Nhìn lại một số phương án tái cấu trúc hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai nước ta dưới tác động của chính sách

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 30-35  
Review Article  
A Review of the Options to Restructure the System  
of Vietnam's Research and Development Organizations under  
the Impact of Policies  
Khuat Thi Hong Duong  
Duy Phuong HB Limited Liability Company, Group 2, Ky Son, Hoa Binh, Vietnam  
Received 28 October 2020  
Revised 15 November 2020; Accepted 16 November 2020  
Abstract: The network of R&D organizations is a system and always a component of Vietnam  
national S&T policy. According to the system pinciples, under the impact of the policy, this system  
has undergone numerous structure reforms to survive, develop and respond to the society’s  
requirements. This article analyzes a number of variants that have been implemented by the state in  
the restructuring of the system of R&D organizations in Vietnam.  
Keywords: System of R&D organizations, restructure, planning.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
30  
K.T.H. Duong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 30-35  
31  
Nhìn lại một số phương án tái cấu trúc hệ thống tổ chức  
nghiên cứu và triển khai nước ta dưới tác động của chính sách  
Khuất Thị Hồng Dương  
Công ty TNHH Duy Phương HB Tổ 2, Kỳ Sơn, Hòa Bình, Việt Nam  
Nhận ngày 28 tháng 10 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 15 tháng 11 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 16 tháng 11 năm 2020  
Tóm tắt: Mạng lưới các tổ chức nghiên cứu và triển khai (NC&TK) là một hệ thống và luôn là bộ  
phận hợp thành của chính sách KH&CN quốc gia. Theo quy luật hệ thống, dưới tác động của các  
chính sách, hệ thống này đã trải qua nhiều lần tái cấu trúc để tồn tại, phát triển và đáp ứng các yêu  
cầu của xã hội. Bài viết này phân tích một số phương án đã được nhà nước thực hiện nhằm tái cấu  
trúc hệ thống tổ chức NC&TK nước ta).  
Từ khóa: Hệ thống, tổ chức NC&TK, tái cấu trúc, quy hoạch.  
1. Mở đầu  
Hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ  
nào: nó có khả năng chịu tác động của chính sách  
mà không bị tan rã nhờ khả năng thích nghi và tự  
điều chỉnh. Chính nhờ khả năng này mà sau rất  
nhiều lần tái cấu trúc theo kiểu “sắp xếp”, “ghép  
nối” nó vẫn tồn tại và phát triển tuy không được  
đánh giá như là một sự phát triển có hiệu quả. Mặc  
dù vậy, một số bộ phận hợp thành của nó đã phát  
triển tốt như những điểm trồi của hệ thống. Nói  
theo ngôn ngữ thông thường là: đã xuất hiện các  
“điển hình tiên tiến” cần nghiên cứu, nhân rộng.  
(KH&CN) theo nghĩa rộng và các tổ chức  
nghiên cứu và triển khai (NC&TK) theo nghĩa  
hẹp ở bất kỳ quốc gia nào luôn là bộ phận hợp  
thành của chính sách đổi mới, đóng vai trò quan  
trọng trong chính sách phát triển. Đơn giản là vì  
hệ thống này là tác nhân chủ yếu thực hiện hoạt  
động KH&CN đồng thời cũng là tấm gương  
phản chiếu chính sách KH&CN quốc gia với tư  
cách là đối tượng chính sách.  
Bài báo tiền hành phân tích tổng quan một số  
chính sách tái cấu trúc tác động tới hệ thống các  
tổ chức NC&TK trong thời gian qua nhằm nhận  
diện các thành công và hạn chế trong việc thúc  
đẩy phát triển hệ thống này.  
Hệ thống các tổ chức NC&TK nước ta nói  
chung và phân hệ các tổ chức NC&TK của nhà  
nước nói riêng lớn về số lượng (so sánh tương  
đối so với các nước trong khu vực) trải khắp các  
lĩnh vực KH&CN từ nghiên cứu cơ bản đến triển  
khai công nghệ trong sản xuất. Dàn trải như vậy,  
hệ thống này chỉ nhận được các khoản đầu tư hạn  
hẹp, cũng phân tán, dàn trải như bản thân nó.  
2. Nhận dạng các loại hình tổ chức NC&TK  
trong quá trình đổi mới từ 1986 đến nay1  
2.1. Quan niệm về chức năng của tổ chức  
NC&TK  
Là một hệ thống, hệ thống các tổ chức  
NC&TK nước ta có lịch sử phát triển phù hợp với  
quy luật tồn vong như bất kỳ một thực thể xã hội  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
Xem thêm: Nguyễn Văn Học, Phạm Quang Trí, Giáo trình tổ chức và quản lý mạng lưới các tổ chức NC&TK – Báo cáo Tổng hợp đề tài  
1
cấp Bộ “Nghiên cứu giáo trình đào tạo bậc tiến sĩ về Quản lý Khoa học và công nghệ”, 2016.  
K.T.H. Duong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 30-35  
32  
Chức năng tổ chức NC&TK tại các nước  
Theo cách phân chia này, Việt Nam có các  
phát triển và trong khu vực bao gồm nghiên cứu  
khoa học, giảng dạy (đào tạo) và cung cấp các  
dịch vụ KH&CN (theo nghĩa mà UNESCO đã  
quy ước) trong đó kể cả tư vấn cho chính phủ.  
tổ chức NC&TK trong lĩnh vực:  
Lĩnh vực KHTN chiếm khoảng 5% tổng số,  
Lĩnh vực KHKTvà CN chiếm khoảng 53,3%  
tổng số. Lĩnh vực KHNN chiếm khoảng 17,8%  
tổng số. Lĩnh vực KHYD chiếm khoảng 5,2%  
tổng số. Lĩnh vực KHXH&NV chiếm khoảng  
18,7% tổng số.  
Về chức năng nghiên cứu: các tổ chức  
NC&TK không phụ thuộc vào loại hình đều có  
quyền tiến hành các nghiên cứu trải dài từ nghiên  
cứu cơ bản qua nghiên cứu ứng dụng tới sản xuất  
thử nghiệm.  
2.2.2. Phân theo vùng và lãnh thổ:  
Hiện nay, số lượng các tổ chức NC&TK tại  
các thành phố lớn (người ta hay gọi trung tâm tạo  
vùng) rất cao: Hà nội – hơn 80%, TP. Hồ Chí  
Minh - 10 %, các tỉnh miền Trung – gần 5%, Bắc  
bộ 83%, Nam bộ – gần 12%.  
Về chức năng đào tạo: Tại các nước tư bản,  
trường đại học được coi là tổ chức nghiên cứu  
khoa học với các phòng thí nghiệm được trang bị  
không thua kém các trung tâm nghiên cứu quốc  
gia.  
Về chức năng sản xuất: Rất ít tài liệu nói về  
chức năng sản xuất công nghiệp trong các tổ  
chức NC&TK tại các nước phát triển và trong  
khu vực. Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,  
nhà nước đang khuyến khích đa dạng hoá hoạt  
động vì vậy chức năng sản xuất trở thành cần  
thiết xét theo cả khía cạnh ứng dụng, gắn trực  
tiếp với sản xuất lẫn khía cạnh “tồn tại”.  
3. Quá trình tái cấu trúc hệ thống tổ chức  
NC&TK của Việt nam từ Nghị định 35-HĐBT  
năm 1992 đến nay  
3.1. Các quan điểm chính trong tái cấu trúc hệ  
thống tổ chức NC&TK ở nước ta  
Quan điểm thứ nhất: Tái cấu trúc hệ thống  
tổ chức NC&TK là quá trình nâng cao hiệu quả  
hoạt động và giải phóng tiềm năng chất xám của  
hệ thống các tổ chức NC&TK.  
2.2. Các loại hình tổ chức tổ chức NC&TK  
Theo báo cáo của Văn phòng đăng ký hoạt  
động KH&CN, tính đên hết năm 2015, tổng số  
tổ chức NC&TK đã đăng ký hoạt động là 30.072  
trong đó công lập là 1.410, ngoài công lập là  
1.597. Hệ thống tổ chức NC&TK được tổ chức  
theo hình thức viện, trung tâm, trạm trại nghiên  
cứu khoa học. Hoạt động của hệ thống này bao  
quát tất cả các lĩnh vực khoa học và công nghệ  
và được đặt trực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ,  
cơ quan thuộc chính phủ, các đoàn thể quần  
chúng hoặc tư nhân. Các tổ chức NC&TK được  
phân loại như sau:  
Quan điểm thứ hai: Hoạt động KH&CN là  
hoạt động mang tính xã hội do vậy cần được đa  
dạng hóa các tác nhân tham gia thực hiện hoạt  
động này. Mọi tác nhân đều có quyền tự do đầu  
tư, tổ chức thực hiện, sử dụng thành quả hoạt  
động NC&TK không chỉ của mình mà còn cả các  
kết quả thu được trên cơ sở kinh phí từ ngân sách  
Nhà nước, theo quy định của pháp luật.  
Quan điểm thứ ba: Tái cấu trúc hệ thống  
các tổ chức NC&TK theo nguyên tắc thứ tự ưu  
tiên, gắn kết nghiên cứu với đào tạo và sản  
xuất, đa dạng hoá loại hình tổ chức các tổ chức  
NC&TK theo thành phần kinh tế kết hợp với đa  
dạng hoá loại hình hoạt động trong tổ chức  
2.2.1. Phân theo lĩnh vực khoa học và công  
nghệ:  
________  
2 Không kể các tổ chức đã bị thu hồi giấy phép và các tổ chức có  
giấy phép đã hết thời hạn nhưng không đăng ký lại. Theo báo cáo  
của Đoàn giám sát - Ủy ban thường vụ Quốc hội thì hiện nay cả  
nước có gần 2.500 tổ chức khoa học và công nghệ, tăng 11,15 lần  
so với năm 1996.Cụ thể, có 1.111 KH&CN công lập gồm 594 tổ  
chức thuộc trung ương, 507 tổ chức thuộc địa phương, 02 viện Hàn  
lâm (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm KHXH  
Việt Nam), 02 đại học quốc gia (Đại học Quốc gia Tp. Hà Nội và  
Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh), hơn 207 trường đại học (tính  
đến 31 tháng 12 năm 2014)  
K.T.H. Duong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 30-35  
33  
NC&TK trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ cho  
các tổ chức NC&TK.  
đều quán triệt tư tưởng này. Điều đó dẫn đến sự  
thiếu đồng bộ của hệ thống biện pháp tổ chức  
thực hiện trên thực tế. Rất không may sự thiếu  
đồng bộ này lại rơi vào chính sách tài chính và  
chính sách nhân lực – hai công cụ mang tính đột  
phá mà nguyên nhân sâu xa là do sự lệch pha  
giữa hệ thống quản lý kinh tế-xã hội với hệ thống  
quản lý KH&CN. Kết quả là hệ thống tổ chức  
NC&TK với tư cách là đối tượng quản lý của cả  
hai hệ thống (hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp) phải  
hứng chịu: cho đến nay nó vẫn bị coi là cồng  
kềnh, kém hiệu quả, thiếu liên kết  
3.2. Một số phương án tái cấu trúc hệ thống các  
tổ chức NC&TK ở nước ta từ Nghị định 35-  
HĐBT năm 1992 đến nay  
3.2.1. Phương án theo Nghị định 35-HĐBT  
năm 1992 [1]  
Phương án tái cấu trúc hệ thống tổ chức  
NC&TK theo Nghị định 35-HĐBT (sau đây viết  
tắt là phương án 35-HĐBT) là phương án tự  
chuyển đổi dựa trên những biện pháp điều tiết  
bằng hệ thống các thiết chế. Phương án không  
nhằm giảm số lượng các tổ chức NC&TK mà  
ngược lại trao quyền tự do thành lập cho tất cả  
các ngành, các cấp, các thành phần kinh tế, xã  
hội, mọi công dân trên cơ sở 4 tự: tự chủ tài  
chính, tự do liên kết, tự chủ hoạt động và tự chịu  
trách nhiệm trước pháp luật. Mọi hoạt động đều  
phải được đăng ký trước pháp luật và sau khi  
đăng ký sẽ được pháp luật bảo hộ.  
3.2.2. Phương án theo Nghị định  
115/2005/NĐ-CP năm 2005 [2]  
Theo báo cáo của Đoàn giám sát - Ủy ban  
thường vụ Quốc hội, trong số 1.111 tổ chức  
NC&TK có 642 tổ chức NC&TK công lập thuộc  
diện phải chuyển sang hoạt động theo hình thức  
tự chủ, tự chịu trách nhiệm (gồm 473 tổ chức  
thuộc các bộ, ngành và 169 tổ chức thuộc các  
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Đến  
ngày 31/12/2014, có 488 tổ chức đã được phê  
duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách  
nhiệm (đạt 76%), trong đó có 380 tổ chức thuộc  
các bộ, ngành và 108 tổ chức thuộc các tỉnh,  
thành phố trực thuộc Trung ương. Số liệu Bộ  
KH&CN cho thấy đến năm 2016 về cơ bản các  
tổ chức NC&TK công lập đã được phê duyệt đề  
án thực hiện cơ chế tự chủ.  
Từ sau khi Nghị định 35-HĐBT được ban  
hành đến 2005, hệ thống tổ chức NC&TK nước  
ta có 806 đơn vị, trong đó khoảng 240 thuộc  
thành phần kinh tế tập thể, tư nhân, 70 thuộc các  
trường đại học và cao đẳng và nhiều tổ chức phối  
thuộc, liên doanh liên kết trong, ngoài nước.  
Hình thức tổ chức NC&TK tự trang trải do các  
Viện, Trung tâm, các trường đại học lập ra theo  
Nghị định 35-HĐBT suy cho cùng là hình thức  
“tổ chức NC&TK cổ phần” hoặc tổ chức  
KH&CN bán công và rất có thể sẽ xuất hiện  
“công khai” trong hệ thống thời gian tới. Quá  
trình này thực chất là quá trình cổ phần hoá tự  
phát. Chỉ có điều là trong quá trình cổ phần hoá  
tự phát này chúng ta chưa kịp phát hiện để quy  
định rạch ròi quyền sở hữu và sử dụng nguồn lực.  
Cần lưu ý rằng con số 76% và cụm từ “về cơ  
bản” chỉ nói lên là đã được phê duyệt đề án  
chuyển đổi chứ không phản ánh việc chuyển đổi  
thành công hay không thành công. Cũng cần phải  
nói thêm rằng, Nghị định 115/2005/NĐ-CP đã  
qua ít nhất 4 lần điều chỉnh (2 lần về thời gian  
thực hiện và 2 lần bổ sung các quy định). Còn  
nhiều bấp cập trong quá trình thực thi tái cấu trúc  
hệ thống các tổ chức NC&TK theo phương án  
này. Một trong những bất cập mang tính “gốc rễ”  
là chưa quy định rõ ràng giữa sở hữu nhà nước  
và quyền sử dụng của các tổ chức NC&TK công  
lập.  
Phương án 35-HĐBT là phương án khả dĩ để  
tiến hành tái cấu trúc hệ thống các tổ chức  
NC&TK ở Việt nam với tư tưởng chủ đạo là tự  
do hoá và tự chủ nguồn lực và tự chịu trách  
nhiệm trước pháp luật. Để thực hiện, trong  
phương án đã thiết kế một hệ thống các biện  
pháp chính sách đồng bộ. Nhưng do nhận thức,  
ý thức trách nhiệm, trình độ quản lý trong bối  
cảnh chuyển đổi nên không phải mọi nơi mọi lúc  
Đó là mâu thuẫn giữa một bên đề cao vai trò  
sở hữu của Nhà nước và một bên là tính tự quyền  
của tổ chức NC&TK. Xuất hiện vấn đề quan hệ  
giữa chủ sở hữu và chủ sử dụng. Tính chất công  
K.T.H. Duong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 30-35  
34  
hữu, toàn dân của quan hệ sở hữu đã trực tiếp chi  
Điều cần quan tâm khi thực hành phương án này,  
ít thấy những nét tái cấu trúc: Cơ cấu không thay  
đổi ngoại trừ thêm một vài viện tương ứng với  
chức năng của bộ chủ quản. Ví dụ, Viện Tài  
nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi  
trường, trong khi Viện Khoa học thủy lợi quốc  
gia đã nghiên cứu từ khi thành lập (1959) đến  
nay.  
phối quan hệ sử dụng. Với tư cách là chủ sở hữu,  
nhà nước muốn tăng cường vai trò điều tiết trực  
tiếp của mình, trong khi các tổ chức NC&TK  
muốn được tự quyết sử dụng tài sản với tư cách  
là công cụ sản xuất mà thiếu nó không thể nói  
đến quyền tự chủ đúng nghĩa. Mâu thuẫn này đã  
và đang là vấn đề ngay cả trong tái cấu trúc hệ  
thống doanh nghiệp nhà nước, cho nên không  
ngạc nhiên vì sao việc thực hiện tái cấu trúc theo  
phương án theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP lại  
khó khăn đến thế.  
Cũng cần nói thêm rằng, việc Quy hoạch hệ  
thống các tổ chức NC&TK nói chung và mạng  
lưới các tổ chức NC&TK thuộc Chính phủ nói  
riêng lần đầu tiên được thực hiện ở nước ta. 133  
Viện quốc gia cũng là con số lớn trong khi Hàn  
Quốc là 27, Indonesia 26, Singapore 16 v.v. Bên  
cạnh đó, bản chất của khoa học là luôn xuất hiện  
nhưng lĩnh vực mới đôi khi làm thay đổi triết lý  
phát triển và đối lập lại tính “cố định cứng theo  
không gian và thời gian” của quy hoạch. Chưa  
nói tới việc với xu thế internet kết nối vạn vật  
hiện nay thì quy hoạch theo không gian các tổ  
chức NC&TK không nhiều ý nghĩa.  
Mặc dù Vũ Cao Đàm (2017) [3] đã đánh giá  
Nghị định 115/2005/NĐ-CP như là tuyên ngôn  
của nhà nước về sự bắt đầu của triết lý 4 trong hệ  
thống KH&CN: “Mọi hoạt động KH&CN đều  
được quyền tự trị (Autonomy), kể cả các hoạt  
động KH&CN trong khuôn khổ các tổ chức  
KH&CN do nhà nước thành lập”. Thế nhưng, do  
không thể giải quyết trọn vẹn mâu thuẫn giữa sở  
hữu và sử dụng cộng với tâm lý không muốn mất  
“bộ hạ” để giữ “thần thiêng” nên phương án tái  
cấu trúc theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP phân  
hệ tổ chức NC&TK công lập vẫn còn dang dở  
Nhận diện thực tế trên đây có thể giúp giải  
quyết những khó khăn nảy sinh trong quá trình  
thực hiện tái cấu trúc theo phương án 171/QĐ-  
TTg.  
3.2.3. Phương án tái cấu trúc theo Quyết định  
171/QĐ-TTg năm 2016  
Cũng cần phải nói thêm rằng các phương án  
35–HĐBT và 115/2005/NĐ-CP có cùng chung  
một triết lý chính sách đó là quyền tự chủ, tự chịu  
trách nhiệm của các tổ chức NC&TK, còn  
phương án 171/QĐ-TTg thực tế là một bản quy  
hoạch cứng theo thời gian và không gian. Các  
giải pháp chính sách mà Nghị định 35-HĐBT  
đưa ra được xem như là chính sách đổi mới với  
nghĩa là tập hợp có hệ thống các chính sách để  
quản lý hệ thống các tổ chức NC&TK. Các giải  
pháp của 115/2005/NĐ-CP chủ yếu tập trung  
vào các thiết chế tài chính và tổ chức. Quyết định  
về sở hữu và sử dụng tài sản của các tổ chức  
NC&TK không thể và không thuộc thẩm quyền  
ở cấp Nghị định của chính phủ. Giải pháp của  
171/QĐ - TTg chủ yếu là giải pháp hành chính –  
quy định mỗi bộ, cơ quan ngang bộ cơ quan  
thuộc Chính phủ có bao nhiêu tổ chức NC&TK.  
Thực chất, đây là Quy hoạch mạng lưới  
(phân hệ) các tổ chức NC&TK công lập do thủ  
tướng quyết định thành lập [4]. Theo đó, trong  
thời gian từ 2016 -2020 có 133 tổ chức NC&TK  
cấp quốc gia đặt trực thuộc các bộ và cơ quan  
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Đáng lưu ý  
theo phương án này có 03 tổ chức trực thuộc Đại  
học Quốc gia Hà Nội; 01 tổ chức trực thuộc Đại  
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Với tính  
chất của Quy hoạch là cố định theo không gian  
và thời gian, từ 2016 đến 2020 số tổ chức  
NC&TK cấp quốc gia sẽ cố định là 133 và sẽ  
được cắt giảm 30% (khoảng 40 tổ chức) đến năm  
2030 nghĩa là sẽ có điều chỉnh quy hoạch theo  
hướng giảm đầu mối.  
Ngoài ra, có trên dưới 1.000 các tổ chức  
NC&TK công lập thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,  
thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức,  
cơ quan nhà nước ra quyết định thành lập (không  
thuộc đối tượng điều chỉnh của Quyết định này).  
K.T.H. Duong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 30-35  
35  
4. Kết luận  
Từ năm 1986 đến nay, có rất nhiều chính  
xa so với hoạt động gieo cấy. Chẳng phải chúng  
ta đang muốn họ được như thế sao nhất là rất  
không muốn tiếp tục “nuôi” họ thuần túy bằng  
tiền ngân sách! Hãy phi “chủ quản” họ và thực  
hiện đánh giá qua việc họ làm cho chính mình và  
cho xã hội. Hệ giá trị sẽ thay đổi khi được tự do  
trong sự hỗ trợ bằng pháp luật của Nhà nước.  
sách khác nhau tác động lên hệ thống các tổ chức  
KH&CN nói chung và hệ thống các tổ chức  
NC&TK nói riêng. Có những tác động dương  
tính, có tác động tâm tính và có tác động ngoại  
biên. Nhưng với tư cách là hệ thống, hệ thống  
này luôn biến đổi để thích nghi, tồn tại và phát  
triển dưới những tác động đó. Một trong những  
thay đổi để thích nghi đó là tái cấu trúc. Chính  
sách các phương án trình bày trên đây đều nhằm  
khuyến khích sự thay đổi đó. Tuy nhiên, do môi  
trường chính sách của hệ thống lớn – hệ thống  
KT-XH chưa thật thuận lợi nên sự thành công  
của các phương án nêu trên còn hạn chế. Cho đến  
nay hoạt động của hệ thống các tổ chức NC&TK  
nước ta vẫn còn dàn trải và chưa phát huy hết  
tiềm năng.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Council of Minister, Decree 35-HDBT on Science  
and Technology Management (in Vietnamese),  
Hanoi, February 28, 1992.  
[2] Government, Decree 115/2005/ND-CP on the  
Mechanism of Autonomy and Self-Responsibility  
in Terms of Tasks, Finance and Assets,  
Organization and Payroll of Public Scientific and  
Technology Organizations (in Vietnamese), Hanoi,  
May 16, 2005.  
[3] V.C Dam, Evaluation of Results and Proposing  
Solutions to Enhance the Implementation of  
Decree 115-2005/ND-CP on Autonomy and Self-  
Responsibility of Public Scientific and Technology  
Organizations and Decree 80-2007/ND-CP of the  
Government (in Vietnamese), 2017.  
Để thay cho lời kết, tác giả muốn nói tới một  
xu thế đang đến gần: xu thế khoa học trị. Nó tồn  
tại ở phương Tây ngay từ khi các trường đại học  
ra đời ở Ý. Nhà nước có thể giao lại tài sản (vốn  
là công cụ của người lao động khoa học) có điều  
kiện cho tập thể khoa học sở hữu và sử dụng  
miễn sao không làm xáo động xã hội. Hãy để họ  
tự do, tự tại như người nông dân trên mảnh đất  
khoán, mặc dù hoạt động KH&CN khác xa, rất  
[4] Prime Minister, Decision No.171/QD-TTg  
Approving the Planning of the Network of Public  
Scientific and Technology Organizations to 2020,  
with a Vision to 2030 (in Vietnamese), Hanoi,  
January 27, 2016.  
pdf 6 trang Thùy Anh 17340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhìn lại một số phương án tái cấu trúc hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai nước ta dưới tác động của chính sách", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhin_lai_mot_so_phuong_an_tai_cau_truc_he_thong_to_chuc_nghi.pdf