Các biện pháp xử lý vi phạm đối với hành vi hạn chế cạnh tranh theo luật cạnh tranh năm 2018

CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH VI  
HẠN CHẾ CẠNH TRANH THEO LUẬT CẠNH TRANH NĂM 2018  
TRẦN THÙY LINH* - NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY**  
Trong số các hành vi được luật cạnh tranh điều chỉnh, hành vi hạn chế cạnh tranh (HCCT) gây  
ra những tác động nghiêm trọng nhất cho thị trường. Bởi vậy, việc kiểm soát hành vi và xử lý  
những vi phạm đối với hành vi HCCT có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo trật tự cạnh tranh trên  
thị trường. Các quy định của Luật cạnh tranh năm 2018 có nhiều điểm tiến bộ, khắc phục được  
những điểm hạn chế của Luật cạnh tranh năm 2004 về xử lý vi phạm đối với hành vi HCCT nhưng  
vẫn bộc lộ những điểm bất cập cần khắc phục.  
Từ khóa: Hạn chế cạnh tranh, xử lý vi phạm về cạnh tranh, Luật cạnh tranh năm 2018.  
Ngày nhận bài: 10/4/2021; Biên tập xong: 13/4/2021; Duyệt đăng: 15/4/2021  
Anti-competitive practices cause the most serious impacts on the market. Therefore,  
controlling the behaviors and sanctions against violations of anti-competitive practices are  
important to ensure the order of competition in the market. Although the provisions of the 2018  
Competition Law have many progressive points in compared with the 2004 one on sanctions  
against violations of anti-competitive practices, it still need to improve several shortcomings.  
Keywords: Anti-competitive practices, sanctions against violations of competition law, the  
2018 Competition Law.  
1. Các biện pháp xử lý vi phạm đối với cảnh cáo và phạt tiền trong việc xử phạt hành vi  
hành vi hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh  
vi phạm hành chính về thỏa thuận HCCT, lạm  
dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị  
trí độc quyền. Tuy nhiên, theo quy định tại Mục  
1 và Mục 2, Chương II Nghị định 75/2019, biện  
pháp xử phạt chính duy nhất áp dụng với hành  
vi vi phạm quy định về HCCT là phạt tiền, trong  
đó, quy định rõ về mức phạt tiền tối đa, khung  
tiền phạt, cách xác định mức phạt tiền cụ thể đối  
với vi phạm về hành vi HCCT.  
Về mức phạt tiền tối đa, theo khoản 1 Điều  
111 LCT năm 2018 và khoản 1 Điều 4 Nghị định  
75/2019 là “10% tổng doanh thu của doanh nghiệp  
có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong  
năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi  
phạm, nhưng thấp hơn mức phạt tiền thấp nhất đối  
với tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm được  
quy định trong Bộ luật hình sự”. Theo quy định tại  
Điều 217 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ  
sung năm 2017), mức phạt tiền thấp nhất đối với  
cá nhân thực hiện hành vi thỏa thuận HCCT là  
200.000.000 đồng, còn đối với pháp nhân thương  
mại thực hiện hành vi thỏa thuận HCTT là  
1.000.000.000 đồng.  
tranh năm 2018  
Các biện pháp xử lý đối với vi phạm trong  
lĩnh vực cạnh tranh được quy định tại Điều 110  
và Điều 111 Luật cạnh tranh (LCT) năm 2018.  
Theo đó, doanh nghiệp thực hiện hành vi HCCT  
bao gồm: Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,  
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,  
lạm dụng vị trí độc quyền thị trường thì tuỳ  
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi  
phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm  
hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà  
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá  
nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định  
của pháp luật.  
Về biện pháp xử phạt vi phạm hành chính,  
Điều 110 LCT năm 2018 quy định các biện pháp  
hành chính áp dụng đối với vi phạm pháp luật  
về cạnh tranh (bao gồm vi phạm quy định về  
HCCT) gồm có: (i) Xử phạt chính; (ii) Xử phạt bổ  
sung; và (iii) Các biện pháp khắc phục hậu quả.  
Hình thức xử phạt chính: Theo khoản 2 Điều  
110 LCT năm 2018, doanh nghiệp thực hiện  
hành vi vi phạm quy định về HCCT có thể phải  
gánh chịu một trong hai hình thức xử phạt chính  
là cảnh cáo và phạt tiền. Đồng thời, tại Điều 27  
Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật cạnh  
tranh (Nghị định 75/2019) cũng quy định: Hội  
Về khung tiền phạt, Điều 6 Nghị định 75/2019  
quy định với hành vi thỏa thuận HCCT của các  
doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan  
*, ** Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị  
đồng xử lý vụ việc HCCT có thẩm quyền phạt kinh doanh  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 73  
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH VI...  
(thỏa thuận HCCT theo chiều ngang) bị áp dụng  
- Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh  
mức phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu nghiệp hoặc văn bản tương đương.  
trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền  
kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng  
doanh nghiệp là các bên tham gia thỏa thuận.  
Điều 7 Nghị định 75/2019 quy định với hành vi  
thỏa thuận HCCT của các doanh nghiệp kinh  
doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng  
một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối  
với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định (thỏa  
thuận HCCT theo chiều dọc) thì bị áp dụng mức  
phạt tiền từ 01% đến 05% tổng doanh thu trên  
thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề  
trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng  
doanh nghiệp là các bên tham gia thỏa thuận.  
Trong khi đó, khung tiền phạt áp dụng đối với  
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và  
lạm dụng vị trí độc quyền thị trường là từ 01%  
đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên  
quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực  
hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp.  
Các biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài các hình  
thức xử phạt theo quy định nêu trên, tổ chức, cá  
nhân vi phạm pháp luật về HCCT còn có thể bị  
áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục  
hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 110 LCT  
năm 2018 và khoản 3 Điều 3 Nghị định 75/2019.  
Cụ thể:  
- Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng  
vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc  
quyền;  
- Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm  
pháp luật ra khỏi hợp đồng, thỏa thuận hoặc  
giao dịch kinh doanh;  
- Buộc cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu;  
- Buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ  
thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đã cản trở;  
- Buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt  
cho khách hàng;  
Mức tiền phạt cụ thể, theo quy định tại khoản  
8 Điều 4 Nghị định 75/2019 là mức trung bình  
của khung tiền phạt được quy định đối với hành  
vi đó. Mức tiền phạt có thể được giảm nhẹ hoặc  
tăng lên nhưng không quá 15% mức trung bình  
của khung hình phạt nếu có tình tiết giảm nhẹ  
hoặc tình tiết tăng nặng tương ứng. Trong trường  
hợp mức tiền phạt được giảm nhẹ hay tăng lên  
thì vẫn phải nằm trong khung tiền phạt theo quy  
định.  
Có thể thấy, tổng doanh thu của doanh  
nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên  
quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực  
hiện hành vi vi phạm là căn cứ để xác định mức  
phạt tiền tối đa, xác định khung tiền phạt cũng  
như mức phạt tiền cụ thể. Một điểm tiến bộ của  
LCT năm 2018 so với LCT năm 2004 chính là đã  
dự liệu quy định trường hợp tổng doanh thu của  
doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường  
liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm  
thực hiện hành vi vi phạm được xác định bằng 0  
(không) thì áp dụng mức phạt tiền từ 100.000.000  
đồng đến 200.000.000 đồng (khoản 3 Điều 4 Nghị  
định 75/2019).  
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.  
2. Đánh giá các quy định của Luật Cạnh  
tranh 2018 về xử lý vi phạm đối với hành vi hạn  
chế cạnh tranh  
2.1. Về những điểm tiến bộ  
Có thể thấy LCT năm 2018 đã ghi nhận các  
biện pháp xử lý toàn diện đối với vi phạm về  
HCCT. Các quy định về xử lý vi phạm đối với  
hành vi HCCT nói riêng và vi phạm trong lĩnh  
vực cạnh tranh nói chung. Đây là một trong  
những nội dung thể hiện sự tiến bộ của LCT năm  
2018 so với LCT năm 2004, cụ thể:  
Thứ nhất, quy định về áp dụng chế tài hình  
sự đối với các vi phạm pháp luật về hành vi  
HCCT thể hiện sự thay đổi trong nhận thức  
của nhà làm luật về tính chất nghiêm trọng của  
hành vi HCCT, đưa Việt Nam theo xu thế chung  
của nhiều nước trên thế giới trong việc coi hình  
sự hóa các vi phạm cạnh tranh là cần thiết cho  
việc đảm bảo chính sách cạnh tranh có hiệu quả.  
Trong pháp luật cạnh tranh hiện đại, cơ sở để xử  
lý hình sự các hành vi HCCT nói chung xuất phát  
trước tiên từ tính chất nghiêm trọng của các tác  
hại mà hành vi HCCT gây ra đối với người tiêu  
dùng và nền kinh tế. Theo đó, các hành vi phản  
cạnh tranh không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu  
dùng do giá thành cao, lựa chọn ít mà nó còn tạo  
ra sự lãng phí (deadweight loss), cản trở sự phát  
triển kinh tế và tiến bộ xã hội thông qua việc bỏ  
chi phí duy trì các doanh nghiệp kém hiệu quả,  
trì hoãn không áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ  
thuật và loại bỏ động lực nâng cao hiệu quả kinh  
doanh. Nhìn nhận từ khía cạnh xã hội, các hành  
vi như câu kết ấn định giá hay áp đặt mức giá bất  
Hình thức xử phạt bổ sung: Các biện pháp xử  
phạt bổ sung áp dụng đối với hành vi vi phạm về  
HCCT được quy định tại khoản 3 Điều 110 LCT  
năm 2018 và khoản 2 Điều 3 Nghị định 75/2019  
bao gồm:  
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ  
hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng  
đến 12 tháng;  
- Tịch thu tang vật vi phạm, phương tiện  
được sử dụng để vi phạm;  
- Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc hợp lý, găm hàng tạo khan hiếm trên thị trường  
thực hiện hành vi vi phạm;  
để tăng giá về bản chất cũng có yếu tố chiếm đoạt  
74 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
TRẦN THÙY LINH - NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY  
như các tội “trộm cắp” hay “lừa đảo”. Quy định về căn cứ tính mức xử phạt là tương đồng với  
của LCT năm 2018 về truy cứu trách nhiệm hình LCT của nhiều nước trên thế giới. Với quan điểm  
sự đối với hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh quyết định xử phạt dựa vào các căn cứ hợp lý  
để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại, nhiều quốc gia  
đã áp dụng nguyên tắc tính mức xử phạt căn cứ  
theo doanh thu trên thị trường liên quan hoặc  
thị trường bị ảnh hưởng, đảm bảo tính hợp lý  
nhưng cũng mang sức răn đe.  
Thứ tư, quy định của Nghị định 75/2019 về  
xác định mức phạt tiền cụ thể đã khắc phục được  
thiếu sót của Nghị định 71/2014 khi đưa ra các  
căn cứ để xác định mức độ xử lý đối với các hành  
vi vi phạm nhưng không quy định cụ thể việc sử  
dụng và đánh giá các căn cứ để xác định tỷ lệ tính  
mức phạt như thế nào, vốn gây khó khăn cho cơ  
quan cạnh tranh trong việc xác định mức phạt  
tiền cụ thể đối với các doanh nghiệp vi phạm,  
thậm chí gây tranh cãi trong quyết định mức độ  
xử lý vi phạm hoặc có thể dẫn đến việc tùy tiện  
trong quyết định mức phạt.  
Thứ năm, đối với quy định về biện pháp xử  
phạt bổ sung, việc tách riêng biện pháp Tịch thu  
khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành  
vi vi phạm ra khỏi biện pháp Tịch thu tang vật,  
phương tiện được sử dụng để thực hiện hành  
vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản  
lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi  
phạm đã được quy định của LCT năm 2004 là  
hợp lý. Bởi lẽ, về bản chất, khoản lợi nhuận thu  
được từ hành vi vi phạm không phải, và không  
thể là tang vật hay phương tiện sử dụng để thực  
hiện hành vi vi phạm.  
Thứ sáu, về các biện pháp khắc phục hậu quả,  
LCT năm 2018 đã khắc phục được hạn chế của  
LCT năm 2004 khi quy định liệt kê cứng nhắc,  
điều chỉnh trực tiếp theo biểu hiện bên ngoài của  
hành vi; do đó, một biện pháp chỉ có thể phù hợp  
đối với một vài vụ việc với một hành vi vi phạm  
nhất định. Ví dụ: Buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi  
đã áp đặt cho khách hàng chỉ áp dụng đối với các  
vi phạm liên quan đến hành vi áp đặt điều kiện  
bất lợi cho khách hàng; biện pháp buộc sử dụng  
hoặc bán lại các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu  
dáng công nghiệp đã mua nhưng không sử dụng  
chỉ áp dụng đối với các vi phạm liên quan đến  
hành vi mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu  
dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử  
dụng...  
là đảm bảo sự thống nhất với quy định của Bộ  
luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về  
Tội vi phạm quy định về cạnh tranh tại Điều 217.  
Thứ hai, quy định về mức phạt tiền tối đa  
10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành  
vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm  
tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi  
phạm là phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong  
mỗi vụ việc, mức phạt tiền đối với mỗi hành vi  
vi phạm sẽ được xác định cụ thể trên tỷ lệ phần  
trăm nhất định từ doanh thu trên thị trường liên  
quan nhưng không được vượt quá mức phạt  
tiền tối đa. Hành vi HCCT thường liên quan  
đến những doanh nghiệp lớn, có sức mạnh trên  
thị trường, với tổng doanh thu mỗi năm lên  
tới hàng nghìn tỷ đồng, vì vậy mức phạt tối đa  
10% tổng doanh thu của doanh nghiệp trên thị  
trường liên quan được cho là mức đủ lớn, đủ  
tính răn đe nhưng không dẫn đến hậu quả làm  
phá sản doanh nghiệp, có thể gây ảnh hưởng  
tiêu cực đến thị trường. Đặc biệt, tổng doanh  
thu là căn cứ để xác định mức tiền phạt tối đa  
là tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm  
trên thị trường liên quan, tức là tổng doanh thu  
của doanh nghiệp đối với loại hàng hóa, dịch vụ  
trên thị trường liên quan mà doanh nghiệp thực  
hiện hành vi vi phạm chứ không phải là tổng  
doanh thu của cả doanh nghiệp. Quy định này  
là hợp lý, khắc phục hạn chế của LCT năm 2004  
khi quy định căn cứ xác định mức phạt tiền là  
tổng doanh thu của cả doanh nghiệp trong khi  
một doanh nghiệp có thể kinh doanh nhiều loại  
hàng hóa, dịch vụ nhưng doanh nghiệp chỉ có  
hành vi vi phạm LCT trong kinh doanh một loại  
hàng hóa, dịch vụ nhất định. Thậm chí, trong  
một số vụ việc, doanh thu phát sinh từ việc kinh  
doanh hàng hóa, dịch vụ có liên quan trực tiếp  
đến hành vi vi phạm chỉ chiếm một phần rất nhỏ  
trong tổng doanh thu của doanh nghiệp. Vì vậy,  
mức phạt dựa trên căn cứ “tổng doanh thu” của  
doanh nghiệp như LCT năm 2004 không phản  
ánh đúng mức độ tác động của hành vi vi phạm  
và không tương xứng với thiệt hại trên thị trường  
do hành vi vi phạm gây ra.  
Thứ ba, việc sử dụng doanh thu của năm tài  
chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi  
phạm chứ không phải là doanh thu của doanh  
nghiệp tại thời điểm vi phạm nhằm đảm bảo tính  
xác định về mặt số liệu, đặc biệt có ý nghĩa đối  
với các trường hợp đưa ra quyết định xử lý vào  
thời điểm chưa kết thúc năm tài chính hoặc chưa  
có số liệu về tổng doanh thu trong năm tài chính  
của năm thực hiện hành vi vi phạm.  
LCT năm 2018 đã áp dụng cả các biện pháp  
khắc phục hậu quả theo cấu trúc (cơ cấu lại doanh  
nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm  
dụng vị trí độc quyền) và cả các biện pháp khắc  
phục hậu quả theo hành vi (các biện pháp còn  
lại). Về bản chất, các biện pháp khắc phục hậu  
quả theo quy định hiện hành đều hướng tới mục  
tiêu chính là dừng, chấm dứt hành vi vi phạm,  
Có thể thấy, quy định của LCT năm 2018 khôi phục, cải thiện tình trạng cạnh tranh trên thị  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 75  
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH VI...  
trường cũng như phòng ngừa những vi phạm phạm của doanh nghiệp, do đó, có thể chưa đủ  
có thể xảy ra trong tương lai. Đặc biệt, các biện sức răn đe cũng như chưa công bằng trong việc  
pháp khắc phục hành vi hiện nay đã quy định áp dụng với các doanh nghiệp với thời gian vi  
phạm khác nhau. Ví dụ một doanh nghiệp thực  
hiện hành vi lạm dụng trong khoảng thời gian  
kéo dài thì khoản lợi thu được từ việc thực hiện  
hành vi lạm dụng có thể vượt quá 10% doanh  
thu một năm từ hoạt động kinh doanh của doanh  
nghiệp đó.  
theo hướng chung, điều chỉnh tác động của hành  
vi như vậy là phù hợp với xu thế của LCT các  
nước. Theo kinh nghiệm của các nước đi trước,  
nhóm biện pháp khắc phục theo hành vi thường  
được đưa ra dưới dạng buộc một doanh nghiệp  
phải thực hiện một số yêu cầu của cơ quan cạnh  
tranh hoặc chấm dứt thực hiện các hành vi có tác  
động xấu tới môi trường cạnh tranh. Biện pháp  
khắc phục theo hành vi, vì vậy, thường rất linh  
hoạt để phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh  
thị trường cũng như đặc thù trong hoạt động  
kinh doanh của từng doanh nghiệp. Trên thực  
tiễn, pháp luật cạnh tranh của nhiều nước không  
quy định quá chi tiết, cụ thể về các biện pháp  
khắc phục hậu quả mà đòi hỏi cơ quan cạnh  
tranh phải xem xét, đánh giá và quyết định về  
biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng vụ  
việc, từng ngành. Ví dụ: Luật chống độc quyền  
Nhật Bản quy định cơ quan cạnh tranh có quyền  
yêu cầu doanh nghiệp vi phạm thực hiện các biện  
pháp cần thiết để khôi phục cạnh tranh trên thị  
trường. Chính vì vậy, các cơ quan quốc tế đều  
có chung quan điểm cho rằng, việc thiết kế được  
biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp, hiệu quả  
là một nội dung điều tra không kém phần quan  
trọng so với điều tra xác định hành vi vi phạm.  
Thứ tư, việc coi biện pháp Tịch thu khoản  
lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi  
phạm là một biện pháp xử phạt bổ sung là chưa  
hợp lý và khiên cưỡng. Bởi lẽ, việc tịch thu khoản  
lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi  
phạm thực chất có mục đích là khôi phục về tình  
trạng ban đầu nếu không có hành vi vi phạm.  
Khoản lợi nhuận bị tịch thu do đó không thuộc  
về doanh nghiệp nếu nó không thực hiện hành  
vi vi phạm về lạm dụng. Với mục đích khôi phục  
tình trạng ban đầu, biện pháp này nên nằm trong  
nhóm các biện pháp khắc phục hậu quả. Trong  
khi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính xem  
xét khoản lợi nhuận bất hợp pháp dưới hình  
thức biện pháp khắc phục hậu quả, pháp luật  
cạnh tranh cũng cần điều chỉnh để đảm bảo tính  
nhất quán trong hệ thống các văn bản quy phạm  
pháp luật.  
3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của  
Luật cạnh tranh năm 2018 về xử lý vi phạm đối  
với hành vi hạn chế cạnh tranh  
2.2. Về những điểm hạn chế  
Thứ nhất, như đã chỉ ra, cả LCT năm 2018 và  
Nghị định 75/2019 đều quy định tổ chức, cá nhân  
thực hiện hành vi vi phạm quy định về HCCT  
phải gánh chịu một trong hai hình thức xử phạt  
chính là cảnh cáo và phạt tiền. Tuy nhiên, không  
có bất kỳ quy định nào chỉ rõ hình thức cảnh cáo  
sẽ được áp dụng trong những trường hợp nào và  
được áp dụng như thế nào. Đồng thời, tại Mục  
1 và Mục 2, Chương II Nghị định 75/2019 quy  
định cụ thể về hình thức xử phạt đối với hành  
vi vi phạm quy định về HCCT thì hình thức xử  
phạt chính duy nhất được đề cập đến là phạt  
tiền. Điều này cho thấy sự thiếu thống nhất trong  
quy định, gây ra sự mơ hồ trong việc áp dụng các  
biện pháp xử phạt chính đối với hành vi vi phạm  
quy định về HCCT.  
Thứ nhất, cần xác định rõ với vi phạm về  
HCCT thì có áp dụng hình thức xử phạt chính là  
cảnh cáo hay không. Nếu áp dụng, cần quy định  
cụ thể vi phạm về HCCT trong trường hợp nào sẽ  
áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Tuy nhiên,  
theo ý kiến tác giả, vi phạm về HCCT bao gồm  
thỏa thuận HCCT, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị  
trường và lạm dụng vị trí độc quyền thị trường  
đều là những hành vi có thể gây ra những tác  
động nghiêm trọng cho thị trường. Do đó, có thể  
sửa quy định theo hướng các vi phạm về HCCT  
đều bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt  
tiền mà không có trường hợp áp dụng hình thức  
xử phạt chính là cảnh cáo để đủ sức răn đe đối  
với các chủ thể có ý định thực hiện hành vi vi  
phạm.  
Thứ hai, quy định về việc áp dụng chế tài bồi  
thường thiệt hại còn chung chung. Khoản 1 Điều  
110 mới là quy định mang tính nguyên tắc về khả  
năng áp dụng chế tài dân sự bồi thường thiệt  
hại cho các vi phạm về cạnh tranh nói chung mà  
chưa chỉ rõ khả năng áp dụng cho vi phạm về  
HCCT nói riêng, cũng như chưa có cơ chế cụ thể  
cho việc thực thi quy định này.  
Thứ hai, xây dựng quy định cụ thể về cơ chế  
bồi thường thiệt hại đối với hành vi vi phạm luật  
cạnh tranh nói chung và hành vi HCCT nói riêng.  
Như đã phân tích, quy định về bồi thường  
thiệt hại cho các vi phạm về cạnh tranh mới chỉ  
được ghi nhận chung chung tại Điều 110 LCT  
năm 2018 mà chưa rõ khả năng áp dụng cho vi  
phạm về HCCT nói riêng, cũng như chưa có cơ  
Thứ ba, quy định về mức phạt tiền tính theo tỷ chế cụ thể cho việc thực thi quy định này. Với  
lệ phần trăm dựa trên doanh thu là hợp lý nhưng cách quy định như hiện nay, cộng với trước đây  
chưa đủ vì chưa phản ánh yếu tố thời gian vi theo quy định của Nghị định số 71/2014 quy  
76 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
TRẦN THÙY LINH - NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY  
định chi tiết về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh thị trường (và đối với hành vi thỏa thuận  
lĩnh vực cạnh tranh, có thể thấy vấn đề này sẽ  
được dẫn chiếu đến các quy định của pháp luật  
dân sự để giải quyết theo chế định bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng. Điều này là không  
hợp lý bởi bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp  
luật cạnh tranh, đặc biệt là do hành vi HCCT là  
rất đặc thù, không tương đồng về bản chất với  
việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như  
trong Luật dân sự. Kinh nghiệm ở các nước trên  
thế giới, điển hình như Hoa Kỳ cũng có những  
nguyên tắc, quy định riêng áp dụng cho việc bồi  
thường thiệt hại do hành vi phản cạnh tranh gây  
ra. Theo Luật chống độc quyền Hoa Kỳ, các cá  
nhân, tập đoàn, hiệp hội, thậm chí chính quyền  
các tiểu bang đều có thể đưa đơn kiện và đòi bồi  
thường thiệt hại về một hành vi phản cạnh tranh  
nếu đáp ứng các nguyên tắc về bồi thường thiệt  
hại. Các nguyên tắc mà Hoa Kỳ áp dụng đối với  
các vụ việc về bồi thường thiệt hại do hành vi  
phản cạnh tranh gây ra bao gồm:  
- Có thiệt hại trong cạnh tranh: Nguyên  
đơn phải chỉ ra được thiệt hại mà họ đòi bồi  
thường và thiệt hại đó phải là loại thiệt hại  
được Luật chống độc quyền bảo vệ. Điều 4  
Đạo luật Clayton của Hoa Kỳ cho phép bồi  
thường thiệt hại “cho những người nào đã  
bị thiệt hại trong hoạt động kinh doanh hoặc  
thiệt hại về tài sản do một hành vi vi phạm  
pháp luật chống độc quyền gây ra”.  
- Quyền được khởi kiện (standing): Yêu cầu  
này sẽ giới hạn phạm vi nguyên đơn của vụ  
kiện, bởi ai cũng có thể nhận mình là người bị  
thiệt hại trong kinh doanh, hoặc thiệt hại về  
tài sản do hành vi phản cạnh tranh của bị đơn  
gây ra. Các Tòa án ở Hoa Kỳ thường yêu cầu  
nguyên đơn phải chứng minh mình là nguyên  
đơn được “ưu tiên” bằng cách chỉ ra nhiều  
nhất các yếu tố chứng minh thiệt hại của mình  
trong mối liên hệ trực tiếp nhất với hành vi của  
bị đơn.  
- Quy tắc người mua trực tiếp: Hành vi phản  
cạnh tranh của bị đơn có thể gây thiệt hại cho  
người mua trực tiếp, những người sau đó mua  
hàng của người này và người tiêu thụ cuối cùng,  
nhưng chỉ có người mua hàng trực tiếp mới có  
quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với  
hành vi phản cạnh tranh của bị đơn.  
HCCT) nên bổ sung thêm yếu tố thời gian vi  
phạm của doanh nghiệp vào căn cứ tính để đảm  
bảo đủ sức răn đe cũng như đảm bảo công bằng  
trong việc áp dụng đối với các doanh nghiệp  
với thời gian vi phạm khác nhau. Cụ thể, có thể  
quy định mức phạt tiền tối đa không quá 10%  
tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên  
thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề  
trước năm bắt đầu thực hiện hành vi vi phạm  
nhân với số năm thực hiện hành vi vi phạm.  
Thứ tư, chuyển biện pháp Tịch thu khoản  
lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi  
phạm sang nhóm các biện pháp khắc phục hậu  
quả. Như đã phân tích ,việc xếp biện pháp này  
nằm trong nhóm biện pháp xử phạt bổ sung là  
chưa hợp lý bởi việc tịch thu khoản lợi nhuận  
thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm thực  
chất có mục đích là khôi phục về tình trạng ban  
đầu nếu không có hành vi vi phạm. Khoản lợi  
nhuận bị tịch thu do đó không thuộc về doanh  
nghiệp nếu nó không thực hiện hành vi vi phạm  
về lạm dụng. Với mục đích khôi phục tình trạng  
ban đầu, biện pháp này nên nằm trong nhóm  
các biện pháp khắc phục hậu quả. Trong khi  
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính xem xét  
khoản lợi nhuận bất hợp pháp dưới hình thức  
biện pháp khắc phục hậu quả, pháp luật cạnh  
tranh cũng cần điều chỉnh để đảm bảo tính nhất  
quán trong hệ thống các văn bản quy phạm  
pháp luật.  
Tóm lại, việc hoàn thiện các quy định về xử  
lý vi phạm đối với hành vi hạn chế cạnh tranh  
chắc chắn sẽ có ý nghĩa trong việc hoàn thiện  
môi trường cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng,  
duy trì động lực phát triển kinh tế và tiến bộ xã  
hội thông qua việc bỏ chi phí duy trì các doanh  
nghiệp kém hiệu quả, trì hoãn không áp dụng  
các tiến bộ khoa học kỹ thuật và loại bỏ động lực  
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Luật cạnh tranh năm 2018;  
2. Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật cạnh tranh;  
3. Nghị định 71/2014/ NĐ-CP quy định chi tiết luật  
cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực  
Những quy định của Hoa Kỳ về vấn đề này  
có thể không hoàn toàn phù hợp cho việc áp  
dụng trực tiếp vào LCT Việt Nam nhưng sẽ có  
ý nghĩa nhất định cho việc hoàn thiện cơ sở lý cạnh tranh;  
luận, từ đó, xây dựng các quy định cụ thể cho  
vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi HCCT ở  
Việt Nam hiện nay.  
4. Federico Etro (2006), The EU approach to Abuse of  
Dominance, Ed. ECG and Intertic, Milan;  
5. US Congress (1914), Clayton Antitrust Act. Nguồn  
Thứ ba, liên quan đến quy định về mức phạt  
tiền tối đa đối với hành vi lạm dụng vị trí thống manClaytonFTC_Acts.pdf  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 77  
pdf 5 trang Thùy Anh 10040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các biện pháp xử lý vi phạm đối với hành vi hạn chế cạnh tranh theo luật cạnh tranh năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_bien_phap_xu_ly_vi_pham_doi_voi_hanh_vi_han_che_canh_tra.pdf