Tìm hiểu khái niệm vi phạm hành chính và tuổi chịu trách nhiệm hành chính theo luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN  
TÌM HIEÅU KHAÙI NIEÄM VI PHAÏM HAØNH CHÍNH  
VAØ TUOÅI CHÒU TRAÙCH NHIEÄM HAØNH CHÍNH  
THEO LUAÄT XÖÛ LYÙ VI PHAÏM HAØNH CHÍNH NAÊM 2012  
iếu tá, S. Phạm Đắc iện *  
Tóm tắt nội dung: Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2012 (sau đây gọi là  
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 là  
văn bản quy phạm pháp luật có tính chất tổng hợp, toàn diện, có hiệu lực pháp lý cao nhất về xử  
lý vi phạm hành chính. Sau gần một năm có hiệu lực thi hành, Luật xử lý vi phạm hành chính đã  
phát huy được vai trò điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực cao nhất  
của Nhà nước, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân ban hành. Tuy vậy, văn bản quy phạm  
pháp luật này cũng đã bộc lộ những vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn cần phải được trao đổi  
thêm, phạm vi bài viết này, xin đề cập đến hai vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau đó là khái niệm  
vi phạm hành chính và tuổi chịu trách nhiệm hành chính.  
*****  
uật Xử lý vi phạm hành chính được  
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ  
1. Về khái niệm vi phạm hành chính  
Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành  
L
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp chính năm 2012 quy định: “Vi phạm hành chính  
thứ 3 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2012 (sau là hành vi có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực hiện,  
đây gọi là Luật Xử lý vi phạm hành chính năm vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà  
2012), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 nước mà không phải là tội phạm và theo quy  
năm 2013 là văn bản quy phạm pháp luật có định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành  
tính chất tổng hợp, toàn diện, có hiệu lực pháp lý chính”. Khái niệm này về cơ bản không có sự  
cao nhất về xử lý vi phạm hành chính. Sau gần thay đổi so với khái niệm vi phạm hành chính  
một năm có hiệu lực thi hành, Luật Xử lý vi phạm được quy định tại Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi  
hành chính đã phát huy được vai trò điều chỉnh phạm hành chính năm 1989: “Vi phạm hành  
của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện  
quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan đại một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc  
diện cao nhất của nhân dân ban hành. Tuy vậy, quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm  
văn bản quy phạm pháp luật này cũng đã bộc hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị  
lộ những vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn, xử phạt hành chính”.  
---------------------------------------------------------------  
một trong những vấn đề đó là khái niệm vi phạm  
hành chính và tuổi chịu trách nhiệm hành chính.  
* P. Trưởng Bộ môn Pháp luật,  
Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II.  
SOÁ 05 // QUYÙ III NAÊM 2014  
17  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT  
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử  
quy định khái niệm vi phạm hành chính là cơ sở phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã  
pháp lý chung cơ bản cho việc xác định vi phạm bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được  
hành chính, áp dụng trách nhiệm hành chính và xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo  
là cơ sở pháp lý phân biệt vi phạm hành chính không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu  
với tội phạm. Nhưng điều còn vướng mắc trong tháng đến ba năm”. Như vậy, theo quy định tại  
khái niệm vi phạm hành chính nêu trên đó là Khoản 1 Điều 138 và Điều 139 Bộ luật hình sự  
dấu hiệu “…mà không phải là tội phạm…”, để thì hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có  
làm rõ dấu hiệu này đòi hỏi chủ thể có thẩm giá trị dưới hai triệu đồng chỉ có thể cấu thành  
quyền xử phạt vi phạm hành chính phải xác tội phạm nếu có thêm một trong các dấu hiệu  
định hành vi vi phạm pháp luật không cấu thành như: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử  
một tội phạm cụ thể nào được quy định trong phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã  
Bộ luật Hình sự. Bằng những hoạt động của bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được  
mình để làm rõ dấu hiệu trên, các chủ thể có xóa án tích mà còn vi phạm. Để xác định được  
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể hành vi chiếm đoạt dưới hai triệu đồng có thêm  
sẽ gặp rất nhiều khó khăn, có trường hợp phải một trong các dấu hiệu đó hay không, làm cơ sở  
tốn nhiều thời gian hoặc phải có những cơ quan cho việc xác định là vi phạm hành chính hay tội  
nhất định có thẩm quyền mới có thể làm được. phạm, có những trường hợp cơ quan có thẩm  
Chẳng hạn có nhiều hành vi vi phạm pháp luật quyền xử phạm vi phạm hành chính có thể làm  
nếu chỉ bằng hoạt động của chủ thể có thẩm rõ được nhưng có những trường hợp đòi hỏi phải  
quyền xử phạt vi phạm hành chính theo trình tự được chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo trình  
thủ tục hành chính thì không thể xác định được tự tố tụng hình sự chứ không phải do chủ thể  
hành vi đã thực hiện là vi phạm hành chính hay có thẩm quyền xử phạt hành chính tiến hành.  
tội phạm mà chỉ có thể xác định bằng các hoạt Chính vì vậy, việc quy định dấu hiệu “không  
động tố tụng của chủ thể có thẩm quyền do luật phải là tội phạm” trong khái niệm vi phạm hành  
tố tụng hình sự quy định. Ví dụ, Khoản 1 Điều chính là một vấn đề cần phải được nghiên cứu  
138 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào trộm trao đổi.  
cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu  
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới  
2. Về tuổi chịu trách nhiệm hành chính  
Điểm a, khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi  
hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng phạm hành chính năm 2012 quy định: “Người từ  
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính  
đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16  
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi  
phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc vi phạm hành chính”.  
phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” hay Khoản 1  
Để làm sáng tỏ vấn đề cần được chính  
Điều 139 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào xác hóa trong nội dung quy định nêu trên trước  
bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của hết cần làm rõ các cụm từ “đủ 14 tuổi”; “dưới 16  
người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới tuổi và đủ 16 tuổi”. Về lý luận cũng như thực tiễn  
năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng thực thi pháp luật ở Việt Nam cho thấy: Người từ  
18  
SOÁ 05 // QUYÙ III NAÊM 2014  
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN  
đủ 14 tuổi được hiểu là người tròn 14 tuổi, người người đến tuổi 18 nhưng chưa đủ 18 tuổi điều  
tròn 13 tuổi bước sang ngày đầu tiên của tuổi 14 luật không quy định nếu phạt tiền thì mức tiền  
được coi là người đến tuổi 14 (nhưng chưa đủ 14 phạt là bao nhiêu?.  
tuổi); người dưới 16 tuổi là người có độ tuổi từ đủ  
Để đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội  
15 trở xuống; người đủ 16 tuổi là người 16 tuổi chủ nghĩa trong thực thi pháp luật, tranh việc  
tròn, người đủ 15 tuổi bước sang ngày đầu tiên hiểu và áp dụng pháp luật thiếu thống nhất và  
của tuổi 16 được coi là người đến tuổi 16 (nhưng tùy tiện, dẫn đến vi phạm các quyền và lợi ích  
chưa đủ 16 tuổi).  
hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì tuổi chịu trách  
Với cách hiểu về các cụm từ như đã trình nhiệm hành chính trong Điểm a, khoản 1 Điều  
bày ở trên và từ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên  
5 Luật xử lý vi phạm hành chính chúng ta cũng quy định lại như sau:  
có thể hiểu là: Người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi  
“Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa  
bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành đủ 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi  
chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi  
phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi  
chính. Như vậy, vấn đề chưa chính xác trong phạm hành chính”  
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 nêu trên là  
Đoạn 2 và 3 khoản 3 Điều 134 Luật xử lý  
người đến 16 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi thì điều vi phạm hành chính năm 2012 nên quy định lại  
luật không quy định có bị xử phạt hành chính về như sau:  
vi phạm hành chính hay không (nói cách khác  
“Trường hợp người từ đủ 14 tuổi trở lên  
là người ở độ tuổi này vi phạm hành chính sẽ nhưng chưa đủ 16 tuổi thì không áp dụng hình  
không bị xử phạt hành chính về vi phạm hành thức phạt tiền.  
chính). Điểm chưa chính xác này còn được lặp  
Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến chưa  
lại trong quy định tại Chương I Những quy định đủ 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì  
chung về xử lý vi phạm hành chính đối với người mức tiền phạt không quá ½ mức tiền phạt áp  
chưa thành niên, thuộc thẩm phần thứ năm dụng đối với người thành niên…”  
(Những quy định đối với người chưa thành niên  
Trên đây là một số nội dung cần trao đổi  
vi phạm hành chính). Đoạn 2 và 3 khoản 3 Điều về khái niệm vi phạm hành chính và tuổi chịu  
134 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 trách nhiệm hành chính. Rất mong các nhà làm  
quy định:  
“Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới để góp phần hoàn thiện các quy định của Luật  
16 tuổi thì không áp dụng hình thức phạt tiền. xử lý vi phạm hành chính và có cách hiểu thống  
luật và các cơ quan thực thi pháp luật tham khảo  
Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới nhất về các quy định này để áp dụng trong thực  
18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiễn./.  
tiền phạt không quá ½ mức tiền phạt áp dụng  
đối với người thành niên…”  
Với quy định của điều luật nêu trên thì  
người đến tuổi 16 nhưng chưa đủ 16 tuổi, điều  
luật không quy định có bị phạt tiền hay không và  
SOÁ 05 // QUYÙ III NAÊM 2014  
19  
pdf 3 trang Thùy Anh 9460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu khái niệm vi phạm hành chính và tuổi chịu trách nhiệm hành chính theo luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_khai_niem_vi_pham_hanh_chinh_va_tuoi_chiu_trach_nhi.pdf