Một số bất cập trong thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THI HÀNH ÁN KHI CÓ THAY ĐỔI  
GIÁ TÀI SẢN TẠI THỜI ĐIỂM THI HÀNH  
Trần Thị Khánh Linh, Bùi Thị Thùy Linh*  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Nguyễn Minh Nhựt  
TÓM TẮT  
Công tác thi hành án nói chung và công tác thi hành án dân sự nói riêng đều có ý nghĩa hết  
sức quan trọng đối với mọi phương diện của đời sống. Nó làm cho các bản án, quyết định  
đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân trở thành hiện thực. Thông qua hoạt động thi hành án  
quyền và lợi ích của Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội và công dân được bảo vệ quyền  
và lợi ích của mình; pháp chế được tăng cường, tạo dựng niềm tin vững chắc cho nhân dân  
tin vào pháp luật, đảm bảo được trật tự xã hội. Trong điều kiện kinh tế phát triển hiện nay, vô  
số các quan hệ giao dịch được phát sinh, dẫn đến tranh chấp ngày càng nhiều, lượng công  
việc mà các cơ quan Tư pháp phải giải quyết ngày càng nhiều. Một vấn đề đặt ra cho cơ  
quan Tư pháp nói chung và cơ quan Thi hành án nói riêng là thực tiễn thi hành án dân sự  
trong trường hợp có sự thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án, cơ quan thi hành án  
dân sự có những lúng túng và chưa thống nhất trong phương án cũng như nội dung, trình tự  
và thủ tục xử lý. Do đó trong bài viết này, tác giả muốn phân tích những bất cập trong quy  
định pháp luật về thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành, từ đó đề xuất  
những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp  
luật về vấn đề trên.  
Từ khóa: thi hành án; thay đổi giá tài sản thi hành án; Luật thi hành án dân sự.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tại quy định của Điều 59 Luật thi hành án dân sự (sau đây viết tắt là THADS) năm 2008  
được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là THADS năm 2014) và Điều 17 Nghị  
định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số  
điều luật THADS đã ghi nhận: trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận  
tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm  
thi hành án (THA), giá tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá  
tài sản đó thì cơ quan THADS phải tổ chức định giá tài sản và tổ chức THS cho các đương  
sự theo giá đã được thay đổi đó. Như vậy, theo như quy định này cơ quan THA không tổ  
chức THA theo đúng nội dung bản án, quyết định đã được tuyên mà theo kết quả định giá  
được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của một bên đương sự hoặc các bên đương sự. Tuy  
nhiên, bản chất của việc THADS là hoạt động đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực  
1921  
pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế. Khi tổ  
chức thi hành, Chấp hành viên có nghĩa vụ thi hành án theo đúng nội dung bản án và  
quyết định đã được tuyên. Việc pháp luật THA ghi nhận ngoại lệ về THA khi giá trị thay đổi  
đặt ra những vấn đề cần trao đổi về bản chất của hoạt động THADS và nhiệm vụ, quyền  
hạn của Chấp hành viên trong quá trình thực thi quy định THA khi giá trị tài sản thay đổi  
trong thực tiễn.  
Thực tế khi Tòa án ban hành các phán quyết giao tài sản bằng hiện vật hay bằng giá trị  
thường theo nguyên tắc các bên đương sự thoả thuận và phù hợp với hiện trạng pháp lý,  
thực tiễn của từng loại tài sản. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì việc quyết  
định một bên nhận tài sản và một bên nhận giá trị thường xảy ra ở các vụ việc có các bên có  
chung quyền sở hữu, sử dụng đối với cùng một loại tài sản nhưng tài sản đó không thể phân  
chia hoặc việc phân chia làm ảnh hưởng đến giá trị của tài sản. Khi một bên nhận được một  
khoản tiền thì về bản chất đây là phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ. Nhưng  
tài sản được chia này đa phần là các bất động sản thường xuyên có sự biến động về giá trị  
và bị phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, xã hội và nhu cầu giao dịch trong  
từng thời kỳ, gắn với đặc thù của từng địa phương. Những sự biến động này làm cho khoản  
tiền mà một bên được nhận sẽ ít hơn hoặc nhiều hơn phần tài sản mà đáng lẽ ra họ phải  
được hưởng trong thực tế.  
2 BẤT CẬP TRONG THI HÀNH ÁN KHI CÓ THAY ĐỔI GIÁ TÀI SẢN TẠI THỜI  
ĐIỂM THI HÀNH  
2.1 Những bất cập  
Nội dung vụ án: trong phần quyết định của Bản án số 23/HNGĐ-PT của Tòa án nhân dân  
tỉnh N có nội dung sau:  
“… 3. Về tài sản chung: xác định tài sản chung của anh Trần Văn H, chị Nguyễn Thị M có  
tổng giá trị là 1.627.000.000 đồng. Chia đôi tài sản chung cho anh H, chị M mỗi người được  
hưởng ½ giá trị tài sản chung là 813.500.000 đồng.  
4. Giao tài sản cho các bên như sau: giao cho chị M được sở hữu tài sản chị đang quản lý,  
sử dụng gồm: nhà 3 tầng 180m2 có giá trị 607.000.000 đồng và quyền sử dụng đất 60m2 tại  
thửa số 173, tờ bản đồ số 40 tại thôn H, xã L, huyện M, tỉnh N có giá trị là 1.020.000.000  
đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.627.000.000 đồng. Chị M phải thanh toán tiền chênh lệch tài  
sản cho anh H số tiền là 813.500.000 đồng. Kể từ ngày người được THA có đơn yêu cầu  
THA thì hàng tháng bên phải THA còn phải chịu lãi suất của số tiền chưa THA theo lãi suất  
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án”.  
Sau khi nhận được đơn yêu cầu THA hợp lệ của anh H, Chi cục THADS huyện M, tỉnh N đã  
ra quyết định THA có nội dung: “Chị Nguyễn Thị M phải thanh toán chênh lệch tài sản cho  
anh Nguyễn Văn H số tiền là 813.500.000 đồng. Kể từ ngày người được THA có đơn yêu  
cầu THA thì hàng tháng bên phải THA còn phải chịu lãi suất của số tiền chưa THA theo lãi  
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa THA”. Quá  
trình THA, Chấp hành viên Chỉ Cục THADS huyện M, tỉnh N đã tiến hành thông báo quyết  
1922  
định THA, xác minh điều kiện THA, vận động, thuyết phục phải THA tự nguyện THA nhưng  
không đạt kết quả. Chấp hành viên đã ban hành Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử  
dụng 60m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 173, tờ bản đồ số 40 tại thôn H, xã L,  
huyện M, tỉnh N của bà Nguyễn Thị M. Sau khi kê biên, Chấp hành viên đã thông báo cho  
các bên đương sự thoả thuận về giá và tổ chức thẩm định giá nhưng các bên đương sự  
không thoả thuận được. Vì vậy, Chấp hành viên đã lựa chọn tổ chức thẩm định giá là Công  
ty thẩm định giá T, chứng thư thẩm định giá đã thẩm định tài sản là quyền sử dụng đất và tài  
sản gắn liền với đất của bà M với giá là 844.000.000 đồng. Sau khi có kết quả thẩm định giá,  
Chấp hành viên đã thông báo cho các bên đương sự và hướng dẫn các bên có quyền yêu  
cầu định giá lại tài sản nhưng các bên không yêu cầu định giá lại. Chấp hành viên đã ký hợp  
đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá tài sản là Công ty hợp danh đấu giá tài sản. Do  
không có người đăng ký mua tài sản, các bên không có thoả thuận về mức giảm giá tài sản,  
Chấp hành viên đã thực hiện việc giảm giá tài sản theo quy định của pháp luật. Sau 04 lần  
giảm giá tài sản, Công ty hợp danh đấu giá tài sản Q đã tổ chức bán đấu giá thành, người  
mua trúng đấu giá là ông Nguyễn Văn D với giá là 587.000.000 đồng. Chấp hành viên đã  
tiến hành giao tải sản cho người trúng đấu giá, đồng thời chi trả cho anh H toàn bộ số tiên là  
420.900.000 đồng sau khi trừ đi chi phí xử lý tài sản, tiền thuê nhà cho người phải THA, tiền  
án phí. Tuy nhiên, cả người được THA và người phải THA đều có đơn khiếu nại đối với việc  
thi hành án của Chấp hành viên. Trong đó, người được THA không nhận tiền do số tiền  
được nhận thấp hơn so với quyền lợi được bản án tuyên. Người phải THA khiếu nại về việc  
Chấp hành viên bán tài sản với giá quá thấp dẫn đến họ tay trắng sau khi ly hôn.  
Vụ việc này cũng được Viện Kiểm sát kiến nghị cơ quan THA phải xem xét lại việc thanh  
toán tiền thi hành án; theo đó, số tiền 420.900.000 đồng phải được chia đôi mỗi người được  
hưởng 1/2 tương ứng với 210.450.000 đồng, người phải THA được 1⁄2 tương ứng với  
210.450.000 đồng. Chi cục THADS huyện M không đồng ý với kiến nghị của Viện kiểm sát  
nhân dân tỉnh N. Để lý giải cho ý kiến của mình, Chi cục THADS huyện M đã viện dẫn Luật  
THADS năm 2014, theo đó, một trong những điều kiện để tổ chức THA tài sản thay đổi đó  
là phải có yêu cầu giá tài sản của một trong các bên đương sự. Trong vụ việc này, anh H,  
chị M đều không có yêu cầu định giá tài sản, do đó, Chi cục THADS không có căn cứ để tổ  
chức thi hành theo điều luật này. Từ kiến nghị của Viện Kiểm sát đến quan điểm của Chi cục  
THADS đặt ra những vấn đề pháp lý mà chúng tôi cho rằng cần được xem xét, trao đổi về  
điều kiện, trình tự, thủ tục THA khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm THA theo quy định  
của pháp luật hiện hành.  
2.2 Những bất cập trong điều kiện để thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời  
điểm thi hành án  
Theo quy định của Luật THADS hiện hành thì để thi hành án khi thay đổi giá tài sản tại thời  
điểm thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm THA cần có 03 điều kiện:  
Thứ nhất, phải là bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho  
người khác giá trị tài sản mà họ được nhận;  
1923  
Thứ hai, tại thời điểm THA giá tài sản phải thay đổi đáp ứng tỷ lệ tăng giảm theo luật định.  
Điều 17 Nghị định số 62/2015 quy định giá tài sản tăng hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá  
trị tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì được coi là giá tài sản thay đổi;  
Thứ ba, phải có yêu cầu định giá tài sản của một trong các bên đương.  
Như vậy, đối chiếu với tình huống thực tế được đưa ra ở trên, có thể thấy lập luận của Chi  
cục THADS huyện M là có cơ sở. Do không có bất kỳ yêu cầu định giá nào của một hoặc  
các bên đương sự nên Chi cục THADS huyện M đã tổ chức thi hành án theo trình tự thông  
thường, mặc dù đã thoả mãn 02 điều kiện còn lại theo trình tự THA thông thường, chị M phải  
trả cho anh H số tiền là 813.500.000 đồng nên Chi cục THADS chỉ trả toàn bộ số tiền  
420.900.000 đồng cho anh H là hợp lý. Tuy nhiên, nếu xem xét bản chất của sự việc thì cả  
anh H và chị M đều là chủ sở hữu, sử dụng của tài sản và sau khi phân chia thì Toà án xác  
định mỗi người được hưởng 1/2 giá trị tài sản. Do không chia được bằng hiện vật nên chị M  
được nhận nhà, đất và phải thanh toán cho anh H 1/2 giá trị tài sản. Vì vậy, sau khi xử lý tài  
sản, nếu chỉ vì chị M không có đơn yêu cầu định giá tài sản mà “tước bỏ” hoàn toàn quyền  
được phân chia tài sản của chị M là không hợp lý, đi ngược lại với bản chất của quy định  
phân chia tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn. Đây là quan điểm hợp lý mà Viện Kiểm sát  
tiếp cận khi thực hiện kiến nghị với cơ quan THADS.  
Ngoài ra, trong trường hợp trên nếu chị M không biết đến quy định về quyền được yêu cầu  
định giá của mình khi có thay đổi về định giá tài sản tại thời điểm THA nhưng Chấp hành  
viên không hướng dẫn cho chị M về quyền lợi này của mình. Như vậy, có thể thấy pháp luật  
THADS hiện hành đã bỏ ngỏ quy định về việc xác định trách nhiệm pháp lý cũng như trách  
nhiệm bồi thường thiệt hại của Chấp hành viên về việc hướng dẫn người thi hành án có  
quyền yêu cầu định giá tài sản khi giá trị tài sản thay đổi. Hơn nữa, những quy định hướng  
dẫn cụ thể chi tiết về điều kiện để THA khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm THADS là rất  
cần thiết có để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.  
2.3 Những bất cập trong trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án khi có thay đổi giá tài  
sản tại thời điểm thi hành án  
Sau khi có kết quả định giá, theo khoản 3, 4 Điều 17 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP cơ quan  
THA tổ chức thi hành án như sau: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kế từ ngày có kết quả  
định giá, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản yêu cầu người được nhận tài sản nộp số  
tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản mà đương sự được nhận theo bản án, quyết định so  
với giá tài sản đã quy định tại khoản 2 Điều này để thanh toán cho người được nhận tiền thi  
hành án. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu nộp tiền thi hành  
án, nêu người được nhận tài sản không tự nguyện nộp tiền THA thì chấp hành viên ra quyết  
định bán đấu giá tài sản để THA. Số tiền thu được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với số  
tiền, tài sản mà các đương sự được nhận theo bản án, quyết định nhưng không tính lãi  
chậm THA. Chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 3 Điều này do đương sự chịu  
tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận theo quy định của pháp luật về chi phí  
cưỡng chế THA. Từ quy định trên có thể thấy rằng, khác với trình tự thủ tục tổ chức THA  
thông thường là sau khi có kết quả định giá tài sản, Chấp hành viên tiến hành ký hợp đồng  
1924  
bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá có thẩm quyền hoặc tổ chức bán tài sản (theo  
thủ tục đấu giá hoặc không theo thủ tục đấu giá) theo quy định tại Điều 101 Luật THADS  
năm 2014 thì trường hợp tổ chức THA khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm THA, Chấp  
hành viên phải thông báo yêu cầu người được nhận tài sản phải nộp số tiền tương ứng với  
tỷ lệ giá trị tài sản mới, đương sự được nhận theo giá trị tài sản mới, nếu hết thời hạn thông  
báo mà không tự nguyện nộp tiền thì Chấp hành viên quyết định bán đấu giá tài sản để THA.  
Tuy nhiên, từ những quy định này còn tồn tại một số vướng mắc, khó khăn sau:  
Thứ nhất, nếu Chấp hành viên đã ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài  
sản có thẩm quyền thì Chấp hành viên có cần thiết phải ra quyết định bán đấu giá tài sản để  
THA không hay là Chấp hành viên vẫn tiếp tục thủ tục ký phụ lục hợp đồng để tiếp tục yêu  
cầu tổ chức đấu giá bán đấu giá tài sản? Theo chúng tôi, việc quy định Chấp hành viên phải  
ra quyết định bán đấu giá tài sản là không cần thiết. Bởi lẽ, quyết định này không phải là căn  
cứ để Chấp hành viên thanh toán tiền THA mà Chấp hành viên phải thanh toán theo tỷ lệ  
tương ứng với số tiền, tài sản mà các đương sự nhận được theo bản án, quyết định trên số  
tiền mà Chấp hành viên thu được. Vì vậy, việc bán đấu giá giá tài sản nên theo thủ tục thông  
thường là ký hợp đồng với tổ chức bán đấu giá có thẩm quyền với mức giá khởi điểm theo  
kết quả định giá.  
Thứ hai, nếu cơ quan THA chưa ra quyết định kê biên tài sản thì Chấp hành viên có phải ra  
quyết định kê biên không. Tại khoản 3 Điều 17 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP chỉ đề cập đến  
việc Chấp hành viên phải ra quyết định bán đấu giá tài sản mà không đề cập đến việc kê  
biên tài sản. Việc quy định không rõ ràng nãy sẽ dẫn đến những vướng mắc cho cơ quan  
THADS khi Chấp hành viên chưa ra quyết định kê biên cho tài sản.  
Ngoài ra, việc điều luật quy định không tính lãi suất chậm THA khi thanh toán tiền trong  
trường hợp THA khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm THA cũng không hợp lý, đặt trong  
mối quan hệ với bản chất của lãi suất chậm thi hành án. Theo quy định của pháp luật thì lãi  
suất chậm THA là khoản tiền mà người phải THA phải trả do chậm thực hiện nghĩa vụ, trong  
trường hợp này người phải thi hành án cũng đã vi phạm thời hạn thực hiện nghĩa vụ, người  
phải THA phải chịu trách nhiệm về sự chậm trễ của mình. Do đó, nếu bỏ hoàn toàn quy định  
về tính lãi suất chậm THA sẽ là việc tiếp tay cho sự trì hoãn, vi phạm nghĩa vụ của người  
phải THA.  
3 KIẾN NGHỊ  
Từ những vướng mắc đã đề cập ở trên, tác giả muốn đề cập một số kiến nghị nhằm hoàn  
thiện hơn những quy định pháp luật về Luật THADS 2014 và ban hành văn bản hướng dẫn  
thi hành chi tiết về trình tự, thủ tục THA khi có thay đổi về giá tài sản tại thời điểm THA:  
Thứ nhất, về thủ tục định giá tài sản. Việc đương sự yêu cầu định giá tài sản nếu cơ quan  
THADS đã định giá tài sản là không cần thiết. Quy định về thủ tục định giá chỉ dành cho  
trường hợp cơ quan THADS chưa định giá đất đấu giá. Trường hợp cơ quan THA đã định  
giá, bán đấu giá thì chỉ cần có thông báo cho đương sự về quyền yêu cầu cơ quan THA thi  
hành theo giá trị tài sản đã thay đổi.  
1925  
Thứ hai, về thủ tục tổ chức thi hành án khi có thay đổi giá tài sản: đề nghị bỏ quy định Chấp  
hành viên ra quyết định bán đấu giá tài sản để THA và thay vào đó là quy định: trường hợp  
người được nhận tài sản không tự nguyện nộp tiền thì Chấp hành viên kê biên, bán đấu giá  
tài sản (nếu Chấp hành viên chưa kê biên) hoặc Chấp hành viên tiếp tục bán đấu giá tài sản  
(nếu Chấp hành viên đã kê biên).  
Thứ ba, về tiền lãi suất chậm thi hành án: nên quy định tính lãi suất chậm THA theo mức giá  
trị tài sản đã thay đổi tương ứng với thời gian chậm THA thay vì bỏ hoàn toàn lãi suất chậm  
THA theo quy định của pháp luật hiện hành đề đảm bảo sự cân bằng quyền lợi của các bên  
đương sự.  
Thực tiễn hoạt động THADS trong trường hợp THA khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm  
THA cho thấy, hầu hết các tài sản có thay đổi giá đều là bất động sản. Giá trị của bất động  
sản thì luôn có những biến động bất thường. Do đó, việc quy định thủ tục thi hành đối với  
loại việc này là cần thiết để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự. Tuy nhiên, khi có thay  
đổi giá tài sản tại thời điểm THA còn nhiều điểm bất cập cần phải được sửa đổi để đảm bảo  
công tác THA đối với loại việc này được thuận lợi, thông suốt, góp phần nâng cao hiệu quả  
công tác THADS, củng cố niềm tin của người dân vào nền pháp lý của nước nhà.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Linh Trang (2020). Giải phóng mặt bằng, “cục nghẹn” của doanh nghiệp địa ốc (Xem  
10/4/2020).  
[2] Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).  
[3] Nghị định số 44/2014/NĐ-CP, ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về giá đất.  
[4] Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, ngày 18/07/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành  
một số điều Luật Thi hành án dân sự.  
[5] Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.  
[6] Bản án số 23/HNGĐ-PT. Xem tại: thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-  
232020hngdpt-ngay-09112020-ve-tranh-chap-xin-ly-hon-nuoi-con-va-tai-san-chung-  
15218).  
1926  
pdf 6 trang Thùy Anh 9680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số bất cập trong thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bat_cap_trong_thi_hanh_an_khi_co_thay_doi_gia_tai_san.pdf