Hội thảo Pháp luật kinh doanh trong điều kiện hội nhập
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT
KINH DOANH
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
2018
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA NĂM 2018
BAN CHỈ ĐẠO
TT
1.
2.
3.
4.
Họ và tên
Chức vụ
Nhiệm vụ được giao
Trưởng ban
GS.TS. Trần Thọ Đạt
Hiệu trưởng
PGS.TS. Trần Thị Vân Hoa
PGS.TS. Phạm Hồng Chương
PGS.TS. Hoàng Văn Cường
Phó Hiệu trưởng
Phó Hiệu trưởng
Phó Hiệu trưởng
Phó Trưởng ban
Ủy viên
Ủy viên
BAN TỔ CHỨC
Nhiệm vụ
được giao
TT
Họ và tên
Chức vụ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
PGS.TS. Trần Thị Vân Hoa
PGS. TS. Trần Văn Nam
PGS.TS. Tô Trung Thành
PGS.TS Bùi Đức Thọ
Phó Hiệu trưởng
Trưởng khoa
Trưởng ban
Phó Trưởng ban
Trường phòng Quản lý Khoa học
Trưởng Phòng TCCB
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
PGS.TS. Phạm Thị Bích Chi
ThS. Bùi Đức Dũng
Trưởng phòng Tài chính - Kế toán
Trưởng phòng Tổng hợp
TS. Nguyễn Đình Trung
TS. Vũ Trọng Nghĩa
Trưởng phòng Quản trị thiết bị
Trưởng phòng Truyền thông
Trưởng phòng CTCT&QLSV
Trưởng phòng Bảo vệ
ThS. Nguyễn Hoàng Hà
10 Ông Đoàn Đức Cường
11 ThS. Hoàng Xuân Trường
12 TS. Dương Nguyệt Nga
13 TS. Nguyễn Thị Huế
Phó Trưởng khoa
Trưởng Bộ môn Pháp luật kinh doanh
Trưởng Bộ môn Pháp luật cơ sở
3
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
14 ThS. Đinh Hoài Nam
Giám đốc trung tâm
Ủy viên
Ủy viên
15 ThS. Nguyễn Hữn Mạnh
Phó Trưởng Bộ môn Pháp luật cơ sở
Phó Trưởng Bộ môn
Pháp luật kinh doanh
16 TS. Nguyễn Thu Ba
17 ThS. Đỗ Kim Hoàng
Ủy viên
Ủy viên
Khoa Luật
BAN THƯ KÝ
TT
Họ và tên
Chức vụ
Khoa Luật
Khoa Luật
Khoa Luật
Khoa Luật
Khoa Luật
Khoa Luật
Nhiệm vụ được giao
Trưởng ban
Ủy viên
1. ThS. Trần Thị Hồng Nhung
2. ThS. Đào Thu Hà
3. ThS. Phạm Đức Chung
4. ThS. Phùng Ngọc Tùng
5. ThS. Nguyễn Thị Đan Phương
Ủy viên
Ủy viên
Ủy viên
6
ThS. Lương Tuấn Sơn
Ủy viên
BAN BIÊN TẬP
TT
Họ và tên
Chức vụ
Nhiệm vụ được giao
Trưởng ban
Ủy viên
1. TS. Nguyễn Hợp Toàn
2. PGS.TS. Trần Văn Nam
3. ThS. Hoàng Xuân Trường
4. TS. Vũ Văn Ngọc
Khoa Luật
Khoa Luật
Phó Trưởng khoa Luật
Phòng TCCB
Ủy viên
Ủy viên
5. TS. Nguyễn Anh Tú
6. TS. Dương Nguyệt Nga
7. TS. Nguyễn Thị Huế
8. TS. Nguyễn Thu Ba
Nhà xuất Bản ĐH KTQD
Khoa Luật
Ủy viên
Ủy viên
Khoa Luật
Ủy viên
Khoa Luật
Ủy viên
9
PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
NXB CTQG ST
Tạp chí Cộng sản
Ủy viên
10 PGS. TS. Nguyễn Vũ Hoàng
Ủy viên
4
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
MỤC LỤC
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG
VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG
9
23
42
50
63
TS. Nguyễn Thu Ba
Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
ĐÀOTẠOPHÁPLUẬTKINHDOANHTRONGBỐICẢNHHỘINHẬP
NHÌN TỪ THỰC TIỄN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TS. Hà Công Anh Bảo
Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương
HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO PHÁP LUẬT KINH
DOANH - KINH NGHIỆM TỪ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TS. Lưu Bình Dương
Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT NHÌN TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
Phạm Thành Đô
Ban Tuyên giáo huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI
NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI CPTPP - MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ
KHUYẾN NGHỊ
Lương Thị Thu Hà
Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG THÔNG MINH
Nguyễn Thị Hoài
80
Công ty TNHH EVD Thiết bị và Phát triển chất lượng
5
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CÁC CHUYÊN NGÀNH
LUẬT TẠI ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA XÃ HỘI
88
TS Nguyễn Thị Huế
PGS.TS Trần Văn Nam
Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LOẠI HÌNH DOANH
NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
99
Nguyễn Thị Hải Hưng
Công ty TNHH Deloitte Việt Nam
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ
LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT LĨNH VỰC BHXH TRONG BỐI CẢNH
CÔNG NGHIỆP 4.0
112
ThS.NCS. Lâm Thị Thu Huyền
Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ THANH TRA ĐÓNG BHXH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
124
134
Trần Thị Thu Huyền
BHXH TP Hà Nội
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT
BẢN SÁCH LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
QUỐC TẾ
PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Vũ Uyên Linh
Đại học Flanklin & Marshall, Hoa Kỳ
6
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO THỦ TỤC TRỌNG TÀI TẠI
VIỆT NAM
156
167
177
Phạm Thị Loan
Trung tâm Trọng tài thương mại Đông Dương
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHẾ TÀI THƯƠNG
MẠI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ
TÀI THƯƠNG MẠI
Ngô Hồng Mai
Công ty Cổ phần Pico
XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH HỢP LỆ CỦA NHÀ THẦU KHI THAM GIA
ĐẤU THẦU XÂY LẮP - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KHUYẾN
NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
ThS. Nguyễn Hữu Mạnh
Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG VÀ CHẾ TÀI PHÁP LÝ
NHÌN TỪ MỘT VỤ TRANH CHẤP VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA
184
193
PGS.TS Trần Văn Nam
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU HỒI ĐẤT VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
TS. Dương Nguyệt Nga
Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Học viên cao học Huỳnh Ngọc Sơn
Công an tỉnh Hòa Bình
7
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NHẬP KHẨU TRANG
THIẾT BỊ Y TẾ QUA CÁC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
202
216
224
233
239
Nguyễn Thanh Nga
Công ty TNHH Xuất nhập khẩu thiết bị y tế T&T Việt Nam
VỀ VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ XÁC ĐỊNH
NỘI DUNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
ThS.Trần Thị Nguyệt
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ NHÌN TỪ VỤ KIỆN ĐÒI BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÔNG TY TRÍ VIỆT
Phí Quốc Thuyên
Báo Phụ nữ Việt Nam
KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ HÌNH SỰ HÀNH VI VI PHẠM
PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
ThS. Đinh Hoài Nam và Nguyễn Hoàng Vân
Khoa Luật - Trường Đại học Kinh tế quốc dân
KHỞI KIỆN KHÁCH HÀNG VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG:
THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG TMCPCÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Nghiêm Xuân Vượng
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa
8
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
1.
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH
VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM
ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG
TS. Nguyễn Thu Ba*
Tóm tắt
Việc điều chỉnh pháp luật đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo
hình thức hợp đồng liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người lao động Việt
Nam và các cá nhân, tổ chức khác. Khi xác định và điều chỉnh các hình thức người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Nhà nước bảo vệ cả lợi ích
công và tư trong quan hệ lao động đồng thời quy định các giới hạn pháp lý cần thiết
đảm bảo ổn định, trật tự chung của thị trường lao động trong và ngoài nước. Tính
chất phức tạp của vấn đề người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hình
thức hợp đồng hiện nay đặt ra yêu cầu tất yếu trong việc sửa đổi, hoàn thiện quy định
pháp luật lao động và pháp luật liên quan.
Từ khóa: hình thức làm việc, hợp đồng, người lao động Việt Nam, nước ngoài.
1. GIỚI THIỆU
Trong các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước luôn quan tâm đến việc
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và coi đây là một
hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại
(*) Giảng viên khoa Luật - Trường Đại học kinh tế quốc dân
9
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
tệ cho đất nước, góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài dưới nhiều hình thức là một vấn đề pháp lý phức tạp được
điều chỉnh chủ yếu bởi Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng số 72/2006/QH11 (Luật số 72/2006/QH11) cùng nhiều văn bản pháp luật
khác. Tuy nhiên, những quy định này còn chưa đồng bộ và có khá nhiều bất cập cần
phải kịp thời sửa đổi, bổ sung để có thể đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển của quan
hệ lao động.
2. CÁC HÌNH THỨC NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở
NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
Từ những năm 1990, việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đã được xã hội
hóa. Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các hiệp định giữa Chính
phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài; theo hợp đồng cung ứng lao động giữa các
tổ chức kinh tế Việt Nam với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân người nước ngoài;
theo các hợp đồng lao động cá nhân giữa người lao động với các tổ chức kinh tế Việt
Nam, hoặc các tổ chức kinh tế và cá nhân người nước ngoài. Pháp luật lao động quy
định người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hợp pháp là công dân Việt
Nam được phép đi làm việc ở nước ngoài theo thời hạn. Nghị định 370-HĐBT ngày
9/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành “Quy chế đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” quy định người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài là: “những người có nghề hoặc chưa có nghề, học sinh mới tốt nghiệp
các trường chuyên nghiệp trong và ngoài nước; người làm công tác khoa học kỹ thuật,
nghiệp vụ, quản lý, kể cả người đi làm chuyên gia” (Khoản 1 Điều 4). Tuy nhiên pháp
luật Việt Nam cũng cấm không cho phép làm việc đối với một số công việc, ngành
nghề đặc biệt. Việc tổ chức người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thể thực hiện
dưới các hình thức như “đội, tổ hoặc cá nhân, đi làm việc độc lập hoặc xen ghép với
người nước ngoài; nhận khoán khối lượng công việc; nhận khai thác, sản xuất chia
sản phẩm; nhận thầu công trình xây dựng và các hình thức khác phù hợp với yêu cầu
của bên sử dụng lao động ở nước ngoài” (Khoản 3 Điều 4 Nghị định 370-HĐBT).
Những người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo các hiệp định hợp tác khoa học
kỹ thuật và hợp tác đào tạo do nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế tài trợ hoặc những
người đi làm cho các tổ chức quốc tế phi kinh tế ở nước ngoài thì thực hiện theo các
thỏa thuận quốc tế.
10
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
Bộ luật Lao động năm 1994 cũng không đưa ra khái niệm cụ thể về người Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức hợp đồng mà quy định về tiêu chuẩn,
điều kiện đi làm việc ở nước ngoài: “Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có khả
năng lao động, tự nguyện và có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện khác theo pháp luật
Việt Nam, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của bên nước ngoài thì được đi làm
việc ở nước ngoài” (Khoản 2 Điều 134, sửa đổi bổ sung năm 2002). Các hình thức
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài gồm có: (1) Cung ứng lao
động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài; (2) Đưa lao động đi làm việc theo
hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài; (3) Đưa lao động đi làm việc
theo các dự án đầu tư ở nước ngoài; (4) Các hình thức khác theo quy định của pháp
luật (Điều 134a). Bộ luật Lao động năm 1994 cũng không xác định riêng đối tượng
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động, hình
thức này được quy định chung trong các hình thức người lao động Việt Nam làm
việc ở nước ngoài.
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không chỉ phải đáp ứng các
yêu cầu của pháp luật nước ngoài mà vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công
dân Việt Nam cho dù làm việc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Các hình thức đi làm việc ở
nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp: người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng có thể đi làm việc theo hợp đồng lao động cá nhân, có thể đi làm việc
theo hợp đồng cung ứng lao động của các tổ chức trung gian là doanh nghiệp, tổ chức
sự nghiệp Việt Nam, đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu
v.v... Tuy nhiên họ vẫn là người lao động trong quan hệ lao động song phương hoặc
đa phương tùy thuộc vào hình thức đi làm việc ở nước ngoài. Quốc hội khóa XI, kỳ
họp thứ 10 thông qua Luật số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2006 điều chỉnh hoạt động
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quyền và nghĩa
vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của
doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Khái niệm “hợp đồng” trong đạo luật
này được hiểu là “hình thức” đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng có nội hàm rộng bao gồm hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ thương mại,
hợp đồng thực tập, hợp đồng hợp tác v.v... Có nghĩa là, việc pháp luật quy định người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức hợp đồng là mối quan hệ
pháp lý đan xen của quan hệ hợp đồng lao động với các loại hợp đồng thương mại
dịch vụ, hợp đồng thực tập có yếu tố nước ngoài. Người lao động Việt Nam là chủ thể
11
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
trong quan hệ hợp đồng lao động với người sử dụng lao động và còn là chủ thể trong
quan hệ “hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” với doanh nghiệp,
tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc (Khoản 3 Điều 3 Luật số 72/2006/
QH11) hoặc “Hợp đồng đưa người lao động đi thực tập” với doanh nghiệp là người sử
dụng lao động (Khoản 2 Điều 34 Luật số 72/2006/QH11). Người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo “hợp đồng cá nhân” sẽ được xác định quyền và nghĩa
vụ theo tính chất của quan hệ hợp đồng mà pháp luật của nước đến làm việc quy định.
Hợp đồng cá nhân có thể là hợp đồng lao động hoặc loại hợp đồng khác (Khoản 4
Điều 3 Luật số 72/2006/QH11). Ngoài ra, giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của
Việt Nam với bên nước ngoài còn phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo “hợp
đồng cung ứng lao động” (Khoản 2 Điều 3 Luật số 72/2006/QH11) hoặc “Hợp đồng
nhận thực tập” (Khoản 1 Điều 34 Luật số 72/2006/QH11). Khoản 1 Điều 3 Luật số
72/2006/QH11 giải thích: “Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp
luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước
ngoài theo quy định của luật này”. Luật cũng quy định 04 hình thức người lao động đi
làm việc ở nước ngoài là: (1) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ
chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
(2) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng
thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài; (3) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm
việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; (4) Hợp đồng cá nhân (Điều 6 Luật
số 72/2006/QH11). Căn cứ các hình thức này thì người lao động Việt Nam phải thỏa
mãn các điều kiện tư cách chủ thể trong quan hệ hợp đồng lao động của pháp luật Việt
Nam đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu xuất cảnh hợp pháp và còn phải đáp ứng điều
kiện tương ứng về quản lý lao động nước ngoài của nước đến làm việc. Ngoài việc
chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động thì do tính chất, đặc điểm của các hình thức
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là khác nhau nên còn liên
quan đến quy định pháp luật của những ngành luật khác.
Như vậy, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là
người lao động có quốc tịch Việt Nam đủ điều kiện để đi làm việc ở nước ngoài theo
các hình thức được pháp luật Việt Nam quy định.
12
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
Cùng với Luật số 72/2006/QH11, các văn bản dưới luật có Nghị định số
126/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật số 72/2006/QH11; Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 8/10/2007
hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật số 72/2006/QH11 và Nghị định số 126/2007/
NĐ-CP; các thông tư liên tịch giữa Bộ Lao động, Thương binh và xã hội với Bộ Tư
pháp, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam về tiền môi giới và tiền dịch vụ
trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng; hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh cho người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quy định việc quản lý và sử dụng tiền
ký quỹ v.v… Bộ luật Lao động năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013 chỉ xác định
nguyên tắc “Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải tuân theo quy
định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên quy định khác” (Khoản 1 Điều 168). Văn bản quy phạm
pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hiện
nay bổ sung thêm Thông tư số 21/2013/TT-BLĐTBXH quy định mức trần tiền ký
quỹ và thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được ký quỹ với người lao động;
Thông tư số 22/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn mẫu và nội dung hợp đồng cung ứng
lao động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Nghị định số 24/2018/NĐ-CP
quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp,
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn,
vệ sinh lao động.
3. VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM
VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tăng dần theo hàng năm, chất
lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được nâng cao, hoạt động của doanh
nghiệp, tổ chức dịch vụ bắt đầu có trật tự. Hiện tại, có khoảng trên 500 nghìn người
lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ở trên 40 quốc gia và
vùng lãnh thổ. Từ năm 2014, số lượng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài vượt mức 100 nghìn lao động/năm. Thị trường truyền thống là Đài Loan, Nhật
Bản, Hàn quốc và Malayssia. Những năm gần đây mở rộng thêm các thị trường khác
ở Trung Đông, Bắc Phi, châu Âu và một số quốc gia thu nhập trung bình và thu nhập
thấp ở châu Á1. Trong 3 năm 2014, 2015 và 2016, tổng số người lao động đi làm
1
Viện Khoa học Lao động và Xã hội, ILO (2018), Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam, trang 29, NXB
anh niên, Hà Nội
13
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
việc ở nước ngoài là gần 350.000 người. Riêng trong năm 2016 có trên 126.000 lao
động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó Đài Loan trên 68.000 lao động, Nhật Bản
gần 40.000, Hàn Quốc trên 8.000 và Ả rập Xê út có trên 4.000 lao động. Tính đến hết
tháng 12/2016, toàn quốc có 277 doanh nghiệp có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó có 15 doanh nghiệp nhà nước, 207
công ty cổ phần và 55 công ty TNHH)2.
Theo Báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước, trong năm 20173, cả nước
đưa được 134.751 người lao động Việt Nam (trong đó, có 53.340 lao động nữ; chiếm
39,6%); vượt 28,3% so với kế hoạch năm và bằng 106,7% so với tổng số người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong năm 2016. Trong bốn năm liên tiếp số
lượng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã vượt mức 100.000 lao
động/năm. Thị trường lao động trọng điểm có người lao động Việt Nam sang làm việc
nhiều vẫn là Đài Loan, Nhật Bản. Đặc biệt, thị trường Nhật Bản có sự tăng trưởng vượt
bậc với 54.504 lao động (24.502 lao động nữ), tăng 36,47% so với năm 2016. Đối với
thị trường Đài Loan, tổng số người lao động Việt Nam đi làm việc đạt gần 67.000 lao
động (trong đó, có 23.530 lao động nữ), chiếm gần 50% tổng số người lao động Việt
Nam đi làm việc tại các thị trường. Tính đến hết năm 2017, số người lao động Việt
Nam đang làm việc tại Đài Loan là hơn 206.000 người, đứng sau Indonesia, trong đó
lao động làm việc trong ngành sản xuất công nghiệp chiếm trên 87%, dịch vụ xã hội
chiếm 13%. Tại thị trường lao động Hàn Quốc, hiện có hơn 5.100 lao động, trong đó
có 3.023 lao động EPS (Employment permit system - hệ thống cấp phép vấn đề việc
làm), 1.975 lao động thuyền viên gần bờ, xa bờ, lao động kỹ thuật. Đồng thời, tiếp tục
thực hiện có hiệu quả Bản ghi nhớ về phái cử và tiếp nhận lao động theo Chương trình
EPS và lộ trình giảm lao động cư trú, làm việc bất hợp pháp tại Hàn Quốc. Việt Nam
đã triển khai tổ chức các kỳ thi tiếng Hàn trong các ngành sản xuất chế tạo, xây dựng,
ngư nghiệp và nông nghiệp theo Chương trình EPS năm 2017 cho 18.140 người lao
động. Kết quả trúng tuyển đạt tỷ lệ khá cao với 75% trong số 647 người dự thi. Ngoài
ra, một số thị trường khác như: Ả rập Xê út đưa đươc 3.626 lao động, Malaysia 1.551
người, còn lại là các thị trường khác trên 3.000 lao động. Trong năm 2017, hoạt động
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã hoàn thành
vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Một số thị trường xuất khẩu lao động chính tiếp tục
2 http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=27543
3 Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động, ương binh và xã hội (2017), Báo cáo tình hình lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tháng 12/2017.
14
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
có nhu cầu tuyển dụng lao động Việt Nam cao (Đài Loan, Nhật Bản). Các thị trường
khác vẫn có nhu cầu tiếp nhận ổn định, riêng thị trường Nhật Bản nhu cầu tiếp nhận
lao động Việt Nam ngày càng tăng, đa dạng về ngành nghề. Một số thị trường có nhu
cầu tuyển dụng một số nhóm ngành nghề mới mà Việt Nam có khả năng đáp ứng tốt,
có nhu cầu đưa đi như điều dưỡng, hộ lý và trong một số lĩnh vực nông nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, lao động có tay nghề, kỹ thuật cao, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho
người lao động khi lựa chọn phương án đi làm việc ở nước ngoài. Một số thị trường
châu Âu đang có nhu cầu tiếp nhận người lao động Việt Nam (Ví dụ: Rumani, Ba Lan,
Na Uy bước đầu có lời mời hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực y tế, điều dưỡng).
Nhà nước cũng đặt mục tiêu phấn đấu đưa 110.000 người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài (trong đó, lao động nữ chiếm 40%) trong năm 2018. Nhiều doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng đã và đang từng bước chủ động tìm kiếm, phát triển thị trường
lao động ngoài nước. Đồng thời, quan tâm đầu tư bài bản trong công tác đào tạo nguồn
và đào tạo lao động về tay nghề, ngoại ngữ trước khi xuất cảnh cũng như tác phong
kỷ luật lao động và ý thức chấp hành kỷ luật khi làm việc ở nước ngoài. Tập trung chú
trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp làm công tác xuất khẩu
lao động. Số lượng cán bộ chuyên trách của các doanh nghiệp luôn đảm bảo lớn hơn
số quy định, có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ, người lãnh đạo điều hành có kinh
nghiệm. Phần lớn các doanh nghiệp đều đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo,
nâng cao trình độ ngoại ngữ và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ. Tổng số
doanh nghiệp có giấy phép dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đến
năm 2017 là 315 doanh nghiệp, tăng 40% so với năm 2016. Về công tác cấp và cấp
đổi giấy phép, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã hoàn thiện hồ sơ trình Bộ cấp mới
cho 44 doanh nghiệp, cấp đổi cho 20 doanh nghiệp và hướng dẫn 01 doanh nghiệp nộp
lại giấy phép. Cùng với việc trình cấp phép, Cục đã phối hợp tiến hành 44 cuộc thanh
tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp. Trong đó, trực tiếp thanh tra định kỳ tại 27 doanh
nghiệp và kiểm tra đột xuất 2 doanh nghiệp.
Tình hình vi phạm4, trong năm 2017 thanh tra Bộ đã kiểm tra và tiến hành xử
phạt vi phạm hành chính 16 doanh nghiệp với số tiền 2,6 tỷ đồng, thu hồi giấy phép
05 doanh nghiệp, đình chỉ từ 6-9 tháng đối với 3 doanh nghiệp. Từ năm 2007 đến
nay đã có 43 doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép. Ngoài ra, còn có 17 doanh nghiệp đã
được cấp phép theo Nghị định số 81/2003/NĐ-CP bị thu hồi giấy phép do không làm
4 http://www.dolab.gov.vn/New/View2.aspx?Key=3521
15
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
hồ sơ hoặc không được đổi giấy phép theo Luật số 72/2006/QH11 (Thông tin chi tiết
xem trên trang www.dolab.gov.vn.). Các doanh nghiệp thu hồi giấy phép bởi các lý
do: Nộp lại giấy phép do chuyển giao cho công ty con; Nộp lại giấy phép do chấm dứt
hoạt động; do không đáp ứng đủ điều kiện cấp đổi giấy phép; do vi phạm các quy định
của Luật; do không làm hồ sơ đổi giấy phép. Còn xảy ra các vi phạm nghiêm trọng
như không trực tiếp tuyển dụng lao động, cho người khác sử dụng giấy phép để hoạt
động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và lợi dụng hoạt động đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tuyển chọn, thu tiền trái phép của người
lao động; đưa người lao động ra nước ngoài làm việc nhưng không đăng ký hợp đồng
cung ứng lao động theo quy định.
4. KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI
LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG
Một là, xác định chính xác các hình thức làm việc của người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và pháp luật điều chỉnh. Việc người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã được luật hóa và Luật số 72/2006/
QH11 đã xác định 04 hình thức người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên
đối với người lao động Việt Nam đi làm việc theo hợp đồng cá nhân thì cần quy định
rõ hơn về tính chất quan hệ hợp đồng và những vấn đề pháp luật điều chỉnh. Hợp đồng
cá nhân này có thể là hợp đồng lao động, có thể là hợp đồng dịch vụ, thương mại hoặc
loại hợp đồng khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận. Như vậy trách nhiệm
của cơ quan quản lý nhà nước đối với đối tượng người lao động không phải chỉ là cơ
quan quản lý nhà nước về lao động. Cần làm rõ tính chất của quan hệ hợp đồng để xác
định nguyên tắc trong áp dung pháp luật. Trường hợp học sinh, sinh viên Việt Nam đi
học nhưng lại ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại nước tiếp nhận thì có cần phải
áp dụng các điều kiện, thủ tục như đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo quy định của Luật số 72/2006/QH11 hay không? Đặc biệt không quy định chung
và áp dụng chung hình thức hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ với tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như quy định hiện
hành tại khoản 1 điều 6 Luật số 72/2006/QH11. Mở rộng thêm các hình thức người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tránh việc thực tiễn phát
sinh nhiều hình thức đi làm việc nhưng không có luật điều chỉnh và trở thành lao
động bất hợp pháp (Ví dụ: lao động vùng biên). Nhà nước xem xét ban hành đạo luật
16
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
có phạm vi điều chỉnh rộng hơn và bao quát các vấn đề người lao động đi làm việc ở
nước ngoài: Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hoặc Luật về
lao động di trú.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện chế độ BHXH đối với người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực
từ 1/1/2016 đã quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là “người đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng” (Điểm g Khoản 1 Điều 2). Tuy nhiên, mức đóng BHXH
của người lao động đi làm việc ở nước ngoài lại quá cao, họ phải đóng vào quỹ hưu trí
và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng BHXH trước khi đi làm việc ở nước
ngoài đối với người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22% của hai lần mức
lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc
nhưng đã hưởng bảo hiểm một lần (Điểm a Khoản 2 Điều 85 Luật BHXH năm 2014).
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng chỉ được hưởng hai chế độ là hưu trí và
tử tuất (chứ không phải 05 chế độ BHXH bắt buộc). Ngoài ra, người lao động đi làm
việc ở nước ngoài còn phải đóng các loại bảo hiểm khác khi sang làm việc tại nước
tiếp nhận (nếu có). Luật cũng cần phải quy định rõ trường hợp người lao động sau khi
đi làm việc ở nước ngoài trở về nước và không còn đủ thời gian lao động trong nước
thì có được hưởng BHXH theo quy định của Luật BHXH năm 2014 hay không.
Ba là, hoàn thiện pháp luật về công đoàn để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Quy định về quyền gia nhập tổ
chức công đoàn của người lao động hoặc quyền thành lập tổ chức bảo vệ quyền lợi của
người lao động có ảnh hưởng và tác động quan trọng tới quan hệ lao động. Việc gia
nhập tổ chức công đoàn giúp bảo vệ hiệu quả nhất quyền, lợi ích của người lao động,
bảo đảm quyền thương lượng của người lao động nếu quan hệ lao động phát sinh mâu
thuẫn, bất đồng, tranh chấp. Đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hình thức hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh
nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động thì công đoàn bảo
vệ quyền lợi của người lao động là công đoàn của đơn vị làm dịch vụ. Người lao động
có được tham gia công đoàn của ở nước đến làm việc hay không còn phụ thuộc vào
pháp luật của họ. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các quốc gia trong đó có Việt Nam chưa
cho phép người lao động nước ngoài tham gia công đoàn. Vai trò của công đoàn trong
việc bảo vệ quyền lợi của người lao động làm việc ở nước ngoài chưa được quy định
17
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
rõ trong Luật số 72/2006/QH11 và Luật Công đoàn năm 2012. Nhà nước cũng cần
quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài
(đặc biệt là vai trò của Ban Quản lý lao động) trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người lao động làm việc ở nước ngoài. Xác định vai trò của cán bộ công đoàn của
đại sứ quán là đầu mối phụ trách tuyên truyền, giáo dục, tiếp nhận thông tin giải quyết
quyền lợi cho người lao động Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức công đoàn Việt Nam
trong nước cụ thể là tổ chức công đoàn của cơ quan quản lý nhà nước về người lao
động Việt Nam làm việc ở nước ngoài cần tích cực, chủ động ký kết các chương trình
hợp tác với công đoàn các nước tiếp nhận lao động để có cơ sở pháp lý bảo vệ quyền
của người lao động Việt Nam ở nước ngoài.
Bốn là, quy định và quản lý chặt chẽ hoạt động của các doanh nghiệp hoạt
động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng. Quy định điều kiện chặt chẽ hơn nữa đối với doanh nghiệp hoạt
động dịch vụ, chỉ những doanh nghiệp thực sự đáp ứng đủ và bảo đảm duy trì các
điều kiện theo quy định của pháp luật mới được tham gia hoạt động đưa người đi làm
việc ở nước ngoài. Sửa đổi quy định theo hướng cấp giấy phép có thời hạn từ 3 đến 5
năm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, hết thời hạn đó mà doanh nghiệp không đáp
ứng đủ yêu cầu sẽ không được cấp lại giấy phép. Tuy nhiên, cũng cần cho phép doanh
nghiệp hoạt động dịch vụ tạo nguồn lao động để chuẩn bị cung ứng cho hợp đồng vì
quy định về tuyển chọn lao động hiện nay có thể khiến doanh nghiệp có thể phải bỏ
lỡ hợp đồng do không có nguồn lao động sẵn có để đối tác tuyển dụng. Nhiều doanh
nghiệp hoạt động dịch vụ tuyển lao động thông qua trung gian tuyển dụng nên thông
tin tới người lao động bị sai lệch so với thông tin gốc của doanh nghiệp cung cấp,
nhiều trường hợp có dấu hiệu lừa đảo, vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của người lao
động. Việc doanh nghiệp hoạt động dịch vụ chuyển giao chức năng tuyển dụng cho
đối tác khác thực hiện dưới dạng một hợp đồng dịch vụ là khó kiểm soát. Như vậy,
cần quy định chặt chẽ về hợp đồng dịch vụ, hợp đồng ủy quyền và trách nhiệm của
doanh nghiệp và bên được ủy quyền trong việc tuyển dụng người lao động đi làm việc
ở nước ngoài. Điều chỉnh lại các thủ tục tuyển dụng, đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài. Theo quy định, quá trình đưa người lao động đi nước ngoài làm việc bắt
đầu từ khi doanh nghiệp hoạt động dịch vụ ký hợp đồng cung ứng lao động với đối
tác nước ngoài, tiếp theo là khâu tuyển dụng. Như vậy, cần phải tách riêng khâu tuyển
dụng và khâu đào tạo nghề và ngoại ngữ cho người lao động. Việc đào tạo không phải
là giai đoạn tuyển dụng và vì vậy cần có hai loại hợp đồng là “hợp đồng đào tạo” và
18
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
“hợp đồng tuyển dụng”. Người lao động sẽ xác định được các chi phí trong từng giai
đoạn và không bị nhầm lẫn về quyền và nghĩa vụ theo quy định hiện hành. Tăng mức
chế tài nghiêm khắc đối với những doanh nghiệp tuyển dụng người lao động đi nước
ngoài làm việc trái phép. Cũng cần sớm sửa đổi một số quy định về doanh nghiệp hoạt
động dịch vụ: cho phép một tỷ lệ vốn nước ngoài nhất định đối với doanh nghiệp hoạt
động dịch vụ; Quy định cụ thể về quản lý, sử dụng tiền ký quỹ; Yêu cầu cao hơn đối
với năng lực, trình độ người quản lý v.v…
Năm là, hoàn thiện các quy định trong xử lý vi phạm, xây dựng cơ chế giải
quyết tranh chấp đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Điều
35 Nghị định 95/2014/NĐ-CP (Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung) quy định
về xử lý vi phạm đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vi phạm
pháp luật và ngoài ra còn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật nước sở tại. Pháp
luật cũng đã có sự hỗ trợ pháp lý hiệu quả khi chính người lao động bị vi phạm quyền
và lợi ích hợp pháp. Nghị định số 24/2018/NĐ-CP đã có quy định về cơ chế khiếu
nại, tố cáo về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng. Người lao động theo đúng thủ tục có thể “Yêu cầu người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng xem xét lại quyết định, hành vi về đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó
vi phạm pháp luật về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 3 Điều 3) và có quyền
“báo cho người có thẩm quyền biết hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản 6 Điều 3). Sắp tới cần ban hành văn bản quy định cụ
thể các biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi họ ở
nước ngoài và ban hành cơ chế thống kê, đăng ký việc làm của người lao động Việt
Nam làm việc ở nước ngoài để quản lý và giải quyết vi phạm. Pháp luật quy định về
4 hình thức đi làm việc ở nước ngoài, tuy nhiên thực tiễn cho thấy hình thức quy định
tại khoản 1 điều 6 Luật số 72/2006/QH11 là hình thức phổ biến nhất và cũng là hình
thức phát sinh nhiều vi phạm từ khâu tuyển đến khi thanh lý hợp đồng. Ở hình thức
thứ 2 và 3 thì quan hệ lao động không thay đổi và người sử dụng lao động vẫn phải
19
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ khi đưa người lao động sang nước ngoài làm
việc khi trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài hoặc theo hình thức thực tập nâng cao
tay nghề tại nước ngoài. Hình thức thứ 4, quan hệ hợp đồng song phương giữa người
lao động Việt Nam với bên nước ngoài được điều chỉnh bởi pháp luật của nước sở
tại và pháp luật liên quan. Hình thức thứ nhất là quan hệ hợp đồng 3 bên: người lao
động Việt Nam, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ/tổ chức sự nghiệp và người sử dụng
lao động ở nước ngoài. Tính chất của các quan hệ hợp đồng được thiết lập giữa các
bên cũng khác nhau. Khi phát sinh tranh chấp hoặc vi phạm, việc áp dụng cơ chế nào
trong việc giải quyết tranh chấp còn gặp nhiều lúng túng. Hơn nữa, với yếu tố nước
ngoài thì việc giải quyết càng phức tạp. Phải sớm nghiên cứu, xây dựng được một cơ
chế hiệu quả để giải quyết tranh chấp phát sinh trong việc người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức hợp đồng với doanh nghiệp hoạt động dịch
vụ/tổ chức sự nghiệp.
Tăng cường năng lực của cơ quan thanh tra về lao động. Tăng tỷ lệ cán bộ thanh
tra lao động đồng thời với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ
thanh tra. Xây dựng quy chế cho công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với
hoạt động tuyển dụng, quản lý người lao động nước ngoài, hoạt động đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Công tác hậu kiểm sau cấp
phép là công tác còn nhiều hạn chế nên cũng hết sức coi trọng. Định kỳ hoặc đột xuất
tổ chức những đoàn thanh tra liên ngành để kiểm tra việc thực hiện và phát hiện, xử lý
vi phạm. Chế tài xử phạt hành chính trong vi phạm pháp luật về quản lý lao động di trú
hiện nay chưa đủ mức răn đe; các biện pháp cưỡng chế chưa kiên quyết; chưa có nhiều
biện pháp xử lý triệt để đối với các doanh nghiệp, nhà thầu hay cá nhân người lao động
cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam. Ngoài ra các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần
chủ động, tích cực và quyết liệt trong việc rà soát, phát hiện lao động Việt Nam ở lại
nước ngoài làm việc bất hợp pháp và xử lý kiên quyết đối với đối tượng lao động này.
Tóm lại, quy định về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hiện nay
có nhiều ưu điểm hơn so với trước đây nhưng cũng đã bộc lộ không ít nhược điểm.
Việc hoàn thiện pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước là việc làm
cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động đang có có xu hướng quốc tế hóa
mạnh mẽ như hiện nay.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hội thảo Pháp luật kinh doanh trong điều kiện hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoi_thao_phap_luat_kinh_doanh_trong_dieu_kien_hoi_nhap.pdf

