẽ ngăn cản việc người bán
khai gian dối rằng hàng hóa bị mất mát hoặc
hư hỏng đó là đối tượng của hợp đồng với
người mua. Nói cách khác, quy định này là
một nỗ lực để bảo vệ người mua trước những
cáo buộc sai lệch của người bán về hàng hóa
bị mất mát hoặc hư hỏng. Do đó, hàng hóa là
đối tượng của hợp đồng mua bán phải được
xác định rõ ràng bằng cách sử dụng ký hiệu,
mã hiệu trên hàng hóa, chứng từ vận chuyển,
thông báo cho người mua hoặc các hình thức
khác.
định này phải là một người vận chuyển độc
lập6. Theo đó, nếu người bán tự mình hoặc
thông qua nhân viên của mình để vận chuyển
hàng hóa cho người mua theo hợp đồng thì
người bán vẫn phải chịu rủi ro đối với hàng
hóa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi
người bán sử dụng một tổ chức vận chuyển
là công ty con của người bán nhưng là một
pháp nhân độc lập được thành lập hợp pháp
thì khoản 1 Điều 67 vẫn được áp dụng để xác
định thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng
hóa.
Thứ hai, quy tắc “địa điểm xác định”
Quy tắc này được áp dụng trong trường
hợp người bán có nghĩa vụ giao hàng cho một
người vận chuyển tại một địa điểm xác định
và theo đó, thời điểm chuyển rủi ro đối với
hàng hóa được xác định là thời điểm hàng
hóa được giao cho người vận chuyển tại địa
điểm đó. “Người vận chuyển” trong trường
hợp này cũng được hiểu tương tự như quy
tắc “người vận chuyển đầu tiên”, tức là người
vận chuyển độc lập. Tuy nhiên, trong trường
hợp này, hàng hóa sẽ trải qua một lần vận
chuyển trung gian từ cơ sở của người bán đến
địa điểm xác định thông qua một người vận
chuyển khác, người vận chuyển này có mối
quan hệ mật thiết với người bán và theo ủy
quyền của người bán thực hiện quá trình vận
chuyển trung gian. Có thể thấy, trong quá
trình vận chuyển trung gian này, người bán
vẫn phải gánh chịu những rủi ro đối với hàng
hóa bởi lẽ hàng hóa vẫn đang nằm trong sự
kiểm soát hoàn toàn của người bán về cả mặt
pháp lý cũng như thực định.
1.2.2. Thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng
hóa đang trên đường vận chuyển (Điều 68)
Điều 68 Công ước Viên 1980 quy định
về nguyên tắc, đối với hợp đồng mua bán
mà đối tượng là hàng hóa đang trên đường
vận chuyển, rủi ro đối với hàng hóa sẽ được
chuyển cho người mua vào thời điểm giao kết
hợp đồng. Quy định này dẫn đến một số khó
khăn trong quá trình áp dụng, bởi vì trong
hầu hết các trường hợp xảy ra mất mát hoặc
hư hỏng đối với hàng hóa đang trên đường
vận chuyển, rất khó để xác định được những
sự kiện đó xảy ra trước hay sau thời điểm ký
kết hợp đồng, đặc biệt là đối với những mất
mát hoặc hư hỏng do việc thấm nước hoặc
nhiệt độ quá cao.
Tuy nhiên, có những hoàn cảnh chỉ ra một
thỏa thuận ngầm rằng người mua phải chịu
rủi ro từ thời điểm hàng hóa được giao cho
người vận chuyển là người đã phát chứng
từ xác nhận một hợp đồng vận chuyển. Đây
được xem là một ngoại lệ khá quan trọng của
nguyên tắc chuyển rủi ro đối với hàng được
bán khi đang vận chuyển – “ngoại lệ hồi tố”.
Ngoại lệ này yêu cầu người mua phải gánh
Ngoài ra, Điều 67 cũng quy định một
trường hợp ngoại lệ đối với hai quy tắc xác
định thời điểm chuyển rủi ro liên quan đến
hàng hóa không xác định. Cụ thể, theo quy
định tại khoản 2 Điều 67, rủi ro không được
chuyển cho người mua cho đến khi hàng hóa
được xác định rõ là hàng hóa cung cấp cho
hợp đồng đã được ký kết bởi người bán và
7ꢁ Anwar A.A. Aboukdir (2017), The timing of the
passing of property and risk under the English Sale of Good
Act 1979, the CISG and the Lybian law – the interplay
6ꢁ Peter Schlechtriem (1986), Uniform Sales Law - The between the principle of party autonomy and the default
UN-Convention on Contracts for the International Sale of rule. Nguồn truy cập: hꢀps://pdfs.semanticscholar.
Goods, J. C. B. Mohr (Paul Siebeck) Publishing House, org/85c0/629286583d86221b69146376991c4220dd91.
Germany, pp.88.
pdf, truy cập ngày 09/09/2020.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 123
CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980:...
chịu những rủi ro đối với hàng hóa trước thời ý sẽ tự mình giao hàng đến địa điểm kinh
điểm hợp đồng mua bán được ký kết với điều doanh của người mua tại Bulgary, Trọng tài đã
áp dụng quy định tại Điều 69 để xác định thời
điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa. Trong
trường hợp này, hợp đồng không có quy định
về việc vận chuyển hàng hóa bởi một bên vận
chuyển độc lập, do đó, không thuộc phạm vi
áp dụng của Điều 67 Công ước Viên 1980.
Điều 69 xây dựng các nguyên tắc xác định
thời điểm chuyển rủi ro trong hai trường hợp
sau đây:
kiện giữa các bên có tồn tại một thỏa thuận
thể hiện điều này. Khi giải thích ngoại lệ này,
các học giả nhấn mạnh đến yếu tố thỏa thuận
của các bên. Theo đó, không nhất thiết phải
là một thỏa thuận rõ ràng thể hiện bằng một
điều khoản mà có thể là trường hợp các bên
hoàn tất việc mua bán bằng cách chuyển đến
cho người mua bộ tài liệu tiêu chuẩn, trong
đó bao gồm cả hợp đồng bảo hiểm, tức là
người mua đã tiếp quản chính sách bảo hiểm
đối với hàng hóa từ người bán. Do đó, việc
chuyển giao này thể hiện ý định chuyển cho
người mua toàn bộ rủi ro của chuyến đi kể từ
thời điểm hàng hóa được giao cho người vận
chuyển8.
Ngoài ra, Điều 68 Công ước Viên 1980
cũng quy định một trường hợp ngoại lệ khác
liên quan đến trách nhiệm của người bán
về những rủi ro đối với hàng hóa đang trên
đường vận chuyển. Nếu tại thời điểm ký kết
hợp đồng, người bán biết hoặc phải biết hàng
hóa đã bị mất mát hoặc hư hỏng nhưng vẫn
không thông báo cho người mua thì người
bán phải chịu trách nhiệm đối với những mất
mát hoặc hư hỏng đó.
Thứ nhất, trường hợp người mua có nghĩa vụ
nhận hàng tại địa điểm kinh doanh của người bán
(khoản 1 Điều 69)
Khi hàng hóa được giao tại địa điểm kinh
doanh của người bán, theo quy định tại khoản
1 Điều 69, rủi ro được chuyển giao cho người
mua vào thời điểm họ nhận hàng. Trong
trường hợp người mua ủy quyền cho một
người vận chuyển nghĩa vụ nhận hàng, thời
điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa vẫn là
thời điểm người này nhận hàng tại địa điểm
kinh doanh của người bán10.
Ngoài ra, nếu người mua không nhận
hàng đúng thời hạn trong hợp đồng, khoản 1
Điều 69 quy định rằng rủi ro sẽ được chuyển
cho người mua vào thời điểm hàng hóa được
đặt dưới quyền định đoạt của người mua với
điều kiện việc người mua không nhận hàng
cấu thành một vi phạm hợp đồng.
Như vậy, nguyên tắc chung khi xác định
thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa
tại Điều 69 là người mua sẽ phải chịu trách
nhiệm đối với những rủi ro khi hàng hóa đã
nằm trong sự kiểm soát của người mua “trên
thực tế” đối với trường hợp người mua nhận
hàng đúng thời hạn hoặc nằm trong sự kiểm
soát của người mua “trên pháp lý” đối với
trường hợp người mua nhận hàng không
đúng thời hạn. Liên quan đến trường hợp
thứ hai, khi người mua vi phạm nghĩa vụ
nhận hàng, Công ước Viên bảo vệ người bán
bằng cách quy định thời điểm chuyển rủi ro
khi người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng và thông báo cho người mua được biết,
hàng hóa lúc này đã thuộc quyền định đoạt
của người mua về mặt pháp lý. Người bán
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng được hiểu là
1.2.3. Thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng
hóa trong các trường hợp còn lại (Điều 69)
Sau khi giải quyết các trường hợp liên quan
đến hợp đồng mua bán có quy định về vận
chuyển tại Điều 67 và hợp đồng mua bán có
đối tượng là hàng hóa đang trên đường vận
chuyển tại Điều 68, Công ước Viên 1980 quy
định các trường hợp không nằm trong phạm
vi điều chỉnh của hai điều khoản này bằng các
nguyên tắc còn lại tại Điều 69. Theo đó, Điều
69 thông thường được áp dụng đối với các hợp
đồng mua bán hàng hóa không quy định về
vận chuyển (thông qua một người vận chuyển
độc lập)9. Ví dụ, trong một hợp đồng mua bán
giữa người bán Áo và người mua Bulgary có
chứa một điều khoản, trong đó, bên bán đồng
8ꢁ John O. Honnold (1999), Uniform Law for International
Sales under the 1980 United Nations Convention, 3rd
edition, pp. 409-412. Nguồn truy cập: hꢀps://www.
cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/ho68.html, truy cập
ngày 09/09/2020.
9ꢁ Sylvain Bollée (1999 – 2000), The Theory of Risks in 10ꢁ Stallion case, Oberlandesgericht Schleswig-
the 1980 Vienna Sale of Goods Convention, pp. 245-259. Holstein, Germany, 29 October 2002. Nguồn truy
hꢀp://cisgw3.law.pace.edu/cases/021029g1.
cisg/biblio/bollee.html, truy cập ngày 09/09/2020.
html, truy cập ngày 09/09/2020.
124 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
TRẦN VIẾT LONG - BÙI THỊ QUỲNH TRANG
việc người bán đã thực hiện mọi biện pháp
Ba là, người mua phải nhận thức được rằng
cần thiết để hàng hóa ở “trạng thái sẵn sàng” hàng hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt của họ
cho phép người mua nhận hàng. Ví dụ, một
Người bán phải đảm bảo người mua biết
tòa án ở Đức lập luận rằng hàng hóa không
rằng hàng hóa đã được đặt dưới quyền định
nằm dưới quyền định đoạt của người mua
đoạt của người mua bằng cách chuyển giao các
khi chúng được lưu trữ trong kho của nhà sản
tài liệu liên quan đến hàng hóa cho người mua
xuất chứ không phải trong kho của người bán
hoặc gửi cho người mua một thông báo về việc
tại thời điểm thực hiện việc giao hàng theo
giao hàng. Trong trường hợp người bán thông
hợp đồng11.
báo cho người mua về việc hàng hóa đã được
Thứ hai, trường hợp người mua có nghĩa đặt dưới quyền định đoạt của họ, một số học
vụ nhận hàng tại một địa điểm khác (khoản 2 giả cho rằng thông báo này chỉ có hiệu lực khi
Điều 69)
Theo quy định tại khoản 2 Điều 69, nếu
người mua có nghĩa vụ nhận hàng tại một
địa điểm khác ngoài địa điểm kinh doanh của
người bán như kho lưu hàng của một bên thứ
ba hoặc địa điểm kinh doanh của người mua,
rủi ro đối với hàng hóa sẽ được chuyển giao
cho người mua tại thời điểm giao hàng nếu
thỏa mãn các điều kiện sau đây:
nó đã “đến tay” người mua, tức là hiệu lực của
thông báo này phải được xác định theo thuyết
“tiếp thu”. Một tòa án ở Đức cũng ủng hộ quan
điểm này khi cho rằng người mua không phải
chịu trách nhiệm đối với việc hàng hóa bị mất
do người mua không nhận được thông báo
của người bán về việc hàng đã được chuẩn bị
sẵn sàng tại kho Hungary12. Tuy nhiên, đối với
các hợp đồng có sự thỏa thuận rõ ràng về thời
gian giao hàng cụ thể thì người bán không cần
thiết phải đảm bảo thông báo này phải đến tay
người mua bởi lẽ người mua đã biết và phải
biết về thời điểm hàng hóa được đặt dưới
quyền định đoạt của mình.
Một là, việc giao hàng thực hiện theo thời hạn
trong hợp đồng
Với điều kiện này, người mua sẽ không
phải chịu trách nhiệm đối với những rủi ro
phát sinh trước thời điểm giao hàng. Trong
trường hợp người bán thực hiện nghĩa vụ
giao hàng trước thời hạn, về nguyên tắc, người
mua không có nghĩa vụ phải nhận hàng vào
thời điểm đó. Tuy nhiên, người mua vẫn có
thể lựa chọn chấp nhận việc giao hàng trước
thời hạn, theo đó, khi đã chọn nhận hàng thì
người mua phải chịu rủi ro kể từ thời điểm
nhận hàng.
2. Thực tiễn áp dụng quy định về chuyển
rủi ro đối với hàng hóa tại Việt Nam
Chuyển rủi ro đối với hàng hóa là một
trong những vấn đề quan trọng đối với hoạt
động mua bán hàng hóa nói chung và mua
bán hàng hóa quốc tế nói riêng, do đó pháp
luật Việt Nam đã xây dựng hệ thống các quy
định điều chỉnh vấn đề này trong Luật thương
mại. Vấn đề chuyển rủi ro đối với hàng hóa
được quy định cụ thể tại Luật thương mại
năm 2005 từ Điều 57 đến Điều 61, bao gồm
các trường hợp sau đây:
Hai là, hàng hóa phải được đặt dưới quyền
định đoạt của người mua
Điều kiện này yêu cầu người bán phải thực
hiện tất cả các biện pháp cần thiết để người
mua có thể sở hữu hàng hóa. Thông thường,
người bán phải hoàn thành việc xác định
hàng hóa được giao hoặc hoàn thành công tác
chuẩn bị trước khi giao hàng như đóng gói
đúng quy cách hoặc gửi thông báo cho người
mua. Ví dụ, nếu hàng hóa đang được lưu tại
kho hàng của một bên thứ ba thì người bán
phải hướng dẫn cho người giữ kho về việc
giao hàng cho người mua hoặc cung cấp cho
người mua một lệnh giao hàng hiệu quả để
người mua luôn có thể nhận hàng tại kho.
Thứ nhất, chuyển rủi ro trong trường hợp có
địa điểm giao hàng xác định
Theo quy định tại Điều 57, nếu bên bán
có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một
địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc
hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua
khi hàng hóa được chuyển cho bên mua hoặc
người được bên mua ủy quyền đã nhận hàng
tại địa điểm đó.
Thứ hai, chuyển rủi ro trong trường hợp
không có địa điểm giao hàng xác định
11ꢁCLOUTcaseNo.338(23June1998),Oberlandesgericht 12ꢁCLOUTcaseNo.338(23June1998),Oberlandesgericht
law.pace.edu, truy cập ngày 09/09/2020.
law.pace.edu, truy cập ngày 09/09/2020.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 125
CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TRONG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980:...
Theo quy định tại Điều 58, nếu hợp đồng hóa không còn nằm trong tầm kiểm soát của
có quy định về việc vận chuyển hàng hóa người bán, tức là thời điểm hàng hóa được
và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại người bán giao cho người vận chuyển và rất
một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát có thể hàng hóa bị hư hỏng trước thời điểm
hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên ký kết hợp đồng. Công ước Viên đã giải quyết
mua khi hàng hóa được giao cho người vận trường hợp này bằng một ngoại lệ hồi tố tại
chuyển đầu tiên.
Điều 68 đã được phân tích ở phần trên. Ngoài
ra, Luật thương mại năm 2005 cũng bỏ ngỏ
trường hợp liên quan đến trách nhiệm của
người bán đối với người mua khi người bán
biết hoặc phải biết về rủi ro đối với hàng hóa.
Đây là một lỗ hổng của Luật thương mại Việt
Nam, người bán không thể được giải phóng
khỏi trách nhiệm của mình nếu họ đã biết
tình trạng mất mát hoặc hư hỏng của hàng
hóa nhưng vẫn im lặng để chuyển giao cho
người mua. Điều này đi ngược lại với nguyên
tắc thiện chí của luật hợp đồng.
Quy định của Luật thương mại năm 2005
trong hai trường hợp chuyển rủi ro nêu trên
có sự tương thích với quy định tại Điều 67 của
Công ước Viên 1980. Tuy nhiên, trong cùng
điều khoản này, Công ước nhấn mạnh về
tính đặc định của hàng là điều kiện tiên quyết
để xác định thời điểm chuyển rủi ro trong
các trường hợp nêu trên. Trong khi đó, Luật
Thương mại năm 2005 tách riêng quy định
về đặc định hàng hóa thành một trường hợp
chuyển rủi ro riêng biệt. Việc sắp xếp cấu trúc
này dẫn đến cách hiểu là yếu tố đặc định của
Thứ năm, chuyển rủi ro trong các trường hợp
hàng hóa không liên quan đến hai trường hợp khác
chuyển rủi ro tại Điều 67 Công ước Viên 1980
và Điều 57 của Luật thương mại năm 2005.
Theo quy định tại Điều 61, trong trường
hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều
Thứ ba, chuyển rủi ro trong trường hợp giao 57, 58, 59 và 60, rủi ro về mất mát hoặc hư
hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua kể
là người vận chuyển
từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt
của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng
do không nhận hàng. Nhận thấy, quy định
này của Luật thương mại khá tương đồng với
Điều 69 của Công ước Viên 1980 khi xác định
thời điểm chuyển rủi ro dựa trên nguyên tắc
xác định quyền định đoạt của người mua đối
với hàng hóa về mặt pháp lý. Tuy nhiên, quy
định này của Luật thương mại năm 2005 chỉ
là một trường hợp được quy định tại khoản 1
Điều 69 của Công ước.
Theo quy định tại Điều 59 Luật thương
mại năm 2005, nếu hàng hóa đang được người
nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là
người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc
hư hỏng hàng hóa được chuyển giao cho bên
mua thuộc một trong các trường hợp sau:
(i) Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu
hàng hóa; (ii) Khi người nhận hàng để giao
xác nhận quyền chiếm hữu hàng hóa của bên
mua.
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam về
chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng
mua bán đã có những tiệm cận rất lớn với các
quy định của Công ước Viên 1980. Tương tự
Công ước, Luật thương mại không định nghĩa
cụ thể về khái niệm rủi ro, nhưng thông qua
cách sử dụng ngôn từ trong các điều luật cho
thấy văn bản này cũng tiếp cận rủi ro dưới
dạng những mất mát hoặc hư hỏng đối với
Thứ tư, chuyển rủi ro trong trường hợp mua
bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển
Theo quy định tại Điều 60 Luật thương
mại năm 2005, trong trường hợp đối tượng
của hợp đồng là hàng hóa đang trên đường
vận chuyển thì rủi ro về mất mát và hư hỏng
hàng hóa được chuyển cho bên mua kể từ khi
giao kết hợp đồng.
Điều 60 nêu trên tương đồng với nguyên hàng hóa. Ngoài ra, Luật thương mại cũng xây
tắc chung của Công ước Viên 1980 về trường dựng nguyên tắc chung đối với vấn đề chuyển
hợp chuyển rủi ro đối với hàng hóa đang trên rủi ro đối với hàng hóa trên tinh thần bên nào
đường vận chuyển. Việc xác định thời điểm có vị thế tốt hơn hoặc chịu trách nhiệm trong
rủi ro được chuyển sang người mua trở nên việc kiểm soát hàng hóa thì bên đó phải gánh
dễ dàng hơn khi gắn liền với thời điểm giao chịu rủi ro. Luật cũng yêu cầu về tính đặc định
kết hợp đồng, tuy nhiên, dưới góc độ thực của hàng hóa khi xác định thời điểm chuyển
tiễn, quy định này chưa thực sự phù hợp. Bởi rủi ro trong hợp đồng mua bán. Bên cạnh đó,
lẽ, rủi ro có thể phát sinh kể từ thời điểm hàng pháp luật Việt Nam cũng bộc lộ một số điểm
126 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
TRẦN VIẾT LONG - BÙI THỊ QUỲNH TRANG
hạn chế so với các quy định của Công ước Viên định của Công ước Viên 1980 để phân bổ rủi ro
1980 về thời điểm chuyển rủi ro. Điều này có
thể gây khó khăn cho các bên trong quá trình
áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên, đến nay, Việt
Nam đã là thành viên của Công ước nên Công
ước trở thành nội luật của Việt Nam và được
áp dụng cho các quan hệ mua bán hàng hóa
giữa thương nhân Việt Nam và nước ngoài.
Điều này sẽ hỗ trợ rất lớn cho các thương nhân
trong việc phân bổ rủi ro khi tham gia các quan
hệ mua bán hàng hóa quốc tế.
khi có tranh chấp xảy ra, người mua phải xác
định đúng phạm vi rủi ro đối với hàng hóa mà
người mua phải gánh chịu. Trong mọi trường
hợp, người mua chỉ có trách nhiệm đối với
những rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng về hàng
hóa do những nguyên nhân khách quan gây
ra, nếu những thiệt hại đó xuất phát từ hành
động có chủ đích hoặc sơ suất của người bán
thì người bán phải gánh chịu mọi trách nhiệm.
Ngoài ra, theo quy định của Công ước, mỗi
trường hợp sẽ có những nguyên tắc xác định
thời điểm chuyển rủi ro khác nhau. Tuy nhiên,
3. Một số khuyến nghị
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế, điều khoản về chuyển rủi ro đối với hàng các bên cần lưu ý rằng trong hầu hết các trường
hóa là một trong những điều khoản quan
trọng mà các bên cần xem xét kỹ lưỡng khi
đàm phán và ký kết hợp đồng. Công ước Viên
1980 là công cụ pháp lý chính điều chỉnh vấn
đề chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong giao
dịch mua bán hàng hóa quốc tế nếu được áp
dụng liên quan đến hợp đồng. Qua phân tích
các quy định của Công ước Viên 1980 về vấn
đề chuyển rủi ro và thực tiễn áp dụng tại Việt
Nam, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến
nghị nhằm thực thi có hiệu quả các quy định
ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, mặc nhiên áp dụng Công ước
Viên 1980 đối với những hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế giữa thương nhân Việt Nam
và thương nhân của một quốc gia thành viên
Công ước (trừ trường hợp xác định rõ trong
hợp đồng không áp dụng Công ước). Tuy
nhiên, Công ước Viên 1980 và pháp luật Việt
Nam đều tôn trọng nguyên tắc tự do hợp đồng,
vì vậy, các bên nên thỏa thuận về các vấn đề
liên quan đến chuyển rủi ro đối với hàng hóa,
đặc biệt là xác định thời điểm chuyển rủi ro
cho phù hợp với hoàn cảnh của giao dịch mua
bán. Điều này đóng vai trò quan trọng, xác
định thời điểm càng cụ thể thì các rủi ro liên
quan càng được kiểm soát.
hợp, Công ước đều yêu cầu về tính đặc định
của hàng hóa khi chuyển rủi ro, trừ trường hợp
hàng hóa đang trên đường vận chuyển.
Thứ tư, trong mọi trường hợp khi rủi ro
đối với hàng hóa đã được chuyển giao cho
người mua thì người mua phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định của
hợp đồng. Tuy vậy, nếu người bán có hành
vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cấu thành vi
phạm cơ bản theo quy định tại Điều 25 thì
người mua không mất quyền áp dụng các
chế tài đối với hành vi vi phạm đó. Cần lưu
ý rằng, những vi phạm này không phải là
nguyên nhân gây ra những mất mát hoặc hư
hỏng đối với hàng hóa.
Thứ năm, về góc độ doanh nghiệp, cần nắm
bắt các quy định cụ thể đối với việc chuyển rủi
ro theo Công ước Viên 1980 để áp dụng hiệu
quả trong quá trình soạn thảo, đàm phán và
thực hiện hợp đồng. Đánh giá khả năng thực
hiện, khả năng rủi ro khi áp dụng Công ước
này để tránh các thiệt hại và các tranh chấp
phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động
kinh doanh liên quan đến pháp luật quốc gia
và pháp luật quốc tế.
Như vậy, có thể thấy, trong các hoạt động
thương mại nói chung và thực thi các cam kết
trong hợp đồng nói riêng thì xác định thời
điểm chuyển rủi ro đối với các bên đóng vai
trò hết sức quan trọng. Công ước Viên 1980 và
việc áp dụng đối với các thương nhân đòi hỏi
sự tiếp cận phù hợp và sự áp dụng trong hợp
đồng cần có sự xem xét thận trọng, đánh giá
sự trách nhiệm cũng như sự ràng buộc ở các
mức độ khác nhau để phòng ngừa các rủi ro,
tăng cường sự thiện chí khi thực hiện quyền
Thứ hai, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn
của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế,
bên cạnh Công ước Viên 1980, trong hệ thống
pháp luật thương mại quốc tế còn tồn tại một
số văn bản pháp lý được xây dựng từ các tập
quán thương mại quy định về vấn đề chuyển
rủi ro đối với hàng hóa như Incoterms. Tuy
nhiên, Incoterms là tập quán quốc tế, do đó
các bên phải dẫn chiếu các quy tắc này trong
hợp đồng thì mới đủ căn cứ xác định để thời
điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa.
Thứ ba, trong trường hợp áp dụng các quy và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cụ thể./.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 127
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong công ước viên 1980: Tiếp cận pháp lý và khuyến nghị thực thi tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chuyen_rui_ro_doi_voi_hang_hoa_trong_cong_uoc_vien_1980_tiep.pdf

