Nâng cao năng lực và hiệu quả duy trì mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri của đại biểu dân cử ở Việt Nam hiện nay
NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HIỆU QUẢ DUY TRÌ MỐI LIÊN HỆ...
GIỮA ĐẠI BIỂU VÀ CỬ TRI CỦA ĐẠI BIỂU DÂN CỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TRƯƠNG VĨNH KHANG*
Việc duy trì mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri là linh hồn của dân chủ đại diện. Đó là
sự liên hệ mang tính biểu tượng cao về nhận thức và niềm tin của các cử tri về việc mình
được đại diện bởi đại biểu dân cử thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri và các hoạt động
khác của đại biểu dân cử. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng mối liên hệ giữa đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp với cử tri cũng như các điều kiện đảm
bảo giữ mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Đại biểu dân cử, cử tri, tiếp xúc cử tri.
Ngày nhận bài: 19/11/2020; Biên tập xong: 20/11/2020; Duyệt đăng: 22/11/2020
In representative democracy, maintaining the relationship between the delegates
and electors is a highly symbolic connection of the electors’ perception and beliefs
about their being represented by an elected representative through elector meetings
and other activities. The article clarifies current status of relationship between all-
level National Assembly deputies, People’s Council deputies and electors as well as
conditions to ensure that relationship.
Keywords: Elected representative, elector, elector meeting.
1. Thực trạng và vấn đề đặt ra hiện nay của cá nhân đại biểu không cao như chế
độ bầu cử đơn danh; thiếu sự hiện diện
thường xuyên của các đại biểu Quốc
1.1. Về mối liên hệ giữa đại biểu Quốc
hội với cử tri
hội tại khu vực bầu cử; khi có sự kiện,
Trong những năm vừa qua, mối liên
sự việc cụ thể xảy ra tại địa phương, các
hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri toàn
cử tri thường không nhận thấy sự xuất
quốc và cử tri tại đơn vị bầu cử đã có
hiện của người đại diện của họ mà chủ
nhiều chuyển biến theo chiều hướng tích
yếu là sự có mặt của các quan chức hành
cực. Cử tri toàn quốc ngày càng tin tưởng
nhiều hơn vào đội ngũ những người đại
diện, gửi gắm niềm tin vào những người
đại diện. Tiếng nói, nguyện vọng của cử
tri ngày càng được các đại biểu nêu ra
một cách quyết liệt và thảo luận sâu sắc
tại nghị trường. Tuy nhiên, cho đến nay,
trong nhận thức của một bộ phận lớn
cử tri, sự đại diện của đại biểu Quốc hội
chưa có được vị trí trí thường trực. Niềm
tin của cử tri về việc có được sự đại diện
bởi đại biểu Quốc hội đang vấp phải một
số rào cản. Có thể kể đến như chế độ bầu
cử với việc tổ chức đơn vị bầu chọn nhiều
ứng cử viên khiến cho tính biểu tượng
pháp; bản thân một số đại biểu Quốc hội
đôi khi phân vân đâu mới chính là người
cử tri thực sự của mình mà mình cần đại
diện… Vì vậy, trên thực tế chưa có sự ưu
tiên rõ ràng trong việc tiếp nhận và phản
ánh các thông tin từ cử tri ở các khu vực
khác nhau của đại biểu gồm cử tri ở khu
vực bầu cử, ở nơi mình cư trú và ở nơi
1
làm việc…
Hoạt động tiếp xúc cử tri là một trong
những hoạt động cơ bản của đại biểu
Quốc hội. Hoạt động này được tổ chức
vào trước và sau mỗi kỳ họp, thời gian
1
* Tiến sĩ, Viện Nhà nước và Pháp luật.
80 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
TRƯƠNG VĨNH KHANG
tiếp xúc thường giới hạn từ 01 buổi hoặc quá trình Quốc hội họp, các phương tiện
01 ngày ở mỗi điểm và tổ chức mỗi đợt
tiếp xúc cư tri ở 3- 4 điểm. Điều này giúp
đại biểu Quốc hội có những thông tin về
tình hình kinh tế - xã hội, những vấn đề
nổi lên trong đời sống và những bức xúc
của người dân để chuyển tải đến các cơ
quan có thẩm quyền, cũng như có những
dữ liệu cho việc phản biện và xây dựng
chính sách pháp luật. Tuy nhiên, việc tiếp
xúc cử tri có những nơi tổ chức chưa phù
hợp, chưa phải là kênh hiệu quả để cử tri
có thể gửi gắm ý chí, nguyện vọng đến
đại biểu Quốc hội. Các hình thức tiếp
xúc cử tri còn đơn điệu, chủ yếu là Hội
nghị tiếp xúc cử tri, do đó số lượng cử
tri tham gia tiếp xúc bị hạn chế. Việc chủ
động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri theo Hướng
dẫn liên tịch giữa Ủy ban thường vụ
Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực
hiện trong thực tế cũng còn có những bất
cập. Những người được mời thường là
những cử tri thường xuyên của các hội
nghị tiếp xúc cử tri. Trong khi đó, một số
cử tri nhận thấy quyền được đại diện của
mình bị hạn chế, có cử tri thắc mắc tại sao
họ cũng là người góp một lá phiếu bầu
ra đại biểu Quốc hội nhưng khi đại biểu
đi tiếp xúc cử tri thì họ lại không được
tham dự?
thông tin đại chúng đã chuyển tải đầy
đủ thông tin đến với các cử tri. Trong
khi đó, mục tiêu lắng nghe, thu thập
những ý kiến, kiến nghị phản ánh về nội
dung các dự án luật, nghị quyết thì việc
tiếp xúc cử tri theo hình thức này cũng
không phù hợp. Thông thường, các cử
tri chỉ dành sự quan tâm đến những nội
dung của dự án luật, nghị quyết khi nó
liên quan trực tiếp đến lợi ích của mình.
Theo đó, tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, các
cử tri thường phát biểu về những nội
dung cụ thể, vụ việc cụ thể, phản ánh
những bức xúc của cá nhân mình mà
ít đề cập đến những vấn đề mang tính
xây dựng chính sách. Đối với các công
việc đòi hỏi nhiều thời gian, kéo dài như
việc giám sát, đôn đốc giải quyết các
khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri
thì đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu
kiêm nhiệm không thể bao quát và thực
hiện đầy đủ, đến cùng do thiếu đội ngũ
giúp việc, tham mưu để nghiên cứu, đề
xuất các phương án... Việc tiếp công dân
chủ yếu được tiến hành bởi các đại biểu
Quốc hội chuyên trách ở các đoàn đại
biểu Quốc hội nhưng do bận công tác,
do xa địa bàn nên các đại biểu này ít có
điều kiện tham dự đầy đủ các buổi tiếp
dân theo lịch.
Trong nhiều trường hợp, mục đích
của các cuộc tiếp xúc cử tri không đạt
được. Hiện tại, mục tiêu của các cuộc
tiếp xúc cử tri chủ yếu được xác định là
nhằm thu nhận kiến nghị của các cử tri
về các nội dung của kỳ họp và thông báo
với các cử tri về kết quả của các kỳ họp.
Tuy nhiên, đối với mục tiêu thông báo
với cử tri về kết quả của kỳ họp, nhiều
đại biểu Quốc hội cho rằng bản thân họ
1.2. Về mối liên hệ giữa đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp và cử tri
Hiện nay, mối liên hệ giữa đại biểu
Hội đồng nhân dân các cấp và cử tri diễn
ra tương đối thuận lợi, gắn kết chặt chẽ
hơn, đặc biệt ở cấp cơ sở. Nhìn chung,
các cử tri có nhiều thông tin về đại biểu
và đại biểu cũng có nhiều điều kiện để
nắm bắt được ý kiến, nguyện vọng của
nhận thấy là không cần thiết do trong cử tri tại đơn vị bầu cử.
Số chuyên đề 4 - 2020 Khoa học Kiểm sát 81
NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HIỆU QUẢ DUY TRÌ MỐI LIÊN HỆ...
Trên thực tế, mục đích quan trọng hiệu quả giữ mối liên hệ giữa đại biểu
nhất của việc giữ mối liên hệ với cử tri Hội đồng nhân dân và cử tri. Trong thời
là thu hẹp khoảng cách vô hình giữa đại gian qua, hoạt động tiếp xúc cử tri của
biểu và người dân, đồng thời là phương đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã
tiện để đại biểu làm cầu nối giữa cử tri từng bước được đổi mới, bước đầu khắc
với công quyền. Tuy nhiên, từ trước tới phục tính hình thức, nâng cao chất lượng
nay, khi nói tới mối liên hệ với cử tri, và hiệu quả hoạt động, kết quả phần nào
đại biểu dân cử thường chỉ nghĩ đến các đáp ứng được yêu cầu và kỳ vọng của
kỳ tiếp xúc cử tri trước, sau kỳ họp Hội nhân dân. Vị thế và uy tín của đại biểu
đồng nhân dân và 1-2 lần tham gia tiếp ngày càng được khẳng định và năng lực
dân một tháng tại trụ sở tiếp dân của tỉnh đại diện cũng được nâng lên. Qua hoạt
theo luật định. Trong khi đó, liên hệ cử động tiếp xúc cử tri, nguyện vọng của
tri là mối liên hệ thường xuyên, không cử tri đã được phản ánh tương đối chính
chỉ trước và sau kỳ họp mà còn lồng vào xác, đóng góp tích cực vào quản lý nhà
toàn bộ chu trình ban hành chính sách, từ nước ở địa phương. Hoạt động này cũng
bước phát hiện vấn đề, đề xuất chính sách tạo ra bầu không khí dân chủ trong xã
cho đến bước cuối cùng là giám sát việc hội, tạo ra sự liên hệ chặt chẽ giữa đại
thực hiện, điều chỉnh chính sách, và quay biểu với cử tri và cơ quan nhà nước.
lại từ đầu. Chính vì vậy, các cuộc tiếp xúc
Tuy nhiên, hoạt động tiếp xúc cử tri
cử tri thường có tính tách rời, không gắn
hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như số
hoạt động liên hệ cử tri với các hoạt động
điểm tiếp xúc còn ít, đại biểu không thể
khác như giám sát, quyết định; mối liên
nắm bắt, thu thập hết ý kiến, nguyện
hệ với cử tri thường chỉ được quan niệm
vọng của nhân dân. Thời gian tiến hành
thuần túy là hoạt động tiếp xúc trực tiếp
hội nghị tiếp xúc cử tri thường diễn ra
với cử tri theo các hình thức luật định,
trong một buổi (từ 2 đến 3 giờ), trong
trong khi có thể và cần thiết phải giữ mối
đó việc đọc các báo cáo, thông báo, giới
liên hệ này qua nhiều hình thức đa dạng.
thiệu thành viên... đã chiếm gần hết 2/3
Ngoài ra, trong việc giữ mối liên hệ với
thời gian, không còn thời gian để cử tri
cử tri, vai trò cá nhân đại biểu phải nổi
có ý kiến. Các cuộc tiếp xúc theo chuyên
trội hơn tập thể cơ quan dân cử và ngay
đề, lĩnh vực còn hạn chế. Tình trạng “cử
cả trong những hình thức mà tập thể chủ
tri chuyên nghiệp”, “cử tri đại diện”,
trì, cá nhân đại biểu vẫn có thể và phải
“đại cử tri” đến tham dự hội nghị tiếp
đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, trên
xúc cử tri (theo giấy mời) diễn ra phổ
thực tế, lâu nay hoạt động liên hệ với cử
biến ở các cấp. Công tác tổng hợp, phân
tri dường như vẫn được coi là hoạt động
loại ý kiến, kiến nghị của cử tri chưa đầy
của tập thể, dẫn đến hiện tượng tập thể
đủ, thiếu kịp thời, công tác giám sát, đôn
Hội đồng nhân dân ôm đồm và chưa tạo
đốc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của
được điều kiện để cá nhân đại biểu phát
cử tri chưa được quan tâm đúng mức.
huy tính chủ động.
Một số đại biểu chưa thể hiện tốt vai trò,
Hoạt động tiếp xúc cử tri theo các trách nhiệm của mình, chưa thực sự đầu
hình thức luật định là cơ chế tiếp xúc cử tư thời gian, trí tuệ, kỹ năng và phương
tri bắt buộc và chính danh, thuận lợi cho pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả
82 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
TRƯƠNG VĨNH KHANG
tiếp xúc cử tri. Đa phần các đại biểu Hội uy tín cao trước cử tri và công luận, giúp
đồng nhân dân chưa sử dụng quyền của các đại biểu có điều kiện vật chất để hoàn
đại biểu để yêu cầu giải quyết các vấn đề
bức xúc của cử tri theo luật định, chủ yếu
ghi nhận hoặc chậm phản hồi ý kiến giải
quyết. Tình hình nói trên khiến cho hoạt
động tiếp xúc cử tri mang tính hình thức
và hiệu quả không cao, ngày càng có ít
cử tri tham gia hoạt động tiếp xúc cử tri,
giữa những lần tiếp xúc cử tri là những
khoảng trống, khoảng cách giữa đại biểu
và cử tri.
thành tốt nhiệm vụ đồng thời giúp các đại
biểu tránh được nguy cơ tham nhũng,
không bị ảnh hưởng và chi phối bởi các
“nhóm lợi ích”; hệ thống tham mưu, giúp
việc của Quốc hội chưa được chú ý đúng
mức, cá nhân đại biểu Quốc hội chưa có
bộ phận giúp việc riêng; đại biểu Quốc
hội vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp
cận thông tin, các thông tin có thể nhiều
nhưng thiếu thông tin mà đại biểu Quốc
hội cần hoặc thông tin cung cấp chưa đạt
độ “tinh”, có chất lượng cao; v.v...
1.3. Về các điều kiện đảm bảo cho hoạt
động tiếp xúc cử tri nói riêng, hoạt động
thực hiện nhiệm vụ đại diện của đại biểu
dân cử nói chung
Ở các địa phương, tại phiên họp thứ
47, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII
đã thông qua Nghị quyết số 1206/2016/
NQ-UBTVQH13 quy định về chế độ,
chính sách và các điều kiện bảo đảm hoạt
động của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Theo đó, đại biểu Hội đồng nhân dân các
cấp (đại biểu chuyên trách và đại biểu
không chuyên trách) được cung cấp tiền
lương, các hoạt động phí và các chế độ,
chính sách, các điều kiện đảm bảo hoạt
động gồm: bảo đảm chỗ làm việc, trang
thiết bị văn phòng, bảo đảm cung cấp
thông tin liên quan đến hoạt động của
Hội đồng nhân dân, bảo đảm cấp kinh
phí tiếp xúc cử tri, giám sát, công tác phí,
chăm sóc sức khỏe định kỳ, may lễ phục,
nghiên cứu, học tập, bồi dưỡng nghiệp
vụ công tác đại biểu. Tuy nhiên, trên
thực tế, việc vận dụng tại các địa phương
có nhiều sự khác nhau và nhiều vướng
mắc. Sự bất hợp lý chủ yếu nằm ở phần
kinh phí dành cho tiếp xúc cử tri và chế
độ, chính sách đối với bộ phận đại biểu
hoạt động không chuyên trách. Đặc biệt,
tại cấp xã, nhiều đại biểu cho rằng họ
Nhìn một cách tổng thể, các điều
kiện đảm bảo hoạt động của các thiết
chế đại diện đã được cải tiến rất nhiều,
đặc biệt là những điều kiện liên quan
đến xác định rõ trong luật các quyền của
đại biểu; về nơi làm việc, cơ quan làm
việc; về an ninh, an toàn cho đại biểu;
về vật chất, chế độ thù lao làm việc của
đại biểu. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành
về điều kiện đảm bảo hoạt động của đại
biểu vẫn nặng tư duy công chức và hành
chính. Trong thực tế, việc áp dụng pháp
luật khá cứng nhắc và chưa đầy đủ khiến
cho đại biểu các cơ quan dân cử vấp
phải những khó khăn nhất định trong
hoạt động: Đại biểu chưa đủ điều kiện
nguồn lực vật chất, tài chính để có khả
năng làm việc độc lập, trong đó chưa có
chế độ chi dành cho đại biểu Quốc hội
với trách nhiệm là một chủ thể có thẩm
quyền giám sát ở phương diện cá nhân
so với các chủ thể có thẩm quyền khác;
chưa có cơ chế cụ thể về công khai, rõ
ràng, minh bạch, có thể kiểm soát được
đối với các khoản lương và thu nhập của hoạt động chủ yếu bằng tinh thần trách
đại biểu nhằm bảo đảm cho đại biểu có nhiệm, bằng niềm tin.
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 83
NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HIỆU QUẢ DUY TRÌ MỐI LIÊN HỆ...
2. Một số giải pháp cấp bách
phải nắm bắt được các hoạt động của
đại biểu, có cơ sở để nhận biết đại biểu
do mình bầu ra trong thời gian nửa năm
hoặc hàng năm đã thực hiện những
nhiệm vụ gì (bao gồm cả nhiệm vụ của
đại biểu, nhiệm vụ, quyền hạn khác mà
đại biểu được giao trong trường hợp
đại biểu hoạt động không chuyên trách,
kiêm nhiệm các chức vụ khác trong hệ
thống chính trị...). Theo đó, định kỳ nửa
năm hoặc hàng năm, đại biểu cần có báo
cáo về nội dung này. Các thông tin này
nên được cập nhật thường xuyên trong
Websites của các Đoàn đại biểu Quốc hội
ở địa phương cùng với các thông tin về
hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội
mà đại biểu Quốc hội là thành viên, cũng
như các trang thông tin điện tử về hoạt
động của Hội đồng nhân dân và các hình
thức thông tin khác tại địa phương. Về
nội dung, thông tin về hoạt động của
đại biểu trên các lĩnh vực hoạt động của
đại biểu gắn với các chức năng của Quốc
hội và Hội đồng nhân dân, trong đó chú
trọng việc thường xuyên cập nhật tình
hình xử lý đơn thư kiến nghị của công
dân gửi đến đại biểu, thậm chí cần phải
cập nhật theo quá trình giải quyết vụ
việc, hàng tháng, hàng quý...
2.1. Bảo đảm mối liên hệ có tính ràng
buộc của đại biểu trước cử tri, nâng cao
hiệu quả trách nhiệm giải trình
Trước mắt, cần đổi mới mạnh mẽ
mối liên hệ của đại biểu với cử tri tại
đơn vị bầu cử, khắc phục tình trạng đại
biểu quan liêu, xa rời trước những lợi
ích, nguyện vọng, bức xúc của nhân dân
nơi bầu ra mình mà chỉ đại diện chung
chung, tình trạng cử tri không biết mặt
đại biểu của mình, khi cần thiết không
biết kêu ai, tình trạng đại biểu tiếp xúc
“đại diện cử tri” như hiện nay. Theo đó,
cần yêu cầu mỗi đại biểu phải xếp lịch
cố định hằng tháng tiếp cử tri tối thiểu
là 01 buổi đối với những cử tri có yêu
cầu, gặp gỡ cử tri theo chuyên đề, thông
báo công khai lịch tiếp xúc cử tri hàng
tháng, hàng quý, hàng năm; tiếp tục đổi
mới hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu
theo hướng tổ chức để từng đại biểu tiếp
xúc cử tri, báo cáo với cử tri về việc thực
hiện nhiệm vụ của đại biểu; tăng cường
tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực,
đối tượng, nhất là trong những trường
hợp tại địa phương mà đại biểu ứng cử
nổi lên những vấn đề bức xúc, nổi cộm
liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người dân ở địa phương; thực hiện
dân chủ, hiệu quả việc tổ chức lấy ý kiến
góp ý của cử tri vào các dự án luật, dự án
khác tại các cuộc tiếp xúc; sử dụng công
nghệ thông tin để mở rộng hình thức tiếp
nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri đối với
các hoạt động của Quốc hội và Hội đồng
nhân dân.
Xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ
chế đại biểu “chịu trách nhiệm” trước
cử tri. Trường hợp đại biểu không thực
hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu (như vắng
mặt liên tục trong các cuộc tiếp xúc cử tri
định kỳ từ 03 lần trở lên mà không có lý
do chính đáng; v.v...) hay có những căn
cứ, bằng chứng khác cho thấy đại biểu
không còn xứng đáng với sự tín nhiệm
của cử tri (như có quá nhiều tài sản mà
không lý giải hợp lý được về nguồn gốc
Cần tăng cường hoạt động báo cáo,
giải trình trước cử tri. Để cử tri có thể
giám sát, đánh giá được hoạt động của hợp pháp của tài sản, có tài sản ở nước
đại biểu, điều kiện tiên quyết là cử tri ngoài... mà không báo cáo cơ quan, tổ
84 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
TRƯƠNG VĨNH KHANG
chức có thẩm quyền...) thì cử tri có thể
2.2. Xác lập các thủ tục pháp lý minh
yêu cầu thực hiện thủ tục bãi nhiệm đối bạch, công khai cho việc thực hiện trách
với cá nhân đại biểu đó.
nhiệm đại biểu tiếp xúc cử tri, báo cáo
trước cử tri và quy định về trình tự bãi
nhiệm đại biểu bởi cử tri
Liên quan đến hình thức bãi nhiệm đại
biểu bởi cử tri, hiện có hai luồng ý kiến
khác nhau: (1) Cần bãi bỏ quy định các cử
Việc cần làm ngay là tiến hành quy
tri được bãi nhiệm đại biểu (cụ thể là đại chế hóa chế độ tiếp xúc cử tri theo hướng
tạo ra nhiều thuận lợi cho việc cử tri gặp
đại biểu tại địa bàn đơn vị bầu cử, trách
nhiệm “thường xuyên” và mọi lúc khi có
yêu cầu của cử tri, trách nhiệm bắt buộc
của đại biểu thực hiện yêu cầu tiếp xúc
và lắng nghe ý kiến của cử tri mà không
nhất thiết chỉ là trước và sau kỳ họp. Các
quy trình, thủ tục cho hoạt động tiếp
xúc cử tri cần cụ thể, minh bạch và được
pháp lý hóa trong Quy chế hoạt động của
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng
nhân dân.
biểu Quốc hội). Ý kiến này cho rằng, quyền
của cử tri bãi nhiệm đại biểu có ưu điểm
là tăng cường trách nhiệm của đại biểu
trước cử tri nhưng việc ghi nhận quyền bãi
nhiệm người đại diện có nhiều điểm không
phù hợp với loại quan hệ mang tính chính
trị - pháp lý như giữa cử tri với đại biểu
Quốc hội. Ngoài ra, đại biểu Quốc hội do
các cử tri ở một khu vực bầu cử nhất định
bầu ra nhưng họ không chỉ đại diện cho
các cử tri ở khu vực đó mà còn là đại diện
cho cử tri trên cả nước. Do vậy, việc trao
cho cử tri ở một khu vực bầu cử, trên cơ
sở xét đoán về quá trình thực hiện nhiệm
vụ của đại biểu, có quyền bãi nhiệm người
đại biểu của cả nước là không hợp lý về
mặt lý luận và khó khăn trên thực tế. (2)
Cần duy trì quy định quyền của các cử tri
trong việc bãi nhiệm đại biểu khi không
còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân
dân, đồng thời cần ban hành Nghị quyết
quy định cụ thể trình tự để cử tri bãi nhiệm
đại biểu. Ý kiến này dựa trên nguyên lý rất
căn bản về tính chịu trách nhiệm của đại
biểu trước cử tri, đại biểu do ai bầu ra và
ủy quyền lực thì sẽ bị hủy bỏ quyền lực,
rút lại tư cách đại biểu bởi chính người đã
bầu ra và ủy quyền lực cho họ. Ý kiến này
phản ánh đúng bản chất của chế độ dân
chủ đại diện, vì vậy cần được ủng hộ ở
nước ta hiện nay. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ là
Cơ chế bãi nhiệm đại biểu bởi cử tri
đã được pháp luật nước ta ghi nhận và
cần được duy trì. Để thực hiện quyền
này, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 và
Luật Tổ chức Chính quyền địa phương
năm 2015 đều dành cho Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định chi tiết về trình tự
tiến hành. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn
tồn tại khoảng trống pháp lý về vấn đề
này khiến cho quyền của cử tri chưa thể
thực hiện. Trong thời gian tới, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội cần khẩn trương
ban hành Nghị quyết để quy định rõ cơ
chế để cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân.
2.3. Nâng cao phẩm chất và năng lực
hoạt động đại diện của đại biểu
Cần khẩn trương xây dựng Bộ Quy
cần có quy định rõ về các trường hợp cụ tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp của
thể và cách thức, thủ tục để cử tri có thể đại biểu. Xét tổng thể, Bộ quy tắc ứng
thực hiện được quyền của mình trong bãi xử và đạo đức nghề nghiệp của đại biểu
nhiệm đại biểu.
thuộc cơ quan dân cử cần nhấn mạnh đến
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 85
NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HIỆU QUẢ DUY TRÌ MỐI LIÊN HỆ...
các phẩm chất/yêu cầu sau đây: (i) Không trợ cho hoạt động của đại biểu về nhân
vị kꢀ. Các đại biểu phải luôn soi chiếu lực (bộ máy giúp việc), về trụ sở tiếp cử
vào lợi ích công khi thực hiện nhiệm vụ, tri, phương tiện giao thông, liên lạc… theo
không được lợi dụng chức vụ vì lợi ích hướng đặt trách nhiệm đó vào các cơ quan
kinh tế hoặc những lợi ích khác cho bản hành pháp ở trung ương và địa phương
thân, gia đình và bạn bè họ, tránh xung hoặc Văn phòng Quốc hội, Văn phòng
đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công. Đoàn đại biểu Quốc hội tại các địa phương.
(ii) Tính liêm chính. Các đại biểu không
được liên quan tới bất kỳ một nghĩa vụ tài
chính hoặc nghĩa vụ nào khác với những
cá nhân hoặc tổ chức bên ngoài, những
bên có thể tìm cách gây ảnh hưởng với họ
trong công việc công. (iii) Trách nhiệm giải
trình. Đại biểu phải chịu trách nhiệm giải
2.4. Tăng cường mối liên hệ giữa
cơ quan đại diện, đại biểu với các nhà
chuyên môn, các nhà khoa học, truyền
thông và báo chí
Để phát huy dân chủ đại diện, cần
khắc phục tình trạng làm chính sách và
xây dựng pháp luật chỉ dựa trên phạm vi
trình về những quyết định và hành động
và năng lực tự thân của đại biểu, thiếu sự
của mình trước công chúng và phải chấp
kết hợp, thu hút ý kiến của các giới khác
thuận mọi hình thức giám sát phù hợp.
nhau. Do vậy, một trong những yêu cầu
hiện nay là phải hoàn thiện cơ chế để đại
(iv) Công khai. Đại biểu phải công khai đến
hết mức có thể về các quyết định và hành
biểu có điều kiện thuận lợi về mặt thông
động của mình. Họ phải đưa ra các lý do
tin, tư liệu, ý kiến tư vấn của chuyên gia,
cho quyết định của mình và chỉ được hạn
nhà khoa học... đối với những nội dung
chế thông tin khi lợi ích của đông đảo công
nhiệm vụ chuyên môn.
chúng đòi hỏi. (v) Trung thực. Đại biểu có
bổn phận phải công bố bất kỳ một lợi ích cá
nhân nào liên quan tới hoạt động công của
mình và phải có biện pháp giải quyết bất
kỳ xung đột lợi ích nào phát sinh theo cách
có lợi cho công chúng. Trong bối cảnh chưa
có Bộ quy tắc ứng xử, mỗi đại biểu cơ quan
dân cử vẫn có thể tự đặt ra cho mình và tự
nguyện tuân thủ những quy tắc như vậy,
trong đó những yếu tố quan trọng nhất là
trung thực với cử tri, tránh xung đột lợi ích
và tránh những hành vi tham nhũng.
Cơ chế này cần được xây dựng, tổ
chức thực hiện một cách đồng bộ, toàn
diện trên các khía cạnh sau:
- Các quy trình, thủ tục liên quan đến
việc gửi tài liệu phục vụ các phiên họp
của cơ quan đại diện, các cơ quan của
Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các cơ
quan của Hội đồng nhân dân cũng như
việc cung cấp, gửi tài liệu theo yêu cầu
của đại biểu cần được hoàn thiện và thực
hiện một cách nghiêm túc trong thực tế.
Để giúp các đại biểu làm tốt hoạt động lập
Tăng cường bồi dưỡng kiến thức và kỹ
năng cho đại biểu. Đối với mỗi nhiệm kỳ, pháp hay thảo luận, quyết định về các dự
cần phân loại nhóm đối tượng bồi dưỡng, án tại địa phương, cần cung cấp hệ thống
khảo sát đánh giá các nhu cầu bồi dưỡng tài liệu, tư liệu thông tin kịp thời cho các
của từng đại biểu, từ đó xây dựng và thực đại biểu trong nhiệm kỳ, từng năm và kỳ
hiện chương trình bồi dưỡng và cuối cùng họp. Tài liệu kỳ họp phải sớm đến tay đại
là phải theo dõi, đánh giá hiệu quả bồi biểu để các đại biểu có thời gian nghiên
dưỡng. Đồng thời, cần tăng cường sự hỗ cứu, đóng góp.
86 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
TRƯƠNG VĨNH KHANG
- Xác lập định mức về tài chính để đại cử tri, nâng cao phẩm chất và năng lực
biểu có thể sử dụng để thuê chuyên gia
hoặc nhà khoa học trợ giúp về chuyên
môn. Để thực hiện tốt nội dung này, cần
có nguồn lực kinh phí hợp lý dành cho
hoạt động đại biểu. Đối với đại biểu Quốc
hội, không nên thực hiện cơ chế áp dụng
định mức cố định (mỗi đại biểu 50 triệu
đồng/năm) như hiện nay mà nên xem
xét áp dụng định mức đối với mỗi dự án
trong Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh của năm đó (chẳng hạn áp dụng
mức khoán chi từ 25-40 triệu đồng/dự án
thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh) để góp phần hỗ trợ, giúp đại biểu
Quốc hội có thể chủ động trong việc thuê
khoán chuyên gia, nhà khoa học hỗ trợ về
chuyên môn. Đối với đại biểu Hội đồng
nhân dân, nên bố trí một khoản kinh phí
cố định và một khoản kinh phí hỗ trợ khi
xuất hiện những yêu cầu đột xuất trong
hoạt động đại biểu.
hoạt động đại diện của đại biểu, tăng
cường mối liên hệ giữa cơ quan đại diện,
đại biểu với các nhà chuyên môn, các
nhà khoa học, truyền thông và báo chí là
những yếu tố góp phần nâng cao năng
lực và hiệu quả duy trì mối liên hệ giữa
đại biêủ và cử tri của đại biểu dân cử ở
Việt Nam hiện nay. Thực hiện được các
giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu
lực hiệu quả hoạt động của đại biểu quốc
hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân,
hoàn thiện quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do
dân và vì dân./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị
quốc gia,
2. Hiến pháp 1946, 1980, 1992, 2013
- Cần tạo điều kiện và khuyến khích
để cơ quan đại diện và các đại biểu tiếp
cận với thực tế, tham gia vào các hoạt
động khoa học, có nhiều thời gian tiếp
xúc với các chuyên gia, nhà khoa học, cán
bộ hoạt động thực tiễn, các cơ sở đào tạo,
nghiên cứu có uy tín, tin cậy; các doanh
nghiệp, các đối tượng chịu sự điều chỉnh
các văn bản pháp luật... để tổng hợp, so
sánh và phản ánh được tính khách quan
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính
trị Quốc Gia, Hà Nội 2011.
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà
Nội, 2016
5. Andrew Reynolds, Ben Reilly, An-
drew Ellis (2005), Electoral System Design: The
trong các dự án luật. Ở chiều ngược lại, New International IDEA Handbook, Interna-
cần động viên, khuyến khích, tôn vinh
các nhà chuyên môn, các nhà khoa học,
truyền thông và báo chí có nhiều đóng
góp trong hoạt động của cơ quan đại
diện và hoạt động của đại biểu.
tional IDEA,
6. Luận án tiến sĩ luật học: “Quản trị địa
phương ở các nước châu Âu: Anh, Pháp, Đức và sự
tiếp thu kinh nghiệm cho Việt Nam”, Hà Nội, 2019.
7. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ: “Cơ
chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt
Nam” Chủ nhiệm PGS. TS. Nguyễn Thị Việt
Như vậy, nâng cao hiệu quả trách
nhiệm giải trình, xác lập các thủ tục
pháp lý minh bạch, công khai cho việc
thực hiện trách nhiệm đại biểu tiếp xúc Hương, Hà Nội, 2019.
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 87
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực và hiệu quả duy trì mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri của đại biểu dân cử ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_nang_luc_va_hieu_qua_duy_tri_moi_lien_he_giua_dai_b.pdf

