Bảo đảm quyền bình đẳng của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA BỊ CÁO  
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN  
NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
Võ Quốc Tuấn*  
* TS. Chánh án Tòa án Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bào chữa và người  
tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng  
cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của  
vụ án. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đánh giá thực trạng và đề xuất  
một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của bị cáo trong xét xử  
sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân.  
Từ khóa: Bảo đảm quyền bình  
đẳng, tố tụng hình sự, xét xử sơ  
thẩm, vụ án hình sự.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 29/01/2021  
: 02/02/2021  
: 04/02/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The Law on Criminal Procedure of 2015 stipulates that the defense  
counsels and other participants in legal proceedings have equal rights  
to present evidences, review evidences, and give out the requests to  
clarify the objective truths of cases, judgment. Under the scope of this  
article, the author gives out assessements of the current situation and  
proposes a number of solutions to ensure the accused's equal rights in  
the first-instance trial of a criminal case of the People's Court.  
Keywords: Ensurance of equal  
rights, criminal proceedings,  
first-instance trial and criminal  
cases.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 29 Jan. 2021  
: 02 Feb. 2021  
: 04 Feb. 2021  
Approved  
1. Quan niệm về quyền bình đẳng của bị  
cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự  
cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.  
Ở đây, quyền bình đẳng được hiểu là mỗi  
bên, khi tham gia quá trình xét xử, đều có cơ  
hội ngang bằng nhau để nêu lên quan điểm  
của mình và không bên nào được hưởng bất  
kỳ sự thiên vị thuận lợi nào hơn so với bên  
còn lại1. Tại phiên tòa, dù là bị cáo hay bị  
hại cũng như những người có liên quan có tư  
cách khác nhau đều có cơ hội và quyền năng  
ngang nhau trong việc đưa ra chứng cứ, tài  
Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013  
quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước  
pháp luật”. Trong tố tụng hình sự (TTHS)  
nguyên tắc hiến định này được cụ thể hóa tại  
Điều 26 Bộ luật TTHS năm 2015. Theo đó,  
người bào chữa và người tham gia tố tụng  
khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa  
ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu  
1. Xem Hoàng Hùng Hải (2012), Bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trong xét xử hình sự ở Việt Nam hiện  
nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr.33.  
26  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân  
chủ trước phiên tòa. Tuy nhiên, trong xét xử  
vụ án hình sự của Tòa án nhân dân (TAND),  
cốt lỗi của quyền bình đẳng là quyền của bên  
buộc tội và bên gỡ tội có cơ hội, điều kiện  
như nhau để bảo vệ mình mà không có bất  
kỳ sự phân biệt nào. Để quyền bình đẳng  
được bảo đảm thực hiện, Hội đồng xét xử  
(HĐXX), Kiểm sát viên (KSV), người bào  
chữa và các chủ thể khác phải thực hiện đúng  
nghĩa vụ của mình2.  
Bốn là, bị cáo có quyền bình đẳng  
trong việc đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi  
hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa  
nếu được chủ tọa đồng ý.  
Năm là, khi có căn cứ cho thấy người  
tiến hành tố tụng không vô tư, khách quan  
trong giải quyết vụ án thì bị cáo có quyền  
yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng.  
2. Thực trạng bảo đảm quyền bình đẳng  
của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án  
hình sự của Tòa án nhân dân ở Việt Nam  
Bảo đảm quyền bình đẳng của bị cáo  
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của  
TAND là việc ghi nhận quyền bình đẳng  
của bị cáo bằng pháp luật. Đồng thời, các  
chủ thể tham gia tố tụng phải có trách  
nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật  
về quyền của bị cáo; ngăn ngừa sự xâm  
phạm, bảo vệ quyền của bị cáo trong xét  
xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bảo đảm quyền  
bình đẳng của bị cáo còn phải tạo ra các  
điều kiện cần thiết, tốt nhất để bị cáo thực  
hiện quyền của bị cáo một cách đầy đủ,  
hiệu quả nhất và không bị xâm phạm trong  
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.  
Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Luật  
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật  
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014,  
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm  
2015… đã cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm  
quyền bình đẳng của bị cáo; quy định nhiệm  
vụ, quyền hạn của HĐXX, KSV, người bào  
chữa, người phiên dịch, người giám định,  
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ  
quan tiến hành tố tụng để bảo đảm quyền  
bình đẳng của bị cáo. Bảo đảm quyền bình  
đẳng của bị cáo còn được ghi nhận ở các  
quy định về chứng cứ và quá trình đánh giá  
chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình  
sự; về các biện pháp ngăn chặn trong tố  
tụng hình sự; về trình tự, thủ tục tiến hành  
phiên tòa; về khiếu nại tố cáo trong tố tụng  
hình sự...  
Nội dung bảo đảm quyền bình đẳng của  
bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm:  
Một là, bị cáo có quyền bình đẳng  
trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật,  
yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa.  
Thực tiễn cho thấy, ở hầu hết các phiên  
tòa xét xử vụ án hình sự, HĐXX đã quan  
tâm và tạo điều kiện cho bị cáo trong việc  
trình bày các quan điểm, ý kiến của mình  
về các tình tiết của vụ án; cơ quan báo chí  
cũng được Chủ tọa phiên tòa tạo điều kiện  
để thông tin về các hoạt động tại phiên tòa  
kịp thời, bảo đảm phiên tòa diễn ra công  
khai với sự giam sát của nhân dân; quyền  
được bào chữa, quyền được công khai xét  
xử được tuân thủ.  
Hai là, bị cáo có quyền bình đẳng trong  
việc đánh giá chứng cứ, đưa ra các yêu cầu  
làm rõ các chứng cứ đã thu thập được và  
yêu cầu thu thập thêm chứng cứ mới.  
Ba là, bị cáo có quyền bình đẳng trong  
việc trình bày lời khai, trình bày ý kiến,  
không buộc phải đưa ra lời khai chống lại  
chính mình hoặc buộc phải nhận mình có  
quyền tranh luận trước tòa.  
2. Xem Nguyễn Đức Hạnh (2015), Nguyên tắc bình đẳng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam: những vấn đề  
lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện KHXH Việt Nam, Hà Nội, tr.60-62.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
27  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Việc tổ chức phiên tòa theo tinh thần  
cải cách tư pháp đã thể hiện sự trang  
nghiêm, bình đẳng giữa các bên, tạo tâm lý  
thuận lợi cho luật sư khi tranh tụng. Hàng  
năm, các bản án hình sự của Tòa án cấp  
sơ thẩm đã tuyên nhìn chung đều đảm bảo  
đúng pháp luật, bảo đảm tính khách quan,  
công bằng, bảo đảm các quyền của bị cáo,  
việc tranh tụng tại các phiên tòa được thực  
thi nghiêm túc... Tỷ lệ các bản án, quyết  
định bị hủy, sửa do lỗi của Tòa án cấp sơ  
thẩm giảm dần qua các năm (năm 2016  
là 1,3%; năm 2017 là 1,2%; năm 2018 là  
1,14%3; năm 2019 là 1,09%. Việc xét xử  
các vụ án hình sự đảm bảo đúng người,  
đúng tội, đúng pháp luật4.  
có nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến…  
nếu vắng mặt theo yêu cầu của người tiến  
hành tố tụng thì không chịu tác động của  
chế tài nào).  
- Việc thực hiện quyền tiếp cận dịch vụ  
pháp lý của bị cáo góp phần thực hiện quyền  
bình đẳng tại phiên tòa. Theo đó, BLTTHS  
năm 2015 quy định người bào chữa có  
nhiều quyền từ việc gặp gỡ người bị buộc  
tội (trong đó có bị cáo); có mặt trong hoạt  
động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng  
nói và hoạt động điều tra; xem biên bản về  
hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình,  
quyết định tố tụng liên quan đến người mà  
mình bào chữa… (khoản 1 Điều 73). Tuy  
nhiên, những quy định trên đây chưa thực  
sự có ý nghĩa đối với người bào chữa và bị  
cáo. Bởi vì, khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm  
2015 quy định: “Những gì có thật nhưng  
không được thu thập theo trình tự, thủ tục  
do Bộ luật này quy định thì không có giá trị  
pháp lý và không được dùng làm căn cứ để  
giải quyết vụ án”.  
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc  
bảo đảm quyền bình đẳng của bị cáo trong  
hoạt động xét xử vụ án hình sự của TAND  
còn hạn chế, bất cập sau:  
Thứ nhất, về quy định của pháp luật:  
- Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã bổ  
sung nhiều quy định bảo đảm quyền bình  
đẳng của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự  
(Điều 9, Điều 26, Điều 42, Điều 257). Tuy  
nhiên, quyền năng của những người tiến  
hành tố tụng vẫn được coi trọng hơn người  
bào chữa (Điều 307, 309); thời gian nghị  
án của HĐXX chưa được quy định cụ thể  
(Điều 326); chưa bảo đảm quyền bình đẳng  
giữa bị cáo và các chủ thể khác (bị cáo có  
thể bị áp giải trong trường hợp cố ý vắng  
mặt, hoặc không đến làm việc theo yêu cầu  
của người có thẩm quyền tố tụng mà không  
vì lý do bất khả kháng hoặc không có trở  
ngại khách quan nào (điểm a khoản 3 Điều  
60; điểm a khoản 3 Điều 61; điểm a khoản 4  
Điều 62 Bộ luật TTHS năm 2015), trong khi  
các chủ thể khác như bị đơn dân sự, người  
- Pháp luật quy định luật sư của bên bị  
cáo có quyền thu thập tài liệu, chứng cứ liên  
quan đến việc thực hiện quyền bào chữa  
nhưng việc tiếp nhận, kiểm tra và đánh giá  
tài liệu, chứng cứ lại do cơ quan tiến hành tố  
tụng quyết định (khoản 4 Điều 88 BLTTHS  
năm 2015). Điều này cho thấy, luật sư,  
người bào chữa cho bên bị cáo chưa thực sự  
bình đẳng với bên buộc tội.  
- Theo quy định của BLTTHS năm  
2015, chỉ pháp nhân thương mại nào phạm  
tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ  
luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.  
Trong khi đó, khái niệm pháp nhân rất rộng.  
Một tổ chức trở thành pháp nhân khi có các  
điều kiện được quy định tại Điều 74 của Bộ  
3. Tòa án nhân dân tối cao (2019), Báo cáo tóm tắt công tác tòa án từ đầu nhiệm kỳ đến nay và năm 2018 –  
nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, tr.2.  
28  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
luật Dân sự năm 2015. Như vậy, quy định  
của BLTTHS năm 2015 về trách nhiệm  
hình sự đối với pháp nhân thương mại so  
với pháp nhân phi thương mại cũng mới chỉ  
căn cứu vào mục đích “thương mại” để xử  
lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân cũng  
chưa thỏa đáng.  
áp dụng quy định này cho thấy, có những  
bị cáo sử dụng được tiếng Việt nhưng hạn  
chế hơn so với các chủ thể tham gia tố tụng  
khác. Nếu pháp luật không có hướng dẫn cụ  
thể hơn về mức độ “sử dụng tiếng Việt” của  
những người tham gia tố tụng để làm căn cứ  
cử người phiên dịch, dịch thuật thì không  
bảo đảm được quyền bình đẳng cho các chủ  
thể trong đó có quyền của bị cáo.  
- BLTTHS năm 2015 không quy định  
về biện pháp áp dụng trách nhiệm đối với  
những trường hợp KSV không thực hiện  
nghĩa vụ đối đáp tại phiên tòa để làm rõ sự  
thật khách quan của vụ án là chưa bảo đảm  
nguyên tắc bình đẳng trong xét xử vụ án  
hình sự.  
Thứ hai, về việc thực hiện trách nhiệm  
của các chủ thể tiến hành tố tụng:  
- Khi xét hỏi, có trường hợp KSV còn  
có định kiến với bị cáo, coi họ đã là tội phạm,  
chưa quán triệt nguyên tắc suy đoán vô tội;  
có trường hợp KSV chưa tích cực, chủ động  
trong việc xét hỏi mà coi việc xét hỏi là  
nhiệm vụ chính của Chủ tọa phiên tòa.  
- Khoản 6 Điều 183 BLTTHS năm  
2015 quy định “Việc hỏi cung bị can tại  
cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan  
điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến  
hành một số hoạt động điều tra phải được  
ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc  
hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi  
âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu  
cầu của bị can hoặc của cơ quan, người  
có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Tuy  
nhiên, phương tiện này vẫn do cơ quan tố  
tụng chủ trì và khi không có ống kính máy  
quay nữa thì cũng khó bảo đảm không có  
gì bất lợi cho người bị tạm giữ, điều tra  
(ví dụ, trong vụ án Hồ Duy Hải, tang vật  
được xem là hung khí giết người là con  
dao được mua về từ chợ theo mô tả tự thú  
của bị can - trong trường hợp này, việc ghi  
âm, ghi hình là không có ý nghĩa)5.  
- Khi phát biểu ý kiến về phiên tòa, có  
trường hợp KSV không căn cứ vào kết quả  
xét hỏi mà căn cứ vào bản cáo trạng đã truy  
tố bị cáo, mặc dù kết quả xét hỏi tại phiên  
toà đã có nhiều nội dung không đúng với  
bản cáo trạng.  
- Ở một số vụ án, HĐXX chưa điều hành  
tốt quá trình tranh luận giữa các bên; chưa  
thực sự chú ý đến những tình tiết, chứng cứ  
mới của vụ án nên những mâu thuẫn trong  
chứng cứ và lời khai chưa được làm sáng tỏ.  
Mặc dù BLTTHS năm 2015 quy định khi xét  
xửThẩm phán và Hội thẩm nhân dân (HTND)  
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng có  
trường hợp, Thẩm phán, HTND có tâm lý  
trông chờ vào Chủ tọa phiên tòa, không lắng  
nghe việc tranh luận giữa bên buộc tội và bên  
gỡ tội. Các tình tiết quan trọng và chứng cứ  
gỡ tội mà người bào chữa đưa ra thường ít  
được HĐXX quan tâm xem xét, chấp nhận  
và ít được đề cập trong bản án. Có trường hợp  
KSV vì chưa chuẩn bị tốt việc tranh luận tại  
phiên tòa, không dự đoán được một số tình  
- Khoản 1 Điều 70 BLTTHS năm 2015  
quy định “Người phiên dịch, người dịch  
thuật là người có khả năng phiên dịch,  
dịch thuật được cơ quan có thẩm quyền  
tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường  
hợp người tham gia tố tụng không sử dụng  
được tiếng Việt, hoặc có tài liệu không thể  
hiện bằng tiếng Việt”. Tuy nhiên, thực tiễn  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
29  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
huống xảy ra nên khi bị cáo và người bào  
chữa có những chứng cứ mới thì KSV trở nên  
bị động và lúng túng, né tránh những vấn đề  
mà bên gỡ tội nêu ra trái với quan điểm của  
KSV, hoặc trả lời không đi thẳng vào trọng  
tâm của vấn đề đang tranh luận.  
bổ sung để đình chỉ điều tra, ảnh hưởng đến  
quyền lợi của người bị oan; có vụ án HĐXX  
cấp sơ thẩm đã quá nhấn mạnh đến mức độ và  
tính nhất nguy hiểm của hành vi phạm tội, do  
đó tuyên phạt bị cáo với mức án quá nghiêm  
khắc không bảo đảm quyền bình đẳng của  
bị cáo; một số trường hợp chưa thực hiện tốt  
các hoạt động trong phần nghị án và tuyên  
án; có vụ án “biên bản phiên tòa, biên bản  
nghị án còn sơ sài, hình thức, không đúng  
với phần quyết định của bản án, khi nghị án  
không thảo luận và biểu quyết về điều khoản  
áp dụng xử phạt bị cáo, án phí, trách nhiệm  
dân sự, xử lý vật chứng”8. Trên thực tế, “một  
số vụ án, hoạt động nghị án của HĐXX bị  
can thiệp, làm trái quy định của BLTTHS,  
ảnh hưởng, xâm hại đến quyền, lợi ích của bị  
cáo và các bên có liên quan. Có trường hợp  
chánh án yêu cầu buộc Thẩm phán phải dừng  
việc tuyên án, thực chất là đã can thiệp đến  
hoạt động của HĐXX”9.  
- Điều 257 BLTTHS năm 2015 quy định  
“Luật sư có vị trí ngồi ngang bằng với KSV  
tại phiên tòa”, nhưng trên thực tế, ở nhiều  
phiên tòa xét xử vụ án hình sự, ý kiến của luật  
sư phần nhiều vẫn chưa có ý nghĩa ràng buộc  
đối với HĐXX6. Nhiều trường hợp HĐXX  
ưu tiên hơn cho KSV, hạn chế quyền tranh  
luận của người bào chữa bảo vệ cho bị cáo.  
Quyền bào chữa của bị cáo là phương tiện,  
công cụ để bị cáo bảo vệ quyền của mình,  
nhưng trên thực tế vẫn chưa thực sự được  
coi trọng. Trên thực tế, có nhiều trường hợp  
“luật sư chậm nhận được thông báo đăng ký  
bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
mặc dù luật đã quy định khá chi tiết về thời  
hạn giải quyết thủ tục đăng ký bào chữa tại  
khoản 4 Điều 78 BLTTHS năm 2015. Việc  
thông báo này thường bị quá hạn với nhiều  
lý do khác nhau từ phía cơ quan tiến hành tố  
tụng, góp phần làm khó luật sư”7.  
3. Một số giải pháp bảo đảm quyền bình  
đẳng của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ  
án hình sự của Tòa án nhân dân ở Việt  
Nam hiện nay  
Từ thực trạng nêu trên, tác giả cho  
rằng, để bảo đảm quyền bình đẳng của bị  
cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của  
Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay cần  
thực hiện một số giải pháp sau:  
- Khi nghị án và tuyên án: có vụ án  
HĐXX cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng  
tình tiết giảm nhẹ khung hình phạt cho bị  
cáo, áp dụng tội danh sai, hoặc có trường hợp  
đủ căn cứ tuyên bị cáo vô tội, nhưng Tòa án  
không tuyên vô tội mà lại trả hồ sơ điều tra  
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về  
thực hiện nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu  
6. Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy định về phòng xử án. Thông tư này đã góp phần bảo đảm nguyên  
tắc tranh tụng theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 cũng như nguyên tắc bảo đảm sự  
bình đẳng của các bên trong tranh tụng, qua đó góp phần bảo đảm quyền bình đẳng của bị cáo tại phiên tòa.  
7. Lê Minh Đức (2020), Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở  
Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr.109.  
8. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2015), Báo cáo kết quả giám sát về “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về  
hình sự, TTHS và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan, sai trong hoạt động TTHS theo quy định của pháp luật”  
của Quốc hội khóa XIII, tr.14.  
9. Võ Quốc Tuấn, Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án  
nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,  
Hà Nội, 2017, tr.97.  
30  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng của những người tham gia tố tụng khác  
như bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên  
quan, người chứng kiến trong BLTTHS năm  
2015. Cụ thể, cần bổ sung điểm a khoản 3  
của các Điều 64, Điều 65, Điều 67 BLTTHS  
năm 2015 với nội dung “Trường hợp cố ý  
vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng  
hoặc không do trở ngại khách quan và việc  
vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải  
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều  
tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải”.  
Tòa án nhân dân tối cao cần có văn bản  
hướng dẫn thực hiện quy định về quyền  
được sử dụng tiếng nói và chữ viết trong  
TTHS để đảm bảo quyền bình đẳng của bị  
cáo tại phiên tòa. Cụ thể, cần có hướng dẫn  
rõ hơn về mức độ sử dụng tiếng Việt của  
những người tham gia phiên tòa tại Điều 23,  
Điều 70, Điều 263 BLTTHS năm 2015.  
Thứ năm, sửa đổi, bổ sung quy định về  
tiêu chuẩn và điều kiện tuyển chọn và bổ  
nhiệm Thẩm phán trong Luật Tổ chức Tòa  
án nhân dân năm 2014. Cụ thể, ngoài những  
tiêu chuẩn chung đối với Thẩm phán (Điều  
67), điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp,  
Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp  
(Điều 68), Thẩm phán Tòa án nhân dân tối  
cao (Điều 69), việc bổ nhiệm Thẩm phán  
cần đánh giá năng lực công tác và kết quả  
hoạt động thực tiễn của Thẩm phán. Trước  
khi bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm Thẩm phán,  
cần tiến hành thi tuyển nghiệp vụ xét xử,  
hoặc thời gian 05 năm một lần tiến hành sát  
hạch đối với đội ngũ Thẩm phán để sàng  
lọc những Thẩm phán yếu kém về trình độ  
chuyên môn và nghiệp vụ. Việc sát hạch  
phải tiến hành khách quan, công khai và  
công bằng thông qua việc xử lý các tình  
huống cụ thể mà Thẩm phán phải giải quyết  
trong quá trình xét xử.  
Thứ hai, ban hành văn bản hướng dẫn  
bảo đảm thực hiện thống nhất một số quy  
định của BLTTHS năm 2015 như: quy định  
về trình tự xét hỏi (Điều 309); quy định cụ  
thể trách nhiệm của HĐXX, KSV và người  
bào chữa (Điều 320; Điều 322), thời gian và  
giám sát hoạt động nghị án của HĐXX (Điều  
326), yêu cầu về nội dung biên bản nghị án  
để hoạt động nghị án phản án đúng trình tự,  
nội dung thảo luận của HĐXX khi nghị án.  
Thứ sáu, nâng cao chất lượng công tác  
đào tạo, bồi dưỡng cho KSV về kỹ năng  
xét hỏi, tranh tụng, đề cao trách nhiệm của  
KSV đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng  
của bị cáo tại phiên tòa. Ngành Kiểm sát và  
các cơ quan có liên quan cần quan tâm hơn  
chế độ đãi ngộ cho KSV thực hiện nhiệm vụ  
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình  
sự của TAND để KSV yên tâm làm nhiệm  
vụ, bảo đảm sự vô tư, khách quan.  
Thứ ba, triển khai biện pháp thi hành  
quy định cấm các cơ quan, chủ thể khác can  
thiệp đến hoạt động xét xử của Thẩm phán,  
Hội thẩm; bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán,  
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo  
pháp luật (Điều 23 BLTTHS năm 2015).  
Thứ bảy, tăng cường các hoạt động bồi  
dưỡng luật sư về nghiệp vụ, kỹ năng hành  
nghề tạo sự chuyển biến mới về chất lượng  
đội ngũ luật sư; tập trung bồi dưỡng luật sư  
tham gia tranh tụng, nâng cao ý thức, trách  
nhiệm của luật sư trong việc bảo đảm quyền  
bình đẳng của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ  
thẩm vụ án hình sự theo đúng tinh thần của  
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và những  
Thứ tư, nâng cao trách nhiệm của Chủ  
tọa phiên tòa trong điều hành phiên tòa theo  
hướng tranh tụng bảo đảm công bằng, dân  
chủ, khách quan; phát huy vai trò của người  
bào chữa trong đảm bảo quyền bình đẳng  
của bị cáo tại phiên tòa.  
nội dung BLTTHS năm 2015.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
31  
pdf 6 trang Thùy Anh 16220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền bình đẳng của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_binh_dang_cua_bi_cao_trong_xet_xu_so_tham_vu_a.pdf