Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua các sản phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh

Working Paper 2022.1.1.15  
- Vol 1, No 1  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA CÁC SẢN PHẨM SỮA  
NƯỚC CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Phùng Nguyễn1, Kiều Công Tâm, Nguyễn Văn Vỹ  
Sinh viên K56 CLC4 - Kinh tế đối ngoại  
Cơ sở II Trường Đại học Ngoại thương tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Nguyễn Trần Sỹ  
Giảng viên Bộ môn Kinh tế - Luật  
Cơ sở II Trường Đại học Ngoại thương tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tóm tắt  
Thị trường sữa nước Việt Nam đang phát triển mạnh với giá trị mặt hàng theo ước tính chiếm 47,6%  
thị trường sữa, với tốc độ tăng trưởng đạt mức tăng 10% vào cuối năm 2020. Do đó, nghiên cứu  
các yếu tố ảnh hưởng quyết định mua sản phẩm sữa nước mang tính cấp thiết cho các doanh nghiệp  
trong ngành hàng này. Thế hệ trẻ, thừa hưởng thói quen uống sữa từ khi còn bé, và sẽ trở thành bộ  
phận có sức mua chính cho tương lai lại chưa được chú trọng trong các nghiên cứu tiền nhiệm.  
Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua các sản phẩm  
sữa nước của người tiêu dùng trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện trên 207 người tiêu dùng  
độ tuổi từ 18-25 tại TP.HCM. Kết quả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm sữa  
nước của người tiêu dùng trẻ tại TP.HCM bao gồm: Chuẩn chủ quan, Mùi Vị, Ý thức về sức khỏe,  
Tính sẵn có của sản phẩm và Hình ảnh thương hiệu.  
Từ khóa: Sữa nước, Sản phẩm sữa, Hành vi tiêu dùng, Ý định mua hàng.  
FACTORS AFFECTING THE PURCHASE INTENTION OF LIQUID MILK  
PRODUCTS OF YOUNG CONSUMERS IN HO CHI MINH CITY  
Abstract  
Vietnam's liquid milk market is thriving and accounting for an estimated value of 47.6% of the  
dairy market, with a growth rate reaching 10% by the end of 2020. Therefore, study the factors  
influencing the purchase intention to buy liquid milk products is essential for businesses in this  
industry. The younger generation, who inherited the habit of drinking milk from a young age, and  
the main purchasing power for this market in the future, has not been focused on in previous studies.  
This study was conducted to investigate the factors affecting the purchase intention of liquid milk  
products of young consumers in Ho Chi Minh City, conducted on 207 consumers aged 18-25 in Ho  
Chi Minh City. The results show that factors influencing young consumers' intention to buy liquid  
1 Tác giả liên hệ, Email: phungnguyen30499@gmail.com  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 140  
milk products in Ho Chi Minh City include: Subjective Norms, Taste, Health Awareness, Product  
Availability, and Brand Image...  
Keywords: Liquid milk, dairy products, consumer behavior, purchase intention  
1. Mở đầu  
Thị trường sữa nước Việt Nam đang phát triển mạnh với giá trị mặt hàng theo ước tính chiếm  
47,6% thị trường sữa, với tốc độ tăng trưởng đạt mức tăng 10% vào cuối năm 2020 (Euromonitor,  
2020 trích bởi Ngọc, 2021). Theo hiệp hội Sữa Việt Nam dự báo, năm 2021 diễn biến dịch Covid-  
19 trên thế giới còn phức tạp, ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, tuy nhiên với ngành sữa sẽ có cả  
những thuận lợi lẫn thách thức cần phải đối mặt.  
Với tiềm năng phát triển to lớn thì việc nắm bắt kịp thời về nhu cầu, hành vi người tiêu dùng  
của giới trẻ là một chìa khóa thành công cho các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng sữa nước tại  
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng quyết  
định mua sản phẩm sữa nước mang tính cấp thiết cho các doanh nghiệp trong ngành hàng này. Thế  
hệ trẻ, thừa hưởng thói quen uống sữa từ khi còn bé, và sẽ trở thành bộ phận có sức mua chính cho  
tương lai lại chưa được chú trọng trong các nghiên cứu. Vì vậy, nhận thấy được sự cấp thiết của  
đề tài nhóm tác giả quyết định thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua các sản  
phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ trên địa bàn thành phố HCM”  
2. Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng và sự hài lòng của  
người tiêu dùng đối với các mặt hàng thức ăn và đồ uống, trong đó có mặt hàng sữa, cả trong nước  
và trên thế giới. Các nghiên cứu này có xu hướng nghiên cứu người tiêu dùng tổng thể, đa dạng  
về mặt nhân khẩu học hoặc tập trung vào các hộ gia đình.  
Nguyễn (2015) trong bài “Nghiên cứu sự hài lòng của người tiêu dùng đối với sản phẩm sữa  
tươi đóng hộp cho trẻ em” đã thực hiện nghiên cứu định lượng với bảng hỏi cấu trúc sẵn với 338  
người tiêu dùng tham gia trả lời và tìm ra 3 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của  
người tiêu dùng đó là dinh dưỡng, mùi vị và các chương trình quảng cáo. Tuy nhiên, nghiên cứu  
này chỉ tập trung vào các sản phẩm sữa tươi đóng hộp cho trẻ em và tiến hành khảo sát trên các  
bậc cha mẹ.  
Tran và cộng sự (2014) trong bài “Factors Influencing Milk Consumption of Rural  
Households in Nothern Vietnam” nghiên cứu 514 hộ gia đình và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến  
tiêu thụ sữa của hộ gia đình nông thôn miền Bắc Việt Nam bao gồm: mức thu nhập hộ gia đình,  
sự tiện lợi trong việc mua sữa, số con và số người cao tuổi, tuổi của người trụ cột.  
Kumar và Babu (2014) trong bài Factors Influencing Consumer Buying Behavior with Special  
Preference to Dairy Products in Pondicherry State (India) chỉ ra các yếu tố dự đoán hành vi mua  
sản phẩm sữa của người tiêu dùng Ấn Độ gồm có: Chất lượng, Tính sẵn có, Giá cả, Sự đa dạng,  
Hình ảnh thương hiệu và Quảng cáo.  
Boniface và Umberger (2012) trong Factors Influencing Malaysian Consumers´ Consumption  
of Dairy Products tiến hành nghiên cứu 435 người tiêu dùng, kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến  
tiêu thụ sản phẩm sữa của người tiêu dùng Malaysia gồm: Địa, Thông tin trên nhãn, Ích lợi sức  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 141  
khỏe, Chứng nhận, Thương hiệu, Nhận thức, Tuổi, Chủng tộc, Dinh dưỡng, Tham khảo từ gia đình  
và bạn bè và Địa vị xã hội.  
Bài báo nghiên cứu “Factors affecting brand choice of the consumers on bottled water brands”  
(Lema & Wodaje, 2018) được thực hiện nhằm xác định các yếu tố quyết định đến sự lựa chọn  
nhãn hiệu của người tiêu dùng đối với sản phẩm nước đóng chai và kiểm tra mối quan hệ giữa các  
biến yếu tố quyết định. Trong nghiên cứu này, giá cả, chất lượng sản phẩm, tên thương hiệu, quảng  
cáo, bao bì, tính sẵn có của thương hiệu và hình ảnh thương hiệu được tìm thấy là những yếu tố  
quan trọng trong việc người tiêu dùng ưa chuộng thương hiệu đối với sản phẩm nước đóng chai ở  
thành phố Gondar.  
Trần (2014) nghiên cứu các biến ảnh hưởng đến việc tiêu dùng đồ uống không có ga của người  
tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua phân tích định tính, 6 yếu tố quyết định được  
đưa vào mô hình nghiên cứu điều chỉnh: Chất lượng, Giá cả, Tính sẵn có của sản phẩm, Mối quan  
tâm về các vấn đề an toàn sức khỏe, Niềm tin và Nhóm tham khảo.  
2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Giải thích các biến và giả thuyết nghiên cứu  
Nhóm tác giả chọn mô hình với các biến sau đây:  
Chuẩn chủ quan (SN): Chuẩn chủ quan đề cập đến áp lực xã hội nhận thức được đối với một  
người để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nhất định (Ajzen, 1991). Để đánh giá Chuẩn chủ  
quan của một cá nhân, những người bạn thân đóng vai trò là nhóm tham khảo chính trong quyết  
định tiêu thụ rượu vang (Agnoli, Capitello & Begalli, 2016). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu về tiêu  
thụ sữa còn cho rằng gia đình là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể dến quyết định tiêu thụ sữa (Berg  
và cộng sự, 2000).  
Giả thuyết H1: Chuẩn chủ quan ảnh hưởng tích cực đến ý định mua của người tiêu dùng đối  
với sản phẩm sữa nước.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 142  
Mùi vị (TA): Mùi vị là yếu tố thuộc về thuộc tính của sản phẩm, cảm nhận về mùi vị sản phẩm  
là một yếu tố quan trọng khi người tiêu dùng cân nhắc và lựa chọn đối với các sản phẩm sữa nước  
(Nguyễn Hải Ninh, 2017).  
Giả thuyết H2: Mùi vị ảnh hưởng tích cực đến ý định mua hàng của người tiêu dùng đối với  
sản phẩm sữa nước  
Ý thức về sức khỏe (HC): Ý thức về sức khỏe (HC) từ lâu đã được coi là một chỉ số góp phần  
vào thái độ và tiêu dùng các sản phẩm thực phẩm và đồ uống. Đó là “mức độ mà các vấn đề sức  
khỏe được đưa vào các hoạt động hàng ngày của cá nhân” (Jayanti & Burns, 1998).  
Giả thuyết H3: Ý thức về sức khỏe ảnh hưởng tích cực đến ý định mua hàng của người tiêu  
dùng đối với sản phẩm sữa nước.  
Ý thức về giá (PC): Giá cả là một yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn thương hiệu. Trên  
thực tế, đối với một số khách hàng, giá cả thậm chí còn là được cân nhắc trước cả các tính năng  
cơ bản của sản phẩm. Tuy nhiên, phần lớn, có một sự đánh đổi trực tiếp giữa giá cả và chất lượng:  
khách hàng sẽ trả giá cao hơn nếu thương hiệu có đủ chất lượng (University of Auckland Business  
Review, 2001).  
Giả thuyết H4: Ý thức về giá ảnh hưởng tiêu cực đến ý định mua của người tiêu dùng đối với  
các sản phẩm sữa nước  
Tính sẵn có của sản phẩm (PA): Người ta thường coi tính sẵn có là một tín hiệu tích cực về  
sản phẩm, khi sản phẩm có sẵn để mua, người tiêu dùng thường thấy điều này tích cực.  
Giả thuyết H5: Tính sẵn có của sản phẩm ảnh hưởng tích cực đến ý định mua của người tiêu  
dùng đối với các sản phẩm sữa nước.  
Hình ảnh thương hiệu (BI): Có thể mô tả hình ảnh thương hiệu như cách mọi người nhìn nhận  
sản phẩm (Rana, Osman & Othman, 2015). Hình ảnh thương hiệu của sản phẩm là nhận thức về  
hình ảnh hoặc ký ức gắn liền và được lắp ráp đối với sản phẩm cụ thể và thương hiệu của sản phẩm  
đó trong tâm trí người tiêu dùng (Aaker, 1991; Cham, Lim & Aik, 2015; Cham et al., 2016; Lim  
& Cham, 2015).  
Giả thuyết H6: Hình ảnh thương hiệu ảnh hưởng tích cực đến ý định mua hàng của người tiêu  
dùng đối với sản phẩm sữa nước.  
3.2. Xây dựng thang đo  
Có 6 yếu tố được thể hiện trong mô hình nghiên cứu đề xuất để tạo ra thang đo là: Chuẩn chủ  
quan, Mùi vị, Ý thức về sức khỏe, Ý thức về giá cả, Tính sẵn có của sản phẩm, và Hình ảnh thương  
hiệu. Biến phụ thuộc là Ý định mua hàng. Tác giả sử dụng thang đo Linkert 5 điểm cho nghiên  
cứu này.  
3.3. Thiết kế bảng hỏi  
Bảng hỏi đươc thiết kế dựa trên thang đo, với 3 phần: Câu hỏi sàng lọc (2 câu), Các câu hỏi  
chính về các yếu tố ảnh hưởng quyết định tiêu thụ sữa nước của người tiêu dùng trẻ tại TP.HCM  
(25 câu) và Câu hỏi thông tin cá nhân (4 câu), tổng cộng 34 câu hỏi.  
3.4. Thu thập dữ liệu và cỡ mẫu  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 143  
Phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng là dữ liệu sơ cấp thu được từ các bảng câu hỏi  
được thiết kế cho nghiên cứu. Do thời gian nghiên cứu có hạn và điều kiện nghiên cứu còn thiếu  
sót, tác giả lựa chọn cách chọn mẫu phi xác suất với hình thức lựa chọn ngẫu nhiên thuận tiện cho  
nghiên cứu này để đạt cỡ mẫu cần thiết và tiết kiệm được thời gian. Dữ liệu và thông tin được thu  
thập bằng ứng dụng Google Drive của Google bằng cách gửi bảng câu hỏi trực tuyến đến những  
người trả lời ở Thành phố Hồ Chí Minh theo tinh thần tự nguyện trong nghiên cứu. Cỡ mẫu tối  
thiểu được dùng theo công thức n = 25 x 5 = 125 (25 câu hỏi chính). Nhóm tác giả đã tiến hành  
thu thập dữ liệu và thu được 207 bảng hỏi hợp lệ (thuộc độ tuổi 18-25 và trả lời có sử dụng sản  
phẩm sữa nước).  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Mô tả mẫu thu được  
Giới tính: trong số 207 phiếu trả lời, có 136 người trả lời có giới tính Nữ, chiếm tỉ lệ 65.7%,  
71 người trả lời giới tính Nam, chiếm tỉ lệ 34.3%  
Độ tuổi: 100% người trả lời thuộc độ tuổi từ 18-25 tuổi, điều này do các mối quan hệ gần gũi  
của nhóm tác giả với nhóm người được khảo sát  
Học vấn: Do đặc điểm của nhóm đối tượng được khảo sát là độ tuổi 18-25 nên tỉ lệ người  
đang học đại học/cao đẳng và đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng chiếm tới 91.8%, tương ứng  
190 trên 207 người, trong khi tỉ lệ người trả lời với trình độ tốt nghiệp trung học chỉ đạt 8.2%,  
tương ứng 17 trên 207 người và không có người có trình độ thạc sỹ hoặc tiến sỹ.  
Thu nhập hằng tháng: Với mẫu hiện tại, người trả lời mang thu nhập dưới 5 triệu đồng mỗi  
tháng chiếm tới 59.9%, từ 5 đến 10 triêụ đồng chiến 33.8%, tổng cộng người có thu nhập dưới 10  
triệu đồng chiếm gần như toàn bộ mẫu, đạt mức 93.7%. Người có mức thu nhập cao trên 10 triệu  
đồng lần lượt đạt 9 trên 207 người cho mức 10 đến 15 triệu đồng, tương ứng 4.3%, và trên 15 triệu  
đồng đạt 4 người trên 207, tương ứng 1.9%.  
Mức độ thường xuyên sử dụng: có sự phân bố tương đối đều về mức độ thường xuyên sử dụng  
sản phẩm sữa nước của các phiếu trả lời. Có 33 người trả lời sử dụng sản phẩm sữa nước 2-3 tháng  
một lần, đạt 15.9%, 47 người trả lời sử dụng sản phẩm sữa nước mỗi tháng một lần, tỉ lệ 22.7%,  
56 người trả lời sử dụng sữa nước mỗi tuần một lần đạt 27.1%, đây là nhóm tỉ lệ cao nhất. Những  
người sử dụng sữa nước 2-3 ngày một lần chiếm 49 trên tổng số 207 phiếu trả lời, tỉ lệ 23.7% và  
nhóm sử dụng sản phẩm sữa nước mỗi ngày có 22 người, đạt 10.6%  
4.2. Đánh giá Ý định mua hàng đối với sản phẩm sữa nước của người tiêu dung trẻ tại TP.HCM  
Để đánh giá Ý định mua hàng đối với sản phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ trên địa bàn  
Tp.HCM, nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm với 3 biến quan sát. Kết quả thống kê cho  
thấy Người tiêu dùng trẻ trên địa bàn TP.HCM có ý định mua hàng tương đối cao với sản phẩm  
sữa nước, với giá trị trung bình trên mức 4 (Đồng ý). Điều này là điểm tích cực mà các nhãn hàng,  
doanh nghiệp có thể tận dụng để khai thác tốt hơn phân khúc khách hàng tiềm năng này.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 144  
Bảng 1. Ý định mua hàng đối với sản phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ trên địa bàn Tp.HCM  
Std.  
Deviation  
N
Minimum Maximum  
Mean  
PI1  
207  
207  
207  
207  
2.00  
2.00  
1.00  
5.00  
5.00  
5.00  
4.2464  
4.1546  
4.1449  
.74532  
PI2  
PI3  
.85062  
.85801  
Valid N (listwise)  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả trên SPSS, n = 207  
Trong đó:  
PI1: Tôi sẵn sàng sử dụng sản phẩm sữa nước thường xuyên  
PI2: Tôi sẵn sàng mua sản phẩm sữa nước có sẵn và phổ biến  
PI3: Tôi sẽ thử sử dụng sản phẩm sữa nước nếu các sản phẩm đó có sẵn và thuận tiện để mua  
4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua các sản phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ  
tại thành phố Hồ Chí Minh  
4.3.1. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha  
Sau khi thực hiện kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, ta sẽ loại bỏ khỏi mô hình các  
nhân tố có Cronbach’s Alpha tổng thang đo bé hơn 0.60, loại bỏ các biến có tương quan biến –  
tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.30 hoặc có hệ số Cronbach’s Alpha khi loại biến lớn hơn  
Cronbach’s Alpha tổng biến. Căn cứ tiêu chí trên, nhóm tác giả tiến hành loại toàn bộ nhân tố Ý  
thức về giá cả (gồm 4 biến PC1, PC2, PC3 và PC4) và hai biến quan sát BI1 và BI5 ra khỏi mô  
hình. Các nhân tố còn lại sau khi đã loại biến rác đều đạt độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha  
đạt trên 0.60.  
Cụ thể, kết quả thu được 5 nhân tố tương ứng với thang đo đủ độ tin cậy là Chuẩn chủ quan  
(0.733), Mùi vị (0.803), Ý thức về Sức khỏe (0.800), Tính sẵn có của sản phẩm (0.820), Hình ảnh  
thương hiệu (0.797) (sau khi đã loại 2 biến BI1 và BI5). Ngoài ra, thang đo Ý định mua hàng cũng  
có độ tin cậy cao với hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0.797.  
4.3.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Trong mô hình nghiên cứu đề cập ban đầu, có 6 nhân tố (ứng với 22 biến quan sát) được giả  
định là có ảnh hưởng đến Ý định mua hàng đối với sản phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ  
trên địa bàn TP.HCM. Tuy nhiên sau khi tiến hành kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha, 6 biến quan  
sát là PC1, PC2, PC3, PC4, BI1, và BI5 đã bị loại khỏi mô hình. Lúc này mô hình còn lại chính  
thức 5 nhân tố Chuẩn chủ quan, Mùi vị, Ý thức về Sức khỏe, Tính sẵn có của sản phẩm, Hình ảnh  
thương hiệu với 16 biến quan sát.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 145  
Bảng 2. Kết quả Kiểm định KMO và Barlett  
KMO and Bartlett's Test  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.  
Approx. Chi-Square  
.831  
1401.506  
120  
Bartlett's Test of  
df  
Sphericity  
Sig.  
.000  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả trên SPSS, n = 207  
Kiểm định KMO và Barlett cho kết quả 0.831 > 0.5 tức là dữ liệu nghiên cứu phù hợp với  
việc phân tích EFA. Áp dụng phương pháp xoay nhân tố với Principal Components và Varimax  
và loại bỏ tiếp các biến quan sát với hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0.5 nghiên cứu thu được 16 biến  
quan sát trích thành 5 nhóm nhân tố với tổng phương sai trích đạt 69.927% thỏa mãn yêu cầu lớn  
hơn 50%. Hệ số Eigenvalue đạt 1.042 thỏa điều kiện lớn hơn 1. Kết quả xoay nhân tố được trình  
bày trong Bảng 3 dưới đây.  
Bảng 3. Bảng ma trận xoay nhân tố  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
Sữa nước là thức uống có  
lợi cho sức khỏe.  
HC1  
HC2  
.650  
Sữa nước cung cấp nhiều  
chất dinh dưỡng cần thiết  
cho sức khỏe.  
.634  
.823  
.838  
Tôi luôn cố gắng cân  
bằng dinh dưỡng trong  
chế độ ăn hằng ngày.  
HC3  
HC4  
Tôi là một người tiêu  
dùng quan tâm đến sức  
khỏe.  
Tôi dễ dàng mua được  
sản phẩm sữa nước ưu  
thích tại siêu thị và cửa  
hàng.  
PA1  
.800  
Tôi có thể mua sản phẩm  
sữa nước ưu thích bất cứ  
lúc nào tôi muốn.  
PA2  
PA3  
.872  
.772  
Các địa điểm có bán sữa  
nước thuận tiện và dễ  
tiếp cận đôi với tôi.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 146  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
Các sản phẩm sữa nước  
rất dễ uống.  
TA1  
TA2  
TA3  
.811  
.786  
.799  
Các sản phẩm sữa nước  
rất đa dạng về hương vị.  
Các sản phẩm sữa nước  
có mùi vị thơm ngon.  
Tôi quan trọng nhãn  
hàng khi lựa chọn sản  
phẩm sữa nước.  
BI2  
BI3  
BI4  
SN1  
SN2  
.822  
.741  
.695  
Tôi chỉ mua sản phẩm  
sữa nước của nhãn hàng  
quen thuộc.  
Tôi lựa chọn sản phẩm  
sữa nước từ các nhãn  
hàng lâu năm và uy tín.  
Mọi người xung quanh  
bạn có xu hướng sử dụng  
sữa nước  
.719  
.788  
Gia đình và bạn bè tôi  
cho rằng tôi nên sử dụng  
các sản phẩm sữa nước.  
Mọi người xung quanh  
tôi cho rằng các sản  
phẩm sữa nước rất thích  
hợp để bổ sung chất dinh  
dưỡng.  
SN3  
.751  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả trên SPSS, n = 207  
4.3.3. Phân tích hồi quy các nhân tố trong mô hình  
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới Ý định mua hàng, nhóm tác giả tiến hình  
phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là Y định mua hàng, và 5 biến phụ thuộc là Chuẩn chủ quan (SN),  
Mùi vị (TA), Ý thức về sức khỏe (HC), Tính sẵn có của sản phẩm (PA), Hình ảnh thương hiệu (BI).  
Điều kiện cần để tiến hành phân tích hồi quy là các biến độc lập có sự tương quan đối với biến  
phụ thuộc. Điều này thể hiện ở chỉ số tương quan Pearson lớn hơn 0, và độ tin cậy sig <0.05. Kết  
quả kiểm tra độ tương quan được thể hiện ở bảng sau.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 147  
Bảng 4. Độ tương quan của các nhân tố  
Correlations  
SN  
TA  
.417**  
.000  
207  
1
HC  
BI  
.496**  
.000  
207  
PA  
.346**  
.000  
207  
PI  
.662**  
.000  
207  
Pearson Correlation  
1
.370**  
.000  
207  
SN  
TA  
HC  
BI  
Sig. (2-tailed)  
N
207  
Pearson Correlation .417**  
.338**  
.000  
207  
.440**  
.000  
207  
.354**  
.000  
207  
.527**  
.000  
207  
Sig. (2-tailed)  
N
.000  
207  
207  
.338**  
.000  
207  
Pearson Correlation .370**  
1
.477**  
.000  
207  
.372**  
.000  
207  
.505**  
.000  
207  
Sig. (2-tailed)  
N
.000  
207  
207  
.477**  
.000  
207  
Pearson Correlation .496**  
.440**  
.000  
207  
1
.391**  
.000  
207  
.597**  
.000  
207  
Sig. (2-tailed)  
N
.000  
207  
207  
.391**  
.000  
207  
Pearson Correlation .346**  
.354**  
.000  
207  
.372**  
.000  
207  
1
.472**  
.000  
207  
PA  
PI  
Sig. (2-tailed)  
N
.000  
207  
207  
.472**  
.000  
207  
Pearson Correlation .662**  
.527**  
.000  
207  
.505**  
.000  
207  
.597**  
.000  
207  
1
Sig. (2-tailed)  
N
.000  
207  
207  
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả trên SPSS, n = 207  
Bảng kết quả tương quan trên cho thấy, các biến độc lập SN, TA, HC, PA, BI có tương quan  
nhất định đối với biến phụ thuộc PI, đủ điều kiện thực hiện phân tích hồi quy. Kết quả phân tích  
hồi quy cho các biến như sau:  
Bảng 5. Tóm tắt mô hình  
Model Summaryb  
Model  
R
R Square Adjusted R Square Std. Error of the Estimate  
.611 .601 .43644  
1
.782a  
a. Predictors: (Constant), PA, SN, HC, TA, BI  
b. Dependent Variable: PI  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả trên SPSS, n = 207  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 148  
Kết quả cho thấy hệ số R Square bằng 0.611, tức là 5 biến độc lập SN, TA, HC, PA, BI giải  
thích được cho 61.1% sự thay đổi của biến phụ thuộc PI.  
Bảng 6. Kết quả phân tích ANOVA  
ANOVAa  
Model  
Sum of Squares  
df  
Mean Square  
F
Sig.  
Regression  
Residual  
Total  
60.082  
38.286  
98.368  
5
12.016  
.190  
63.086  
.000b  
1
201  
206  
a. Dependent Variable: PI  
b. Predictors: (Constant), PA, SN, HC, TA, BI  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả trên SPSS, n = 207  
Kết quả phân tích ANOVA cho giá trị F = 63.086 và có ý nghĩa thống kê với sig. = 0.000 <  
0.05 cho thấy mô hình hồi quy phù hợp với tổng thể.  
Bảng 7. Các nhân tố ảnh hưởng đến Ý định mua hàng  
Coefficientsa  
Unstandardized  
Coefficients  
Standardized  
Coefficients  
Collinearity  
Statistics  
Model  
t
Sig.  
Std.  
B
Beta  
Tolerance  
VIF  
Error  
Constant  
SN  
-.339  
.456  
.189  
.154  
.200  
.114  
.260  
.064  
.055  
.052  
.057  
.041  
-1.301 .195  
7.162 .000  
3.430 .001  
2.982 .003  
3.539 .000  
2.803 .006  
.382  
.177  
.155  
.200  
.141  
.682  
.724  
.712  
.604  
.763  
1.467  
1.382  
1.404  
1.656  
1.310  
TA  
1
HC  
BI  
PA  
a. Dependent Variable: PI  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả trên SPSS, n = 207  
Theo kết quả phân tích hồi quy ở bảng 5.6 trên đây, các hệ số Beta của các biến phụ thuộc đều  
có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 5%. Tất cả hệ số VIF đều nhỏ hơn 2 do đó không có hiện  
tượng đa cộng tuyến trong mô hình. Mô hình hồi quy đa biến thể hiện sự tương quan giữa các biến  
độc lập và biến phụ thuộc được biểu diễn thông qua mô hình hồi quy đã được chuẩn hóa sau:  
PI = 0.382*SN + 0.177*TA + 0.155*HC + 0.200*BI + 0.141*PA  
Trong đó:  
PI: Ý định mua hàng  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 149  
SN: Chuẩn chủ quan  
TA: Mùi vị  
HC: Ý thức về sức khỏe  
BI: Hình ảnh thương hiệu  
PA: Tính sẵn có của sản phẩm  
Như vậy, tất cả các biến phụ thuộc của mô hình hồi quy đều có tác động tích cực tới biến phụ  
thuộc, do hệ số Beta dương. Trong đó, Chuẩn chủ quan (SN) có ảnh hưởng lớn nhất đến ý định  
mua hàng với hệ số beta 0.382 theo sau bới Hình ảnh thương hiệu (0.200), Mùi vị (0.177), Ý thức  
về sức khỏe (0.155) và Tính sẵn có của sản phẩm (0.141).  
Như vậy, có thể kết luận chấp nhận các giả thuyết H1, H2, H3, H5, H6 trong mô hình nghiên  
cứu vì các hệ số beta đều dương và có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 5%.  
5. Kết luận và đề xuất  
Sau khi tổng hợp, phân tích các dữ liệu đã thu thập được, nhóm tác giả rút ra các kết luận  
chính sau đây:  
Nhìn chung người tiêu dùng trẻ trên địa bàn TP.HCM có ý định mua hàng cao đối với sản  
phẩm sữa nước. Với mức độ đồng ý cao (trên 4) trong thang do Likert 5 bậc  
Có 5 nhân tố tác động trực tiếp và tích cực đến ý định mua hàng của người tiêu dùng trẻ tại  
TP.HCM là (1) Chuẩn chủ quan, (2) Mùi vị, (3) Ý thức về sức khỏe, (4) Tính sẵn có của sản phẩm  
và (5) Hình ảnh thương hiệu. Kết quả này tương tự với các nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh  
hưởng đến quyết định mua hàng và sự lựa chọn tiêu thụ các sản phẩm đồ ăn và thức uống, trong  
đó có các nghiên cứu về các sản phẩm sữa. Chuẩn chủ quan thể hiện ở thói quen tiêu dùng và thái  
độ của gia đình và người xung quanh đối với sản phẩm sữa nước. Mùi vị thể hiện ở sự dễ uống, sự  
thơm ngon và đa dạng về hương vị sản phẩm sữa nước. Ý thức về sức khỏe thể hiện ở việc người  
tiêu dùng thấy rằng sữa nước có nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe và việc kiểm soát chế  
độ ăn uống tốt cho sức khỏe của họ. Tính sẵn có của sản phẩm được đánh giá qua việc sản phẩm  
có sẵn có ở các kênh như cửa hàng, siêu thị, các kênh này có dễ tiếp cận và có thể mua ở các khung  
giờ thuận tiện hay không. Hình ảnh thương hiệu thể hiện ở việc người tiêu dùng quan trọng thương  
hiệu, và ưa chuộng các thương hiệu uy tín và quen thuộc với mình.  
Từ đó, nhóm tác giả có các đề xuất sau:  
Các doanh nghiệp sữa có thể tác động gián tiếp vào người tiêu dùng trẻ bằng cách đưa ra các  
chiến dịch marketing nhắm vào gia đình và bạn bè bởi họ tác động lớn đến ý định mua các sản  
phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ tại TP.HCM. Việc gia tăng mức độ tiêu thụ của gia đình  
cũng như thái độ của người thân đối với sản phẩm sữa nước sẽ đem đến tác động tích cực đến ý  
định mua hàng của người tiêu dùng trẻ tại TP.HCM.  
Các doanh nghiệp cần chú trọng vào hình ảnh thương hiệu của mình, xây dựng một thương  
hiệu cho dài hạn với uy tín và chất lượng tốt. Điều này cũng có nghĩa rằng các sản phẩm sữa từ  
các thương hiệu mới hoặc chưa quen thuộc với thị trường Việt Nam có thể gặp rào cản lớn khi  
thâm nhập thị trường.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 150  
Dù về mùi vị, các sản phẩm sữa nước đã có sự đa dạng và mang hương vị thơm ngon, dễ uống,  
tuy nhiên các doanh nghiệp sữa vẫn nên tích cực nghiên cứu và cho ra đời các hương vị mới để  
ngày càng đa dạng, tạo thêm nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng.  
Về mặt dinh dưỡng, sức khỏe, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển để  
cho ra đời các sản phẩm cải tiến, tốt cho sức khỏe hơn, đồng thời đẩy mạnh truyền thông không  
chỉ về sản phẩm mà còn về dinh dưỡng và chế độ ăn khoa học.  
Hiện tại, các sản phẩm sữa nước đã được phân phối rộng rãi, dễ tiếp cận đến người tiêu dùng,  
đây là điều cần được phát huy. Tuy nhiên, xu hướng và thị hiếu người tiêu dùng có xu hướng thay  
đổi, do đó các doanh nghiệp cần chú trọng đón đầu xu hướng như thương mại điện tử và có phương  
thức đổi mới chuỗi cung ứng và phân phối cho phù hợp.  
Tài liệu tham khảo  
Boniface, B. & Wendy J. Umberger (2012), Paper for presentation at the 56th AARES annual  
conference, Fremantle, Western Australia, February 7-10, 2012.  
Euromonitor (2020), “Drinking Milk Products in Vietnam”, Euromonitor, Available at  
Iliriana, M. (2009), Kosovo consumer buying behavior preferences and demand for milk and  
dairy products, Master thesis, Norwegian University of Life Science.  
Kumar, A. Babu, S. (2014), “Factors Influencing Consumer Buying Behavior with Special  
Reference to Dairy Products in Pondicherry State”, International Monthly Refereed Journal of  
Research in Management & Technology, No. 3, pp. 65 - 73.  
Lema, L. & Negash, M. (2018), “Factors affecting brand choice of the consumers on bottled  
water brands”, Pacific Business Review International, Vol. 11 No. 3, pp. 7 – 17.  
Luu, T. T., Nguyen. T. T. P., Luu, T. B. N. & Luu, H.M. (2013), “Powdered Milk Consumers’  
Buying Behavior”, International Journal of Business and Management, Vol. 8, No. 2.  
Ngọc, T (2021), “Ngành sữa “ngược dòng” tăng trưởng”, Báo Sài Gòn Giải Phóng,  
Nguyễn, H.N. (2015), “Nghiên cứu sự hài lòng của người tiêu dùng đối với sản phẩm sữa tươi  
đóng hộp cho trẻ em”, Hội thảo quốc gia về tiêu dùng hàng nội, hàng ngoại, 2015.  
Tran, Q.T., Do, Q.G., Vu, T. H., Lai, P.T., Ngo, T.T.H., Le, T.K.S. & Bui, T.M.L. (2014),  
“Factors Influencing Milk Consumption of Rural Households in Nothern Vietnam”, Greener  
Journal of Business and Management Studies, Vol. 4 No. 2, pp. 31 - 40.  
Trần, T.L. (2014), Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng nước giải khát không ga của  
khách hàng tại TP. HCM, Đại học Kinh tế TP. HCM.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 1 (01/2022) | 151  
pdf 12 trang Thùy Anh 18600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua các sản phẩm sữa nước của người tiêu dùng trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_y_dinh_mua_cac_san_pham_sua_nuoc_c.pdf