Bàn về đánh giá chứng cứ trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng hiện nay

BÀN VỀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP  
ĐỒNG MUA BÁN VẬT LIỆU XÂY DỰNG HIỆN NAY  
Ths NCS Dương Quốc Cường  
1. Đặt vấn đề  
Hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng nói riêng, hợp đồng mua bán tài sản nói chung là  
“sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua  
và bên mua trả tiền cho bên bán”1. Luật thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm  
2017, 2019 và Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2016, 2018, 2019, 2020  
không đưa ra Điều, khoản cụ thể nào ghi nhận thế nào là hợp đồng mua bán vật liệu xây  
dựng hay mua bán hàng hóa là vật liệu xây dựng; tuy nhiên tại Khoản 8 Điều 3 Luật  
Thương mại có nói rằng, mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán  
có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán;  
bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo  
thỏa thuận; tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại khẳng định hoạt động thương mại là  
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu  
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Liên quan vật  
liệu xây dựng, theo Quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ số 27/2018/QĐ-TTg ngày  
08 tháng 07 năm 2018 ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam thì “...mã ngành  
47524 là bán lẻ xi măng, gạch xây, ngói, đá, cát sỏi, sắt thép và vật liệu xây dựng khác  
trong các cửa hàng chuyên doanh; mã ngành 4663 là bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt  
khác trong xây dựng như bán buꢀn gỗ cây, tre, nứa; bán buôn sản phẩm gỗ sơ chế; bán  
buꢀn sơn và vecni; bán buꢀn vật liệu xây dựng như: cát, sỏi; bán buôn giấy dán tường  
và phủ sàn; bán buôn kính phẳng; bán buꢀn đồ ngũ kim và khóa; bán buꢀn ống nối,  
khớp nối và chi tiết lắp ghép khác;bán buꢀn bình đun nước nóng; bán buôn thiết bị vệ  
sinh như: bồn tắm, chậu rửa, bệ xí, đồ sứ vệ sinh khác; bán buôn thiết bị lắp đặt vệ sinh  
như ống, ống dẫn, khớp nối, vòi, cút chữ T, ống cao su, bán buôn dụng cụ cầm tay như  
búa, cưa, tua vít, dụng cụ cầm tay khác...” 2.  
Bài viết này, thông qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa,  
cụ thể là tranh chấp hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng trong hoạt động kinh doanh  
448  
thương mại giữa nguyên đơn và bị đơn đều là Thương Nhân thực hiện hoạt động thương  
mại trên lãnh thổ Việt Nam, tác giả nghiên cứu khía cạnh “đánh giá tài liệu, chứng cứ  
chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phiếu xuất kho, biên bản giao  
nhận hàng hóa và thông báo yêu cầu thanh toán nợ”,trong quá trình tham gia tố tụng  
tại Tòa án cấp sơ thẩm, quá đó xin nêu đề xuất bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật  
thương mại liên quan đến đánh giá chứng cứ trong hoạt động mua bán hàng hóa hiện  
nay.  
2. Quy định pháp luật trong tố tụng dân sự về vấn đề cần phải chứng minh và  
nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh theo yêu cầu khởi kiện.  
Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định về quyền khởi kiện vụ án, theo  
đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp  
khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu  
cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; khi khởi kiện, nguyên đơn phải có  
nghĩa vụ “chứng minh” theo “yêu cầu khởi kiện” của mình theo quy định tại Điều 91  
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và  
lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng  
cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là “có căn cứ và hợp pháp”, trừ các trường hợp quy  
định tại khoản 1 Điều này; tại khoản 4 Điều 91 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 có  
quy định đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa được  
chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo  
những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc, trừ trường hợp không cần phải  
chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định những  
tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh.  
Việc vận dụng các quy định pháp luật nêu trên trong việc đánh giá chứng cứ giải quyết  
tranh chấp trong vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng giữa nguyên  
đơn và bị đơn đều là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, được thành lập  
hợp pháp theo pháp luật doanh nghiệp năm2014hay Luật Doanh nghiệp năm 2020, tác  
giả nhận thấy thực tế đã có “một số trường hợp bất cập” trong việc nguyên đơn cung  
cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình được thể hiện tại bản  
tự khai; văn bản trình bày ý kiến về vụ án mà mình đang khởi kiện trong quá trình thu  
thập tài liệu chứng cứ; cũng như tại phần trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của mình tại phiên tòa. Tác giả xin nêu ví dụ sau đây.  
449  
Ví dụ: công ty TNHH hai thành viên A (từ đây viết tắt ctyA); Người đại diện theo pháp  
luật: ông Nguyễn Văn J, sinh năm 1978, chức vụ: Giám Đốc; trụ sở 123 Quốc lộ 1A,  
phường X, Quận Y, Thành phố N, khởi kiện công ty TNHH hai thành viên B (từ đây  
viết tắt cty B); Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn K, chức vụ: Giám đốc;  
trụ sở: 456 đường Hùng Vương, phường H, Quận Z, Thành phố M, về việc cty B không  
thanh toán tiền mua vật tư xây dựng mà cty A đã bán cho cty B nhưng cty B không  
phản hồi; cty đã gửi thông báo yêu cầu cty B thanh toán tiền nợ do mua vật liệu xây  
dựng hưng cty B không ý kiến, là có đồng ý hay không đồng ý thông báo đòi nợ cty,  
cũng như các yêu cầu khởi kiện của cty A.  
Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp trong hồ sơ khởi kiện bao gồm: đơn khởi kiện,  
chứng từ liên quan giấy phép thành lập doanh nghiệp cty A, giấy phép thành lập doanh  
nghiệp cty B, chứng minh nhân dân người đại diện theo pháp luật công ty A; hợp đồng  
nguyên tắc mua bán vật liệu xây dựng giữa cty A với cty B, các chứng từ “phiếu xuất  
kho, biên nhận giao nhận vật liệu xây dựng, hóa đơn thuế giá trị gia tăng, file word gửi  
bằng hình thức email được in ra giấy A4 thể hiện thông tin cty A gửi cho cty B về thông  
báo thꢀng đòi nợ, thꢀng tin liên quan xác định công nợ, yêu cầu đặt hàng giữa hai bên,  
thông báo công ty yêu cầu cty B thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng.v.v..”và một số  
hình ảnh như sắt, ống nước, các bao xi măng tại kho chứa hàng cty.v.v..., ngoài ra, cty  
A còn cung cấp bản tự khai yêu cầu cty B thanh toán tiền gốc, tiền lãi do chậm thanh  
toán tiền hàng hóa kể từ khi cty A phát hành thông báo yêu cầu cty B trả nợ “theo mức  
lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với  
thời gian chậm trả”,2 trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định  
khác theo Điều 306 Luật Thương mại.  
Trước yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, sau khi Tòa án thụ lý vụ án, theo quy định pháp  
luật thì Tòa án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn theo Điều 199 Bộ  
luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyền, nghĩa vụ của bị đơn, người có quyền lợi,  
nghĩa vụ liên quan khi nhận được thông báo là trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận  
được thông báo, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án  
văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm  
theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có).Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn,  
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu  
rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá  
15 ngày.  
450  
Như vậy, để có cơ sở cho yêu cầu khởi kiện của mình được cơ quan Tòa án chấp nhận  
thì nguyên đơn cần phải chứng minh“ phiếu xuất kho, biên bản giao nhận hàng hóa là  
“chứng cứ có thật”, được xác lập trên cơ sở yêu cầu mua vật liệu xây dựng của cty B;  
nhân viên nhận hàng là có thật và là người của cty B đến cty A nhận vật liệu xây dựng;  
“thông báo yêu cầu cty B thanh toán nợ do mua vật liệu xây dựng đảm bảo được gửi  
đến cty B” và “cty B đồng ý”với yêu cầu thanh toán tiền vật liệu xây dựng của công ty  
A; Hóa đơn thuế giá trị gia tăng; mặt dù, khi cty A xuất hóa đơn “không có chữ ký bên  
mua hàng hóa”nhưng “phải đúng quy định pháp luật” về việc xuất hóa đơn thuế giá trị  
gia tăng; và báo cáo quyết toán thuế liên quan xuất hóa đơn theo đúng quy định pháp  
luật. Vì trong tình huống này, hóa đơn thuế (VAT) được xuất “không phải”thuộc trường  
hợp bán hàng qua “điện thoại”, mạng, fax,nước ngoài; không phải bán hàng cho khách  
lẻ.v.v...và không phải hóa đơn điện tử - không cần chữ ký người mua theo hướng dẫn  
công văn số 60008/CT-TTHT do Cục Thuế Thành Phố Hà Nội ban hành ngày  
31/07/2019 về miễn chữ ký người mua trên hóa đơn điện tử.  
Đây là giai đoạn thu thập tài liệu chứng cứ, nhằm chuẩn bị hòa giải, xét xử theo thời  
hạn quy định tại Điều 203 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 nếu như các bên không thể  
tiến hành hòa giải thành được theo trình tự thủ tục tại các Điều 205, 206, 207, 208, 209,  
210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định nguyên tắc tiến hành hòa  
giải; những vụ án dân sự không được hòa giải, những vụ án dân sự không tiến hành hòa  
giải được, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ  
và hòa giải, thành phần tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công  
khai chứng cứ và hòa giải; biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công  
khai chứng cứ và hòa giải.  
3. Tài liệu chứng cứ cần đánh giá xem xét và những vướng mắc phát sinh trong  
thực tiễn.  
Thứ nhất, về “phiếu xuất kho”, “…phiếu xuất kho là mẫu phiếu được lập ra để ghi chép  
về thông tin hàng hóa xuất kho. Phiếu xuất kho nêu rõ thông tin của người nhận hàng,  
lý do xuất kho, thông tin hàng hóa, số lượng xuất kho....”3, bên dưới phiếu xuất kho,  
ngoài ngày tháng năm, luôn thể hiện ngườilập phiếu, người nhận hàng, thủ kho, kế toán  
hoặc bộ phần có nhu cầu nhận và giám đốc công ty tên.  
Câu hỏi đặt ra là phiếu xuất kho có tầm quan trọng như thế nào và phiếu xuất kho có  
phải chứng cứ trong vụ án tranh hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng khi xảy ra hay  
không?.Chúng ta biết rằng, “khác với việc giải quyết vụ án hình sự, việc giải quyết vụ  
451  
việc dân sự là việc xem xét trách nhiệm giữa các cá nhân với nhau, do đó nghĩa vụ  
chứng minh thuộc về các đương sự”4. Do Đó, việc cung cấp tài liệu chứng cứ trong vụ  
án dân sự nhằm chứng minh theo yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ pháp luật là  
do đương sự trong trường hợp này là nghĩa vụ của nguyên đơn, ngoại trừ những tình  
tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự  
2015. Do Vậy, phiếu xuất kho được xem là một trong những tài liệu chứng cứ thể hiện  
có giao dịch “giao nhận” vật liệu xây dựng xảy ra giữa bên mua và bên bán. Việc xem  
xét đánh giá chứng cứ là phiếu xuất kho trước ý kiến trình bày của nguyên đơn là trách  
nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo Điều 108 Bộ  
luật Tố tụng Dân sự 2015 về đánh giá chứng cứ, cụ thể việc đánh giá chứng cứ phải  
khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. Tòa Phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên  
quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh  
của từng chứng cứ.  
Xuất phát từ thực tế đời sống, đã xảy ra một số bất cập sau: Một là, về các chủ thể tham  
gia ký kết vào phiếu xuất kho; vẫn có “phiếu xuất kho” “không”có chữ ký và đóng dấu  
của người đại diện công ty bán hàng, người ký tên đại diện bên bán hàng có thể nhân  
viên công ty, không thể hiện rõ chức danh trong công ty. Đối với bên nhận hàng, do có  
mối quan hệ thân quen từ trước nên bên bán hàng chỉ cần nhận được cuộc gọi từ cty  
phía mua hàng, chốt số lượng, giá.v.v... thì bên bán hàng sẽ giao hàng cho nhân viên  
bên mua, khi họ đến nhận hàng mà “không cần kiểm tra giấy ủy quyền từ công ty mua  
hàng ủy quyền cho nhân viên nhận hàng”. Hai là, về nhân thân nhân viên đếnnhậnhàng  
khi ký vào phiếu xuất kho đại diện bên mua hàng cũng không ghi nhận rõ ràng, cty bán  
hàng “ít khi photo chứng minh nhân dân” hoặc lưu lại số điện thoại của người nhận  
hàng, phòng trong tình huống khi cần đối chất liên quan đến giao hàng là có thể liên hệ  
được ngay..v.v.... thậm chí nhân viên nhận hàng“chỉ ký và ghi tên mình vào chứ không  
ghi đầy đủ họ và tên, địa chỉ tạm trú thường trú.v.v...”. Xét tình huống nêu trên, cty A  
(bên bán) cần biết rằng, người nhận hàng có thể “là người làm chứng” cho việc nhận  
vật liệu xây dựng cho bên bán nếu như các bên có tranh chấp phát sinh, nhằm đối chiếu  
khối lượng, số lượng vật tư xuất kho giao khi giao hàng cho bên mua.  
Do vậy,thực tế cho thấy, khi phát sinh tranh chấp, việc có được thông tin chính xác về  
việc nhân viên nhận vật liệu xây dựng từ bên người mua với tư cách là người làm chứng  
thì người này đã “nghỉ việc” hay thậm chí họ bị “thương tật”, bệnh và chết.v.v..; và nếu  
phía cty B (bên mua hàng) không hợp tác cung cấp địa chỉ nhân viên này, thì việc chứng  
minh nguồn tài liệu chứng cứ phiếu xuất kho, phiếu giao nhận hàng hóa vật liệu xây  
452  
dựng là “có thật”, ít nhiều cũng bị ảnh hưởng, từ đó, có ảnh hưởng đến việc giải quyết  
vụ án một cách nhanh chóng, hạn chế chi phí, rủi ro .v.v... cho người khởi kiện.  
Thứ hai, về “thꢀng báo yêu cầu thanh toán nợ có được thay thế biên bản đối chiếu công  
nợ hay khꢀng?”.Chúng ta biết rằng, theo quy định pháp luật “biên bản đối chiếu công  
nợ” là biên bản tổng hợp, so sánh, hạch toán tất cả các khoản phải thu và khoản phải trả  
của doanh nghiệp một cách đầy đủ và chính xác với từng giao dịch phát sinh trong kỳ  
kế toán. Các giao dịch liệt kê trong biên bản đối chiếu công nợ đều phải có chứng từ,  
giấy tờ, sao kê,…có xác nhận của các bên đúng quy định nhằm đảm bảo tính chính xác  
của sổ sách kế toán. Khi đối chiếu công nợ phải tuân thủ các nguyên tắc sau: “…các  
bên phải đáp ứng điều kiện về chủ thể đối chiếu công nợ theo quy định của pháp luật;  
nội dung đối chiếu công nợ khꢀng trái quy định pháp luật, không trái các giá trị đạo  
đức xã hội; đối chiếu công nợ giữa các bên hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện và công  
bằng, tôn trọng lẫn nhau; việc đối chiếu công nợ phải được lập thành văn bản, gọi là  
biên bản đối chiếu công nợ. Biên bản đối chiếu công nợ là văn bản hoặc các hình thức  
khác tương đương, xác lập làm căn cứ để kiểm tra tình trạng thanh toán nghĩa vụ tài  
chính của các bên….”.5  
Như vậy, biên bản đối chiếu công nợ là cơ sở pháp lý chứng minh theo yêu cầu khởi  
kiện của nguyên đơn trong trường hợp bên mua và bên bán đã ký vào biên biên đối  
chiếu công nợ mà không thực hiện nghĩa vụ, từ đó gây thiệt hại lẫn nhau mà giữa các  
bên không có thỏa thuận gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Biên bản đối chiếu công  
nợ, nó không tuân theo mẫu nhất định hay thông số nào nhưng bản thân biên bản đối  
chiếu công nợ phải thể hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên như các khoản nợ phải thu,  
thời hạn thanh toán nợ, xác nhận của người có thẩm quyền trong công ty.v.v.. điểm khác  
biệt về nội dung và hình thức của biên bản đối chiếu công nợ và thông báo yêu cầu  
thanh toán nợ là đó là sự thống nhất về số tiền, thời hạn thanh toán, địa điểm thanh  
toán, phương thức thanh toán v..v....được ký xác nhận giữa bên mua hàng hóa và bên  
bán hàng hóa; trong khi đó, thông báo yêu cầu thanh toán nợ chỉ là hành vi pháp lý  
đơn phương của một bên, có thể là bên bán hoặc bên mua, chưa thể hiện xác nhận bằng  
văn bản số nợ phải thực hiện với nhau.  
Thực tế cho thấy, từ tình huống nêu trên đã phát sinh một số vấn đề bất cập sau: Một là,  
giữa bên bán và bên mua có tranh chấp liên quan một số vấn đề như chất lượng, số  
lượng, mẫu mã vật liệu, xuất xứ hàng hóa.vv... thậm chí thời gian giao vật liệu chậm  
làm ảnh hưởng tiến trình thi công công trình xây dựng.v.v... từ đó các bên “không thể  
453  
ngồi lại với nhau để đối chiếu công nợ”. Vì thế, nhằm thu hồi khoản nợ do bên mua  
chưa thanh toán, cty A phát hành thông báo yêu cầu cty B trả tiền bên mua chưa thanh  
toán, cy A gửi email đến cty B, trong email thường ghi nhận thời hạn thanh toán, tiền  
lãi phát sinh nếu như cty B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn và “ấn định  
thời hạn trả lời” về khoản tiền yêu cầu cty B phải trả.v.v…, hết thời hạn trả lời, nếu cty  
A không nhận được phản hồi thì cty A xem như cty B đồng ý với yêu cầu thanh toán  
nợ của cty A, và cty A có quyền “phát hành hóa đơn thuế giá trị gia tăng” gửi cho cty  
B theo địa chỉ ghi nhận trong hợp đồng nguyên tắc mà hai bên ký kết.  
Nhận thấy, việc cty A phát hành hóa đơn thuế giá trị gia tăng gửi cho cty B, có thể cty  
A tránh trường hợp “lập hóa đơn sai thời điểm” và “phải chịu mức phạt” quy định tại  
Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định về xử phạt vi phạm  
hành chính về thuế và hóa đơn; thực tế, cùng với việc cty A gửi chứng từ cho cty B thì  
cty A cũng đã gửi thông báo yêu cầu thanh toán nợ, bản photo hóa đơn thuế giá trị gia  
tăng đã xuất cho cty B, phiếu xuất kho, biên bản giao nhận hàng hóa, hợp đồng nguyên  
tắc, tài liệu liên quan khác vv.. tạo thành bộ chứng từ gửi cho cơ quan Tòa án; và tại  
bản tự khai, cty A cho rằng, một là, thông báo yêu cầu thanh toán nợ, là “văn bản đối  
chiếu công nợ” là “cơ sở xuất hóa đơn thuế giá trị gia tăng”; hai là, từ khi cty B nhận  
Thông báo yêu cầu thanh toán nợ, được cty A gửi bằng email, gửi qua bưu điện theo  
địa chỉ cty B, đến trước khi cty A xuất hóa đơn (VAT), cty B“không trả lời” điều có  
đồng nghĩa “cty B đồng ý” với nội dung yêu cầu thanh toán tiền mà cty A gửi đến.  
Như vậy, việc đánh giá chứng cứ, “thông báo về công nợ ” do cty A gửi đến cty B, có  
được xem xét là chứng cứ duy nhất chứng minh cho nghĩa vụ phải thanh toán nợ cho  
cty A hay không, nếu như các bên khꢀng có sự thỏa thuận bằng văn bản mọi đề nghị,  
giao kết, yêu cầu, thông báo của bên bán gửi cho bên mua, mà bên mua không trả lời  
thì coi như bên mua đồng ý với nội dung mà bên bán gửi đến.  
Chúng ta so sánh pháp luật hình sự để thấy được sự khác biệt về nghĩa vụ chứng minh  
trước cơ quan tiến hành tố tụng. “Điều 15 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định: trách  
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người  
bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội…”6. Khi đề  
cập quyền im lặng của bị can bị cáo,bài viết Tiến sỹ Phạm Minh Tuyên, tạp chí Tòa án  
nhân dân số 23 (kỳ I tháng 12/2019) nói rằng,theo quy định trên (Điều 15 BLTTHS)  
thì“....các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm chứng minh tội phạm thông  
qua các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh  
454  
hành vi phạm tội của người nào đó, chứ không thể căn cứ căn cứ việc người bị buộc tội  
không thể chứng minh được mình bị vô tội, suy đoán, cáo buộc họ là người thực hiện  
hành vi phạm tội....7”  
Nhận thấy, đối với ví dụ trên, việc nguyên đơn rằng, cty B không trả lời là hoàn toàn  
đồng ý là “chưa” có thỏa thuận trong hợp đồng. Mặt khác, qua nghiên cứu pháp luật  
cho thấy, pháp luật dân sự không có quy định trong một điều luật cụ thể hay trong  
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định rằng, khi bên bán gửi thông báo yêu  
cầu thanh toán nợ đến bên mua, mà bên mua không trả lời là coi như bên mua đồng ý  
yêu cầu thanh toán nợ của bên bán. Như vậy với tình huống nêu trên, để giải quyết vụ  
án, chúng tôi xin nêu một số ý kiến sau đây.  
4.Các vấn đề đặt ra khi đánh giá chứng chứng minh theo yêu cầu khởi kiện và ý  
kiến bổ sung theo hướng hoàn thiện pháp luật.  
Như đã phân tích, pháp luật tố tụng dân sự quy định nguyên tắc cơ bản về cung cấp  
chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự là của người khởi kiện, đương sự có quyền  
và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu  
cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu  
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập,  
cung cấp chứng cứ, chứng minh thư đương sự. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự  
trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những  
trường hợp do bộ luật này quy định. Vậy trong một số trường hợp người tiến hành tố  
tụng xử lý như thế nào để thu thập chứng cứ một cách đầy đủ nhằm giải quyết vụ  
án“toàn diện, khách quan” do các bên đương sự không thể hòa giải thành được.  
Chúng tôi xin nêu một số ý kiến sau đây trong việc đánh giá tài liệu chứng cứ là “phiếu  
xuất kho”,“biên bản giao nhận” và “thông báo yêu cầu thanh toán tiền của phía cty A  
gửi cho cty B nhưng cty B khꢀng trả lời” thì cty B có đồng ý toàn bộ yêu cầu của cty A  
hay không.  
Thứ nhất: Pháp luật tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ chứng minh theo yêu cầu khởi  
kiện của mình là có căn cứ và đúng quy định pháp luật là nghĩa vụ của người khởi kiện,  
xét giá trị chứng cứ là “phiếu xuất kho, biên bản giao nhận”hàng hóa, thực tế gặp những  
quan điểm sau:  
455  
Quan điểm thứ nhất: Chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự quy định  
rất rõ, nghĩa vụ chứng minh phiếu xuất kho và biên bản giao nhận vật liệu xây dựng  
giữa các bên là có “thật” và là bằng chứng giữa hai cty A và cty B thực hiện giao dịch  
giao hàng hóa theo yêu cầu mua hàng của cty B với giá cả do các bên đã thỏa thuận,  
người nhận vật liệu xây dựng là nhân viên cty B, có ký xác nhận tại phiếu xuất kho và  
biên bản giao nhận hàng hóa. cty A cho rằng phiếu xuất kho, biên bản giao nhận hàng  
hóa là chứng cứ chứng minh có quá trình giao nhận hàng hóa giữa hai công ty.  
Trong trường hợp cty B cho rằng, nhân viên nhận hàng không phải là nhân viên của cty  
B thì yêu cầu cty B mời nhân viên nhận vật liệu xây dựng có tên trên phiếu xuất kho  
đến cơ quan Tòa án, thực hiện đối chất với cty A, ngoài ra, cty B có thể thực hiện việc  
giám định chữ ký mà nhân viên cty B đã ký nhận theo trình tự thủ tục quy định pháp  
luật. Việc tiến hành giám định chữ ký, mẫu chữ ký, chữ ký đối chiếu với tài liệu giám  
định chữ ký, chi phí giám định chữ ký .v.v.. được thực hiện theo quy định pháp luật, từ  
đó sẽ có bằng chứng chứng minh người nhận hàng hóa có phải là nhân viên công ty B  
hay không.  
Quan điểm thứ hai: Nghĩa vụ chứng minh “người nhận” hàng hóa với số lượng, khối  
lượng vật liệu xây dựng được ghi nhận theo phiếu xuất kho và biên bản giao nhận vật  
liệu xây dựng là nhân viên cty B rất khó xác nhận, vì trên thực tế, có thể tại thời điểm  
tranh chấp, nhân viên nhận vật liệu xây dựng này có thể đã nghỉ việc hay cty B cố tình  
không cung cấp hợp đồng lao động, không cung cấp thông tin liên quan đến nhân viên  
này. Mặt khác cty B cũng không đưa ra ý kiến là có đồng ý xác nhận rằng, người nhận  
vật liệu xây dựng là người của cty mình hay không, do vậy việc cty B “không hợp tác  
và cũng khꢀng phản đối” đối với chứng cứ trên thì cty A có quyền khẳng định người  
nhận hàng đã ghi nhận tại phiếu xuất kho và biên bản nhận hàng là nhân viên cty B;  
chính vì thể, cty B phải có trách nhiệm “thanh toán” tiền vật liệu xây dựng theo thông  
báo từ cty A.  
Quan điểm thứ ba: Những người theo quan điểm này cho rằng, cty A tiến hành khởi  
kiện cty B yêu cầu thanh toán tiền vật liệu xây dựng, do cty B mua hàng hóa, đó là  
quyền của cty A; tuy nhiên cty A cần hiểu rằng, nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của  
mình là có căn cứ và đúng quy định pháp luật là nghĩa vụ của cty A (nguyên đơn) cho  
dù cty B (bị đơn) “khꢀng đồng ý” hay“không phản đối” yêu cầu khởi kiện của mình  
trước cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý giải quyết.  
456  
Xét tình huống này, trong thời gian chuẩn bị xét xử, cty A có thể gửi văn bản yêu cầu  
cty B cung cấp địa chỉ nhân viên nhận vật liệu xây dựng hoặc cung cấp hợp đồng lao  
động (bản sao y) nhân viên nhận hàng, nhằm giúp học cung cấp thông tin liên quan  
nhân viên nhận hàng hóa và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng đưa nhân viên nhận hàng  
hóa tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng hay người có quyền lợi, nghĩa vụ  
liên quan theo quy định tại Điều 73, 77 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trường  
hợp cty B sau khi nhận văn bản đề nghị của cty A với yêu cầu nêu trên mà không trả  
lời thì cty A có quyền yêu cầu cơ quan giải quyết tranh chấp hỗ trợ họ thu thập tài liệu  
nó trên. Cty A cần cung cấp chứng từ chứng minh là cty B nhận được thông báo từ cty  
A nhưng cty B không phản hồi cho cty A.  
Thứ hai: văn bản “thông báo yêu cầu thanh toán nợ của cty A gửi cho cty nhung cty B  
không trả lời thì có được xem là cty B đồng ý toàn bộ yêu cầu của cty A hay không”,  
vấn đề này có những quan điểm như sau:  
Quan điểm thứ nhất: theo qui định pháp luật dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng  
hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa  
vụ dân sự (Điều 116 Bộ Luật Dân sự) nên khi cty A gửi thông báo yêu cầu cty B thanh  
toán tiền vật liệu xây dựng nhưng cty B không trả lời thì coi như cty B đồng ý với yêu  
cầu này của cty A, lý do trước tranh chấp, khi giao vật liệu xây dựng cho cty B, giữa  
hai cty đều có trao đổi qua lại với nhau, thậm chí giữa hai bên còn có ký “hợp đồng  
nguyên tắc” thể hiện việc mua vật liệu xây dựng với từng tiêu chí như giá cả, số lượng,  
từng giai đoạn giao nhận hàng, tiêu chuẩn chất lượng, thời điểm v.v... nhân viên kế toán  
cty A thông báo cho cty B số tiền vật liệu xây dựng đã bán hàng tháng cho cty B, nhận  
thấy, đây là sự thỏa thuận quyền và nghĩa vụ hai bên cty; mặt khác, cty A gửi văn bản  
thông báo số tiền yêu cầu cty B thanh toán, đính kèm chứng từ nhận hàng, cho dù cty  
B không trả lời là có đồng ý hay không đồng ý thì văn bản thông báo đòi nợ này vẫn có  
giá trị pháp ý “ràng buộc” cty B phải thực hiện nghĩa vụ.  
Quan điểm thứ hai: xuất phát qui định pháp luật dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng  
hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa  
vụ dân sự (Điều 116 Bộ Luật Dân sự); xét thấy trong hợp đồng nguyên tắc hay văn bản  
thỏa thuận hai bên thể hiện rõ, trường hợp cty A thông báo số tiền cần thanh toán, do  
cty B mua vật liệu xây dựng thanh toán còn thiếu hay do thay đổi giá cả hàng hóa, thay  
đổi thời điểm giao hàng, thay đổi xuất xứ hàng hóa (đề nghị giao kết mới) .v.v...cty A  
gửi email chính thức đến địa chỉ do cty B cung cấp, nếu cty B không trả lời thì xem như  
457  
cty đồng ý với yêu cầu của cty A. Như vậy, trường hợp, “thông báo yêu cầu thanh toán  
tiền vật liệu xây dựng, cty A gửi cho cty B nhưng cty B khꢀng trả lời thì được xem là  
đồng ý toàn bộ yêu cầu của cty A.”, cty A đã xuất hóa đơn thuế giá trị gia tăng theo quy  
định pháp luật; với thỏa thuận nêu trên, văn bản “thông báo yêu cầu thanh toán tiền vật  
liệu xây dựng từ phía cty A gửi cho cty B nhưng cty B khꢀng trả lời”, tuy không được  
xem là biên bản đối chiếu công nợ nhưng nó có giá trị pháp lý ràng buộc nghĩa vụ các  
bên; và được xem là “nguồn chứng cứ” quan trọng giúp cơ quan tiến hành tố tụng xem  
xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.  
Thứ ba, ý kiến đề xuất bổ sung nhằm hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến yêu  
cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án kinh doanh thương mại. Một là, trường hợp  
các bên tranh chấp là doanh nghiệp hoạt động thương mại trên lãnh thổ Việt Nam  
“không thể tiến hành đối chiếu công nợ”, nhằm đáp ứng “thời hạn giải quyết vụ án”  
theo quy định pháp luật tố tụng dân sự(tại theo Điểm b Khoản 1 Điều 203 Bộ Luật Tố  
tụng Dân sự 2015); pháp luật thương mại bổ sung theo hướng, hồ sơ khởi kiện trong  
trường hợp này, cần phải có “chứng thư kiểm toán” của công ty có chức năng kiểm toán  
độc lập đối với cty A, chứng thư này là “tài liệu bắt buộc” được đính kèm với các chứng  
từ khi khởi kiện tại cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm tránh trường hợp “vụ án phải tạm  
đình chỉ” chờ kết quả kiểm toán doanh nghiệp, do cơ quan tiến hành tố tụng phải thu  
thập tài liệu, chứng cứ làm cơ sở giải quyết vụ án hay do cty đề nghị cơ quan tiến hành  
tố tụng thực hiện “trưng cầu công ty có chức năng kiểm toán độc lập, kiểm toán đối với  
cty A và cty B”, mục đích kiểm toán là “xác định công nợ”giữa hai công ty, có đúng với  
số tiền đang tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hay không; từ đó làm  
cơ sở giải quyết vụ án toàn diện, khách quan theo quy định pháp luật. Hai là, xuất phát  
từ nguyên nhân làm các cty không thể đối chiếu công nợ với nhau nên trước khi khởi  
kiện về “tranh chấp yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ”  
theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019, nguyên  
đơn cần phải cung cấp “chứng thư kiểm toán” do công ty có chức năng kiểm toán độc  
lập tiến hành kiểm toán cty mình, làm cơ sở xác định công nợ, chứng minh“thời điểm”  
phát sinh nghĩa vụ thanh toán tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền mua hàng hóa;  
từ đó góp phần vào việc giải quyết vụ án được “nhanh chóng”, hạn chế thấp nhất thời  
gian giải quyết vụ án kéo dài, do chờ kết quả kiểm toán doanh nghiệp.  
458  
Tài liệu tham khảo:  
1.Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015 (đoạn 1);  
ban-hanh-He-thong-nganh-kinh-te-Viet-Nam-387358.aspx,truy  
cập  
vào  
ngày  
18/10/2021, lúc 09 giờ 30 phút.  
the-nao-1509.html, truy cập ngày 18/10/2021, lúc 10 giờ 30 phút.  
4.Viện nhà nhà nước và pháp luật, PGS-TS Hà Thị Mai Hiên - TS Trần Văn Biên (đồng  
tác giả), NXB Tư Pháp Hà Nội 2012, bình luận khoa học Bộ Luật Tố Tụng Dân sự, đã  
sửa đổi bổ sung năm 2011, Chương VII chứng minh và chứng cứ, trang 165.  
cong-no/,truy cập ngày 18/10/2021, lúc 11 giờ 00 phút.  
6.Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.  
7.Bàn về quyền im lặng của bị can, bị cáo, Tiến sỹ Phạm Minh Tuyên, tạp chí Tòa án  
nhân dân số 23 (kỳ I tháng 12/2019), trang 30.  
8.Bộ Luật Hình sự năm 2015.  
9 .Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.  
10.Bộ Luật Dân sự 2015.  
11.Luật Xây dựng 2014 sửa đổi bổ sung năm 2016, 2018, 2019, 2020. 12.Luật Kiểm  
toán Độc lập năm 2011.  
13.Luật Thương mại 2005 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019  
14.Quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ số 27/2018/QĐ-TTg ngày 08 tháng 07 năm  
2018 ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam  
15. Bàn về quyền im lặng của bị can bị cáo của TS Phạm Minh Tuyên, tạp chí Tòa án  
nhân dân số 23 (kỳ I tháng 12/2019).  
459  
16. Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011, Viện nhà  
nước và pháp luật, PGS-TS Hà Thị Mai Hiên-TS Trần Văn Biên, chủ biên.  
17.Thông tư 133/2016/TT-BTC ngày 26/08/2016 hướng dẫn chế độ kế toán doanh  
nghiệp nhỏ và vừa.  
18.Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh  
nghiệp.  
19.Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 qui định về xử phạt vi phạm hành  
chính về thuế và hóa đơn.  
460  
pdf 13 trang Thùy Anh 9940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về đánh giá chứng cứ trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_ve_danh_gia_chung_cu_trong_giai_quyet_tranh_chap_hop_don.pdf