Pháp luật Việt Nam về quyền riêng tư cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và một số giải pháp hoàn thiện

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN RIÊNG TƢ CÁ NHÂN TRONG  
BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN  
VIETNAMESE LAW ON PERSONAL PRIVACY IN THE CONTEXT OF  
DIGITAL CONVERTER AND SOME COMPLETE SOLUTIONS  
Bùi Thị Thu  
Đỗ Ngọc Minh Phương  
TÓM TẮT: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số tác động trực tiếp tới  
lĩnh vực pháp luật về quyền riêng tư cá nhân trên môi trường số cũng như trong đời  
thực. Thực tiễn xã hội cho thấy rằng, cơ sở dữ liệu chứa đựng những thông tin rất  
quan trọng liên quan đến bí mật cá nhân được lưu trữ trên máy tính và rất dễ bị lạm  
dụng. Mặc dù pháp luật nước ta có nhiều quy định liên quan đến quyền riêng tư cá  
nhân song vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra được một định nghĩa chính thức và  
chế tài đủ tính răn đe. Chính vì vậy, nội dung bài viết sẽ tập trung nghiên cứu về  
quyền riêng tư trong bối cảnh kỷ nguyên số, đưa ra những khó khăn, vướng mắc trong  
việc bảo vệ quyền riêng tư cá nhân, từ đó có những ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện  
các quy định của pháp luật.  
Từ khóa: bảo mật thông tin, chuyển đổi số, quyền riêng tư cá nhân.  
ABSTRACT: In the context of globalization, digital transformation has a direct  
impact on the legal field of personal privacy in the digital environment as well as in  
real life. Social practice shows that databases contain important information relating  
to personal secrets that are stored on computers and easily abused. Although our  
country's law has many provisions relating to personal privacy, there is still no  
document providing an official definition and sanction that are sufficiently deterrent.  
Therefore, the content of the article will focus on researching privacy in the context of  
the digital era, presenting difficulties and obstacles in protecting personal privacy,  
thereby giving suggestions to improve the provisions of the law.  
Keywords: information security, digital transformation, personal privacy.  
Sinh viên Khóa 44 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội ; Email: [email protected]  
 Sinh viên Khóa 44 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội; Email: [email protected];  
111  
1. Đặt vấn đề  
Theo Hiệp hội Internet Việt Nam, Internet đã trở thành một dịch vụ thiết yếu đối  
với tất cả mọi ngƣời. Ngƣời Việt Nam có rất nhiều triển vọng trên môi trƣờng  
Internet.1 Tuy vậy, Việt Nam cũng đã và đang đối mặt với nhiều vấn đề và một trong  
những thách thức hiện nay là bảo mật dữ liệu cá nhân ngƣời dùng trong bối cảnh  
chuyển đổi số đã và đang diễn ra mạnh mẽ. Chúng ta đã từng bƣớc ghi nhận và tăng  
cƣờng các quy định về quyền đƣợc bảo vệ dữ liệu cá nhân trên không gian số. Với một  
loạt các quy phạm pháp luật trong Bộ luật Dân sự, Luật An toàn thông tin mạng, và  
gần đây nhất là Dự thảo Nghị định quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân đang đƣợc soạn  
thảo và sắp đƣợc ban hành, các quy định của pháp luật Việt Nam đã tiệm cận với thế  
giới trong lĩnh vực này.  
Với những lý do trên, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quyền riêng tƣ  
cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và một số đề xuất” làm đề tài bài viết nghiên cứu  
là cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn trong tình hình hiện nay.  
2. Nội dung  
2.1. Khái quát chung về quyền riêng tư cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số hiện  
nay.  
Quyền riêng tƣ là quyền của cá nhân đƣợc tự quyết đối với đời sống của mình mà  
không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những ngƣời xung quanh khác. Theo nhà luật  
học Ruth Gavison, sự riêng tƣ chứa đựng ba yếu tố: bí mật (secrecy), vô danh  
(anonimity) và yên tĩnh (solitute). Với quyền này, cá nhân đƣợc sống nhƣ mong muốn  
của mỗi cá nhân mà không chịu ảnh hƣởng, tác động bởi bất kỳ chủ thể nào khác.  
Quyền riêng tƣ đối với thông tin cá nhân là một vấn đề tƣơng đối mới tại Việt  
Nam. Trƣớc đây, BLDS (Bộ luật Dân sự) năm 2005 chỉ dừng lại ghi nhận “quyền bí  
mật đời tư cá nhân”; tức chỉ những thông tin mang tính chất bí mật (chƣa đƣợc công  
khai) thì mới đƣợc bảo vệ. Nhằm mở rộng hơn quyền nhân thân cho cá nhân, BLDS  
năm 2015 đã ghi nhận quyền về đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, bí mật gia đình tại  
Điều 38. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất của quyền riêng tƣ đối với thông tin cá  
nhân trong BLDS. Mặc dù Điều 38 không trực tiếp sử dụng thuật ngữ “quyền riêng tư  
1 Huyền Thanh, “Bảo vệ dữ liệu cá nhân ngƣời dùng trong chuyển đổi số”, Báo Công an nhân dân,  
112  
đối với thông tin cá nhân” nhƣng nội dung của Điều luật đã phản ánh vấn đề này.  
Ngay thuật ngữ “đời sống riêng tư cá nhân”, “bí mật cá nhân” đã bao hàm nội dung  
về thông tin cá nhân, đó là những thông tin về đời sống cá nhân, thông tin về bí mật  
của cá nhân. Khoản 15 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13 ngày 19  
tháng 11 năm 2015 (gọi tắt là “Luật An toàn thông tin mạng năm 2015”) định nghĩa  
nhƣ sau: “Thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một  
người cụ thể”.  
Quyền đối với dữ liệu cá nhân (the right to personal data, hay quyền bảo vệ dữ  
liệu cá nhân/quyền về sự riêng tƣ với dữ liệu cá nhân) là một phần cốt yếu của quyền  
về sự riêng tƣ (the right to privacy) của con ngƣời2, đã trở thành một trong những vấn  
đề nhân quyền quan trọng. Quyền riêng tƣ là quyền của cá nhân đƣợc tự quyết đối với  
đời sống của mình mà không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những ngƣời xung quanh  
khác, giúp mỗi cá nhân tạo lập và kiểm soát ranh giới chính đáng với những ngƣời  
khác, từ đó bảo vệ bản thân trƣớc những sự can thiệp tùy tiện trong cuộc sống, đồng  
thời cho phép mỗi cá nhân xác định mình là ai và cách thức mà bản thân muốn tƣơng  
tác với thế giới xung quanh.  
2.2. Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền riêng tư cá nhân.  
Quyền riêng tƣ đối với thông tin cá nhân đang hàng ngày, hàng giờ bị xâm phạm  
một cách tràn lan, công khai trong thời gian gần đây. Đây là một thực trạng đáng báo  
động. Thậm chí ngay cả ngƣời bị xâm phạm cũng không biết quyền của mình bị xâm  
phạm và ngƣời xâm phạm đến quyền riêng tƣ của ngƣời khác cũng không biết hành vi  
của họ là trái luật.  
Cùng với sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0, dữ liệu cá nhân ngày nay  
đã trở thành một loại hàng hoá, đƣợc các tổ chức, cá nhân tìm kiếm, sử dụng để khai  
thác cho mục đích thƣơng mại, đồng thời đƣợc các nhà nƣớc sử dụng với mục đích  
quản lý ngƣời dân. Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển, ngày càng có nhiều  
chƣơng trình, hệ thống, biện pháp thu thập thông tin, theo dõi, giám sát cá nhân trên  
diện rộng, ở cấp độ quốc gia, thậm chí trên quy mô toàn cầu. Điều này đã xâm phạm  
nghiêm trọng đến quyền về sự riêng tƣ của các cá nhân.  
2 Vũ Công Giao, Lê Trần Nhƣ Tuyên, “Bảo vệ quyền đối với dữ liệu cá nhân trong pháp luật quốc tế, pháp luật  
ở một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí NCLP số 09 (409), tháng 5/2020.)  
113  
Một khảo sát mới đƣợc công bố gần đây của Kaspersky Lab đã chỉ ra rằng ngƣời  
dùng trên mạng xã hội hiện nay vẫn không ý thức đƣợc thông tin cá nhân của mình có  
thể bị công khai bất cứ lúc nào trên những kênh thông tin này. Nghiên cứu cũng cho  
biết, ngƣời dùng đang tự đặt mình vào nguy hiểm khi thêm bạn bè, với 12% số ngƣời  
đƣợc khảo sát chấp nhận thêm bất cứ ai vào danh sách bạn bè mà không quan tâm  
mình có biết ngƣời đó hay không. 1/3 (31%) số ngƣời dùng cũng sẽ kết nối với những  
ngƣời mình không biết nếu họ có bạn chung, việc này có thể tiết lộ bản thân với nhiều  
ngƣời lạ, thậm chí là công ty quảng cáo hay tội phạm mạng. Về sự tin tƣởng "bạn bè",  
¼ (26%) số ngƣời đƣợc khảo sát sẽ không do dự click vào một liên kết đƣợc gửi từ  
một ngƣời bạn mà không hỏi đó là gì, hoặc tính đến khả năng tài khoản của ngƣời gửi  
đã bị hack3.  
Thông tin cá nhân ngày nay đang trở thành một loại hình tiền tệ mới trong kỷ  
nguyên thông tin hiện đại. Tên, địa chỉ, ngày sinh, số điện thoại, số chứng minh nhân  
dân và địa chỉ email đều là hàng hóa đƣợc mua bán, trao đổi. Một số những thông tin  
nhƣ vậy đƣợc thu thập và sử dụng đúng pháp luật, nhƣng nhiều trƣờng hợp khác lại bị  
khai thác và giao dịch mua bán bất hợp pháp. Thông tin bị lạm dụng, ngƣời dùng hiểu  
biết về công nghệ thông tin ngày càng gia tăng, dẫn tới việc tăng trƣởng chóng mặt về  
số lƣợng thông tin cá nhân đƣợc thu thập và sở hữu. Và khi các công ty chuyển hƣớng  
sang sử dụng những dịch vụ và truyền thông trực tuyến trên Internet thì mọi ngƣời lúc  
nào cũng sẵn sàng chia sẻ thông tin cá nhân để có thể sử dụng những dịch vụ trực  
tuyến này4. Vụ việc rò rỉ thông tin cá nhân trên mạng xã hội facebook diễn ra giữa  
tháng 3 vừa qua càng phản ánh thực trạng đáng báo động về quyền riêng tƣ của cá  
nhân bị xâm phạm một cách nghiêm trọng. "Facebook đã bị lâm vào một cuộc khủng  
hoảng nghiêm trọng khi hơn 50 triệu người dùng mạng xã hội này bị Cambridge  
Analytica, một công ty phân tích dữ liệu của Anh, bị lấy cắp và sử dụng thông tin cá  
nhân trái phép mà họ không hề hay biết. Đáng chú ý trong số 10 quốc gia có số người  
dùng Facebook bị Cambridge Analytica khai thác và sử dụng thông tin trái phép thì  
Việt Nam đứng ở vị trí thứ 9, với 427.446 người dùng bị rò rỉ thông tin. Theo ước tính  
3Phan Tuấn, “Thông tin cá nhân trên mạng xã hội dễ là món hời cho tội phạm mạng”, http:dantri.com.vn/suc-  
manh-so/thong-tin-ca-nhan-tren-mang-xa-hoi-de-la-mon-hoi-cho-toi-pham-mang 20160130074813131.htm>  
4 Thu Hƣơng, “Quản lý thông tin cá nhân nhƣ nào cho hiệu quả?”, <https://quantrimang.com/quan-ly-thong-tin-  
ca-nhan-nhu-the-nao-cho-hieu-qua-59615>  
114  
của hãng nghiên cứu thị trường Statista thì đến tháng 1/2018, Việt Nam đang có 55  
triệu người dùng Facebook, khoảng 0,77% người dùng Facebook tại Việt Nam bị khai  
thác và sử dụng thông tin cá nhân một cách trái phép”5.  
Theo Luật sƣ Nguyễn Mạnh Thắng (Đoàn Luật sƣ Hà Nội): “Vì thông tin bí mật,  
6
thông tin riêng tƣ thƣờng “đánh đúng” tâm lý tò mò của nhiều ngƣời, nên trong quá  
trình hoạt động, tình trạng thông tin đời tƣ bị công khai trên phƣơng tiện truyền thông  
vẫn còn. Tiết lộ bí mật đời tƣ của ngƣời khác, lại còn đăng trên phƣơng tiện truyền  
thông có thể sẽ làm ảnh hƣởng đến nhân phẩm danh dự, thậm chí đẩy ngƣời đó vào  
tâm lý bi quan, sợ hãi, bị ngƣời khác khinh rẻ. Thực tế vừa qua, đã không ít trƣờng  
hợp vì những thông tin đời tƣ bị phát tán mà nhiều bạn trẻ rơi vào bế tắc dẫn đến tự tử.  
Đối với những ngƣời nổi tiếng, việc này làm ảnh hƣởng đến nhân phẩm, danh dự, ảnh  
hƣởng đến thái độ của khán giả và thậm chí còn làm ảnh hƣởng đến cả công việc của  
họ.”7 Nếu không có sự tin tƣởng của ngƣời tiêu dùng, hàng nghìn tỷ đô la giá trị kinh  
tế và xã hội đƣợc hứa hẹn từ dữ liệu số sẽ không thành hiện thực.  
Tóm lại, quyền về dữ liệu cá nhân nói riêng, quyền về sự riêng tƣ nói chung là  
một quyền con ngƣời có ý nghĩa to lớn để các cá nhân có thể khẳng định phẩm giá, sự  
tự chủ và nhân trạng của mình. Các tổ chức quốc tế và các quốc gia cần nhận thức  
đƣợc thách thức to lớn này trong sự phát triển của Cách mạng công nghệ 4.0 để có  
biện pháp giải quyết hiệu quả, cụ thể là ban hành những chính sách và văn bản pháp  
luật nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân trƣớc sự vi phạm của bất kỳ chủ thể nào, kể cả các  
cơ quan công quyền và các thiết chế tƣ nhân.  
2.3. Nhận thức về bảo vệ quyền riêng tư hiện nay.  
Theo các chuyên gia của công ty bảo mật Kaspersky Lab8 Việt Nam, nghiên cứu  
gần đây của Kaspersky Lab trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra rằng 32,3% ngƣời  
dùng không biết cách tự bảo vệ quyền riêng tƣ của mình khi trực tuyến. Vấn đề này  
xảy ra đối với ngƣời dùng thƣờng xuyên chia sẻ thông tin cá nhân, các vấn đề riêng tƣ  
trên mạng xã hội mà bỏ qua những rủi ro, đe dọa về bảo mật thông tin cá nhân. Việc lơ  
5 T.Thủy, “Hơn 400.000 ngƣời dùng Facebook Việt Nam bị rò rỉ thông tin cá nhân”, Báo điện tử Dân  
20180406064716935.htm>  
6 “Unleashing the Value of Consumer Data,” Báo BCG, 2013.  
7
M.M - N.B, “Quyền riêng tƣ đƣợc pháp luật bảo vệ nhƣ thế nào? Báo Pháp luật Việt Nam,  
<https://baophapluat.vn/quyen-rieng-tu-duoc-phap-luat-bao-ve-nhu-the-nao-post319663.html>  
8 hãng sản xuất và phân phối phần mềm bảo mật lớn và nổi tiếng trên thế giới  
115  
là cảnh giác, thái độ xem nhẹ đối với quyền bảo mật riêng tƣ có thể khiến ngƣời dùng  
dễ dàng trở thành mục tiêu tấn công của tội phạm mạng.  
Thực tế cho thấy, nhiều ngƣời vẫn chƣa coi trọng việc bảo mật thông tin cá nhân  
khi tự nguyện khai báo hoặc hiển thị đầy đủ thông tin của mình trên các mạng xã hội,  
từ ngày tháng năm sinh, quê quán, email, số điện thoại liên lạc, nơi làm việc, lẫn các  
mốc thời gian từ năm nào đến năm nào học tập, làm việc ở đâu…9 Các trang mạng xã  
hội, ứng dụng nhƣ FaceApp,... thƣờng yêu cầu ngƣời dùng nhập nhiều thông tin về bản  
thân để tiện lợi cho việc tìm kiếm và kết nối với các thành viên khác, và đó chính là  
cách họ xác định, theo dõi các hoạt động mà ngƣời dùng không hề hay biết.  
2.4. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư cá nhân trong thời kỳ chuyển đổi  
số.  
Vấn đề bảo vệ các giá trị riêng tƣ cơ bản của một cá nhân đã đƣợc ghi nhận ngay  
từ Hiến pháp năm 1946 và xuyên suốt trong các bản hiến pháp tiếp theo đều có quy  
định về bảo vệ quyền về sự riêng tƣ. Do đó, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận  
quyền về sự riêng tƣ của cá nhân nhƣng mở rộng, bám sát hơn nội dung quyền này  
trong luật nhân quyền quốc tế nhƣ Điều 12 Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời  
(UDHR) hay Điều 17 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Điều 13  
Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 đã quy định: “Mọi người  
có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình;  
có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá  
nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.” Nhƣ vậy, có thể khẳng định  
quyền bí mật dữ liệu cá nhân là quyền con ngƣời. Chủ thể thực hiện là tất cả mọi  
ngƣời bao gồm: công dân Việt Nam, công dân nƣớc ngoài và ngƣời không có quốc  
tịch.  
Trong nỗ lực tăng cƣờng khung pháp lý về quyền về sự riêng tƣ thông tin, Việt  
Nam đã ban hành Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Luật nêu ra định nghĩa  
thông tin cá nhân, các nguyên tắc bảo vệ quyền về sự riêng tƣ dữ liệu, quy định về thu  
thập, sử dụng, sửa đổi, xóa thông tin cá nhân cùng với trách nhiệm của chính phủ trong  
việc bảo vệ dữ liệu riêng tƣ. Luật An toàn thông tin mạng cũng yêu cầu cần có sự đồng  
9 Tƣơng Quan/SGGPO, “Đừng lơ là việc bảo vệ thông tin cá nhân”, Báo Giáo dục,  
<https://www.giaoduc.edu.vn/dung-lo-la-viec-bao-mat-thong-tin-ca-nhan.htm>  
116  
ý của chủ sở hữu trƣớc khi xử lý thông tin cá nhân (bao gồm thu thập, chỉnh sửa, sử  
dụng, lƣu trữ, cung cấp, chia sẻ hoặc lan truyền), đồng thời quy định tổ chức, cá nhân  
xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm bảo mật thông tin và phải công bố chính sách  
sử dụng và bảo vệ thông tin đƣợc xử lý10.Một số nội dung cơ bản trong Luật An toàn  
thông tin mạng nhƣ:  
(i) Các hành vi bị nghiêm cấm: Nhằm đảm bảo quyền riêng tƣ của cá nhân đối  
với các thông tin họ đã đăng tải trên mạng thì Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng  
năm 2015 đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm nhƣ: “Ngăn chặn việc truyền tải  
thông tin trên mạng, can thiệp, truy nhập, gây nguy hại, xóa, thay đổi, sao chép và làm  
sai lệch thông tin trên mạng trái pháp luật; Gây ảnh hƣởng, cản trở trái pháp luật tới  
hoạt động bình thƣờng của hệ thống thông tin hoặc tới khả năng truy nhập hệ thống  
thông tin của ngƣời sử dụng; …”  
(ii) Nguyên tắc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng: Vấn đề này đƣợc quy định  
tại Điều 16 Luật An toàn thông tin mạng, gồm các nguyên tắc cụ thể sau đây: Cá nhân  
tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình và tuân thủ quy định của pháp luật về cung cấp  
thông tin cá nhân khi sử dụng dịch vụ trên mạng; Cơ quan, tổ chức, cá nhân xử lý  
thông tin cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin mạng đối với thông tin do  
mình xử lý; Tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân phải xây dựng và công bố công  
khai biện pháp xử lý, bảo vệ thông tin cá nhân của tổ chức, cá nhân mình; Việc xử lý  
thông tin cá nhân phục vụ mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an  
toàn xã hội hoặc không nhằm mục đích thƣơng mại đƣợc thực hiện theo quy định khác  
của pháp luật có liên quan.  
(iii) Thu thập và sử dụng thông tin cá nhân: Tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá  
nhân có trách nhiệm sau đây:  
+ Tiến hành thu thập thông tin cá nhân sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin  
cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó;  
+ Chỉ sử dụng thông tin cá nhân đã thu thập vào mục đích khác mục đích ban đầu  
sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân;  
+ Không đƣợc cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân mà mình đã thu thập,  
tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trƣờng hợp có sự đồng ý của chủ thể thông tin  
10 Vũ Công Giao, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 09 (409), tháng 5/2020.  
117  
cá nhân đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền (Điều 17 Luật An  
toàn thông tin mạng năm 2015).  
(iv) Bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng: Tổ chức, cá nhân xử lý thông  
tin cá nhân phải áp dụng biện pháp quản lý, kỹ thuật phù hợp để bảo vệ thông tin cá  
nhân do mình thu thập, lƣu trữ; tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về bảo  
đảm an toàn thông tin mạng; Khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố an toàn thông tin  
mạng, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân cần áp dụng biện pháp khắc phục, ngăn  
chặn trong thời gian sớm nhất (Điều 19 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015).  
(v) Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong bảo vệ thông tin cá nhân  
trên mạng: Thiết lập kênh thông tin trực tuyến để tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của tổ  
chức, cá nhân liên quan đến bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng; Định kỳ  
hằng năm tổ chức thanh tra, kiểm tra đối với tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân;  
tổ chức thanh tra, kiểm tra đột xuất trong trƣờng hợp cần thiết (Điều 20 Luật An toàn  
thông tin mạng năm 2015).11  
Khi cá nhân đƣợc thừa nhận quyền riêng tƣ đối với thông tin thì điều này đồng  
nghĩa với các dữ liệu cá nhân cũng đƣợc bảo vệ. Do đó, vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân  
có mối quan hệ mật thiết với quyền riêng tƣ đối với thông tin cá nhân.  
Quyền riêng tƣ đối với thông tin cá nhân đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ; tuy  
vậy, quyền này không phải đƣợc bảo vệ một cách tuyệt đối. Ngay quy định tại khoản  
2, khoản 3, khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 đã thể hiện rõ việc không tuyệt đối trong  
vấn đề bảo vệ thông tin, dữ liệu của cá nhân, cụ thể:  
+ Khoản 2 Điều 38 BLDS năm 2015 quy định: "Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng,  
công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người  
đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật  
gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định  
khác". Nhƣ vậy, việc công khai thông tin của cá nhân đƣợc thực hiện trong hai trƣờng  
hợp sau đây : (i) Có sự đồng ý của cá nhân trong việc công khai thông tin. Cá nhân là  
ngƣời sở hữu các thông tin; đồng thời việc công khai hay bảo mật thông tin tác động  
trực tiếp đến cuộc sống của họ nên họ là các chủ thể đƣợc quyết định việc có thông tin  
11 Lê Thị Giang, “Quyền riêng tƣ đối với thông tin cá nhân”, Tạp chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,  
Số 17/2018, tr. 16 - 22, 61  
118  
công khai hay không. Do đó, quy định trƣờng hợp công khai thông tin cá nhân khi có  
sự đồng ý của cá nhân là hoàn toàn phù hợp; (ii) trƣờng hợp luật có quy định về việc  
bắt buộc phải công khai thông tin cá nhân: đây là những trƣờng hợp việc thu thập  
thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các công việc khác của cơ quan  
nhà nƣớc có thẩm quyền, đặc biệt trong lĩnh vực tội phạm. Do vậy, đối với các trƣờng  
hợp này, việc thu thập thông tin không cần phải đƣợc sự đồng ý của cá nhân.  
+ Khoản 3 Điều 38 BLDS năm 2015 quy định: "Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ  
thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin  
riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định". Để  
truyền tải các thông tin, các cá nhân thƣờng dùng phƣơng thức gửi thƣ, gọi điện thoại,  
gửi tin nhắn…Đặc biệt, trong thời đại công nghệ khoa học thông tin phát triển mạnh  
mẽ nhƣ hiện nay thì ngày các nhiều các cá nhân trao đổi thông tin qua các phƣơng tiện  
điện tử nhƣ gửi email, nhắn tin qua zalo, facebook…Việc trao đổi các thông tin bằng  
phƣơng thức này diễn ra rất nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí.  
+ Khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 quy định: "Các bên trong hợp đồng không  
được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau  
mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có  
thỏa thuận khác". Xác lập, thực hiện hợp đồng là những hoạt động diễn ra thƣờng  
xuyên, hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống. Trong nhiều trƣờng hợp, việc xác lập,  
thực hiện hợp đồng yêu cầu các bên phải trao đổi thông tin cá nhân cho nhau, đặc biệt  
các hợp đồng liên quan đến dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc y tế, dịch vụ thẩm mỹ  
hay dịch vụ tƣ vấn pháp lý…Về nguyên tắc, cả hai bên trong hợp đồng đều không  
đƣợc tiết lộ thông tin về đời sống riêng tƣ của nhau. Vấn đề này cũng đƣợc cụ thể hóa  
trong một số quy định của BLDS năm 2015. Yếu tố quan trọng nhất của hợp đồng là  
sự thỏa thuận giữa các bên. Nguyên tắc thỏa thuận đƣợc áp dụng trong mọi giai đoạn  
của hợp đồng kể từ khi xác lập, thực hiện cho đến khi chấm dứt hợp đồng. Do vậy,  
trƣờng hợp các bên chủ thể trong hợp đồng thỏa thuận về việc đƣợc phép tiết lộ thông  
tin của nhau, phạm vi các loại thông tin đƣợc tiết lộ thì thỏa thuận này đƣợc pháp luật  
công nhận.  
Tóm lại, có thể thấy rằng, cùng với Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam  
hiện đã xác lập nền tảng pháp lý ban đầu để bảo vệ quyền về sự riêng tƣ, trong đó bao  
119  
gồm quyền về dữ liệu cá nhân trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trƣớc ảnh hƣởng sâu  
rộng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, so với các quy định của pháp luật  
quốc tế và pháp luật ở nhiều quốc gia, pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này vẫn còn  
một số hạn chế đáng để lƣu ý.  
2.5. Một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền riêng tư cá nhân  
trong bối cảnh chuyển đổi số.  
Trên cơ sở phân tích các quy định của luật về quyền riêng tƣ đối với thông tin cá  
nhân, tác giả có một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhƣ sau:  
2.5.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư cá nhân trong thời kỳ  
chuyển đổi số  
Một là, cần bổ sung khái niệm và phạm vi của quyền riêng tƣ cá nhân để có  
những chế tài phù hợp.  
Mặc dù pháp luật nƣớc ta có nhiều quy định liên quan đến quyền riêng tƣ cá nhân  
song vẫn chƣa có một văn bản nào đƣa ra đƣợc một định nghĩa chính thức về quyền  
này. Những “thông tin”, những “tƣ liệu”…nhƣ thế nào mới đƣợc coi là bí mật, riêng tƣ  
cá nhân và cần đƣợc pháp luật bảo vệ. Xác định đƣợc giới hạn của quyền riêng tƣ đối  
với thông tin cá nhân thì quan trọng nhất là xác định đƣợc phạm vi của thông tin đó.  
Cơ quan lập pháp cũng cần thừa nhận một số quyền thuộc về quyền riêng tƣ quyền an  
tử, hay bảo vệ sự riêng tƣ về họ tên công dân, tránh trùng lặp họ tên phổ biến nhƣ hiện  
nay. Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 đã đƣa ra khái niệm về thông tin cá nhân  
nhƣng khái niệm này mới chỉ thể hiện đƣợc chức năng, vai trò của thông tin cá nhân  
mà chƣa khái quát đƣợc các điểm đặc trƣng của thông tin cá nhân. Ngay cả trong  
BLDS và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng không có bất cứ giải thích nào về  
thông tin cá nhân. Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu cũng  
nhƣ các chủ thể có thẩm quyền áp dụng luật bởi lẽ mỗi ngƣời lại hiểu thông tin cá  
nhân ở những giới hạn khác nhau. Bởi vậy, để có thể bảo vệ đƣợc quyền riêng tƣ đối  
với thông tin cá nhân một cách hiệu quả thì tác giả kiến nghị cần phải xây dựng khái  
niệm về thông tin cá nhân trong Luật Tiếp cận thông tin. Theo đó, khái niệm về thông  
tin cá nhân phải đáp ứng đƣợc các yếu tố sau đây:  
- Xác định đƣợc phạm vi thông tin cá nhân (những thông tin nào đƣợc coi là  
thông tin cá nhân và cá nhân có quyền riêng tƣ với những thông tin đó);  
120  
- Xác định điểm đặc trƣng của thông tin cá nhân;  
- Xác định đƣợc thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thông tin cá nhân.  
Hai là, tăng nặng chế tài xử phạt với những hành vi vi phạm.  
Hiện nay, chế tài xử phạt đối với hành vi xâm phạm quyền riêng tƣ cá nhân đƣợc  
quy định trong các văn bản pháp luật còn quá nhẹ so với việc bán thông tin cá nhân  
hay sử dụng thông tin đó vào mục đích khác. Điều này dẫn đến việc chƣa đủ sức răn  
đe ngƣời phạm tội. Vì vậy, Nhà nƣớc cần sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan  
để quy định những hình thức chế tài nghiêm khắc hơn, nhất là quy định về chế tài bồi  
thƣờng thiệt hại để trừng phạt những hành vi vi phạm quyền riêng tƣ ví dụ nhƣ quyền  
riêng tƣ của cá nhân trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Để xác định cá nhân, cơ  
quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc đảm bảo thực hiện quyền về bí mật cá nhân  
cần phải nhận diện và phân loại các hình thức bí mật dữ liệu. Đồng thời, tăng cƣờng  
vai trò của tòa án trong việc bảo vệ các quyền riêng tƣ và bí mật cá nhân theo phƣơng  
châm là công cụ bảo vệ công lý tòa án, nếu không có luật thành văn thì có thể áp dụng  
án lệ hoặc các nguyên tắc công bằng để giải quyết.  
Ba là, sửa đổi quy định của Bộ luật Dân sự, Luật tiếp cận thông tin cá nhân điều  
chỉnh quyền về bí mật cá nhân.  
Hiện nay, “quyền về đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân” đang đƣợc sử dụng trong  
loại văn bản pháp luật còn quy định khá chung chung về quyền riêng tƣ. Vì vậy cần  
phải sửa đổi điều luật này theo hƣớng nhƣ sau: Bổ sung khoản 3, khoản 4 Điều 38  
BLDS 2015 về các trƣờng hợp ngoại lệ đƣợc tiếp cận, khai thác thông tin của cá nhân.  
Có thể thấy, quyền riêng tƣ đối với thông tin của cá nhân chỉ đƣợc bảo vệ trong những  
giới hạn nhất định mà không phải đƣợc bảo vệ tuyệt đối trong mọi trƣờng hợp. Xét về  
nội dung, mặc dù khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 đều có những  
nội dung riêng (khoản 2 quy định về vấn đề quyền riêng tƣ, thông tin; khoản 3 quy  
định về thƣ tín; khoản 4 quy định về thông tin trong quá trình giao kết, thực hiện hợp  
đồng) nhƣng điểm chung là những thông tin này đều nằm trong phạm vi quyền riêng  
tƣ của cá nhân. Tuy vậy, các ngoại lệ đƣợc khai thác thông tin trong 3 khác nhau dẫn  
đến việc không hợp lý, thiếu thống nhất, cụ thể:  
-
Khoản 2 quy định hai ngoại lệ mà các chủ thể khác đƣợc quyền khai thác  
thông tin khi: có sự đồng ý của ngƣời mang thông tin và pháp luật có quy định;  
121  
-
Khoản 3 quy định ngoại lệ mà các chủ thể khác đƣợc quyền bóc mở thƣ tín là  
khi pháp luật có quy định;  
-
Khoản 4 quy định ngoại là mà các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng đƣợc  
tiết lộ thông tin của đối tác là khi các bên có thỏa thuận.  
Nhƣ vậy, có thể thấy, cùng là ngoại lệ đối với việc bảo vệ quyền riêng tƣ nhƣng  
mỗi trƣờng hợp lại quy định khác nhau, thiếu thống nhất. Đây là điểm hạn chế cần  
đƣợc khắc phục trong Điều 38 BLDS năm 2015. Từ những phân tích trên, tác giả kiến  
nghị bổ sung khoản 3 và khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 nhƣ sau:  
Khoản 3: "Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức  
trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc  
bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các  
hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong  
trường hợp có sự đồng ý của người đó hoặc trong trường hợp luật quy định.  
Khoản 4: "Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng  
tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác  
lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy  
định khác".  
Mặt khác, cần quy định thống nhất về vấn đề tiếp cận thông cá nhân giữa khoản 2  
Điều 38 BLDS năm 2015 và khoản 2 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Khoản  
2 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định: “Thông tin liên quan đến bí mật  
đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân đƣợc tiếp cận trong trƣờng hợp đƣợc ngƣời đó đồng  
ý”. So sánh quy định này với quy định tại khoản 2 Điều 38 BLDS năm 2015 thì thấy  
rằng, mặc dù cùng ghi nhận về một nội dung nhƣng hai quy định này không có sự  
thống nhất với nhau. Vì khoản 2 Điều 38 quy định: “Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng,  
công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người  
đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật  
gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định  
khác”. Theo quy định này, việc tiếp cận bí mật cá nhân đƣợc thừa nhận trong hai  
trƣờng hợp: khi có sự đồng ý của cá nhân hoặc khi pháp luật có quy định. Trong khi  
đó khoản 2 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin cá nhân chỉ ghi nhận duy nhất trƣờng hợp  
tiếp cận bí mật cá nhân khi đƣợc sự đồng ý của cá nhân đó.  
122  
Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 7  
Luật Tiếp cận thông tin cá nhân năm 2016 nhƣ sau: "Thông tin liên quan đến bí mật  
đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng  
ý hoặc pháp luật có quy định”.  
Bốn là, ban hành văn bản dƣới luật nhằm hƣớng dẫn thi hành và bảo vệ quyền về  
riêng tƣ cá nhân.  
Ban hành văn bản dƣới luật hƣớng dẫn về quyền đối với bí mật cá nhân, bí mật  
gia đình là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh chúng ta xây dựng và ban hành Bộ  
luật Dân sự năm 2015 chƣa lâu. Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về “quyền  
về đời sống riêng tƣ cá nhân” mới chỉ là những quy định mang tính chất chung nhất.  
Bộ luật Dân sự năm 2015 không thể liệt kê tất cả các thông tin cũng nhƣ các hành vi  
xâm phạm, các biện pháp bảo vệ quyền. Chính vì thế, trƣớc mắt, Hội đồng Thẩm phán  
Toà án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hƣớng dẫn quy định của Bộ luật Dân  
sự đối với “quyền riêng tƣ cá nhân”, từ đó có thể tiến tới việc Chính phủ ban hành  
Nghị định hƣớng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự đối với “quyền về bí mật cá nhân, bí mật  
gia đình”. Cụ thể, văn bản hƣớng dẫn đƣợc đề cập ở trên phải có các nội dung chủ yếu  
sau đây: Cần giải thích rõ khái niệm để mọi ngƣời dễ dàng hiểu đƣợc; Đối với những  
thông tin đƣợc coi là thuộc về cá nhân cần có văn bản hƣớng dẫn cần khái quát chung  
các đặc điểm liên quan đến thông tin đƣợc coi là thuộc về riêng tƣ cá nhân. Sau đó có  
thể có sự liệt kê một cách cụ thể, chi tiết các thông tin; Đối với các hành vi bị coi là  
xâm phạm: Cần xác định giới hạn, trên cơ sở đó xác định rõ ràng, cụ thể các hành vi bị  
coi là xâm phạm quyền riêng tƣ cá nhân cũng nhƣ những hành vi không bị coi là xâm  
phạm trong những trƣờng hợp cụ thể; Đối với các biện các biện pháp bảo vệ quyền về  
đời sống riêng tƣ phải đƣợc mô tả chi tiết với những yêu cầu cụ thể liên quan đến việc  
áp dụng các biện pháp này để bảo vệ quyền lợi cho chủ thể liên quan đến quyền bí mật  
đời tƣ. Hệ thống văn bản pháp luật không phải là phƣơng thức duy nhất để bảo vệ  
quyền riêng tƣ mà bên cạnh đó còn là ý thức tự bảo vệ của ngƣời dân và hệ thống các  
quy tắc bảo vệ quyền riêng tƣ mà các công ty, doanh nghiệp, tổ chức đặt ra trên cơ sở  
thỏa thuận với khách hàng, ngƣời lao động, đối tác.  
123  
Nếu nhƣ có các văn bản hƣớng dẫn thì sẽ xử lý đƣợc đúng ngƣời, đúng tội. Cá  
nhân, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cũng sẽ dễ dàng trong việc thi hành pháp luật.  
Từ đó, góp phần giảm thiểu hành vi vi phạm và không bị bỏ lọt ngƣời phạm tội  
Năm là, cần có luật bảo vệ quyền về bí mật cá nhân. Bí mật, riêng tƣ cá nhân tuy  
đƣợc bảo vệ trong Bộ luật Hình sự và BLDS hiện hành nhƣng chỉ đƣợc viện dẫn khi  
có “thiệt hại” của nạn nhân chứ chƣa quy định một cách cụ thể, đầy đủ nhƣ ai là ngƣời  
có quyền thu thập thông tin cá nhân ngƣời khác, trình tự thu thập, lƣu giữ, sử dụng, tiết  
lộ thông tin cá nhân nhƣ thế nào? Hơn nữa, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì cũng  
thật khó xác định mức độ thiệt hại thực tế nhƣ thế nào trong trƣờng hợp bí mật cá nhân  
bị xâm phạm. Đặc biệt, đó là sự thiếu vắng hành lang pháp lý để bảo vệ bí mật cá nhân  
không bị tiết lộ cũng nhƣ những chế tài (dân sự, hành chính và hình sự) áp dụng đối  
với ngay cả những trƣờng hợp không có thiệt hại xảy ra nhằm bảo vệ quyền hợp pháp  
của công dân cũng nhƣ mang tính giáo dục chung. Đây sẽ là hành lang pháp lý rõ ràng,  
góp phần tích cực bảo vệ quyền về bí mật cá nhân, bí mật gia đình của các cá nhân  
trong cộng đồng.  
Sáu là, cần xây dựng khuôn khổ pháp lý hoàn thiện về bảo hộ quyền riêng tƣ cá  
nhân là rất cần thiết để vừa đảm bảo tôn trọng quyền công dân và góp phần cho nền  
kinh tế số đƣợc vận hành trên cơ sở dữ liệu trong thời đại hiện nay.  
Các quy định của pháp luật và chƣơng trình của nhà nƣớc cần xây dựng các giải  
pháp bảo vệ quyền bí mật cá nhân cho ngƣời dân. Bên cạnh đó cần có một khung chế  
tài cho phép ngƣời bị xâm phạm quyền bí mật cá nhân lên tiếng khiếu kiện khi có vi  
phạm quyền bí mật cá nhân của họ là điều cần thiết. Các tổ chức xã hội, các tổ chức  
phi lợi nhuận nên có vai trò tích cực đại diện cho ngƣời bị xâm phạm tham gia quá  
trình đó. Đồng thời, cần xây dựng Luật Bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân của khách  
hàng (data) nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt các quy định pháp lý cụ thể về bảo vệ dữ  
liệu, bí mật cá nhân, đồng thời khắc phục đƣợc tình trạng quy định vừa trùng lặp vừa  
phân tán trong nhiều văn bản chuyên ngành.  
2.5.2. Cách thức tổ chức hoàn thiện pháp luật trong bảo vệ quyền riêng tư cá nhân  
trong thời kỳ chuyển đổi số  
Một là, thực hiện khảo sát cộng đồng về việc bảo vệ quyền riêng tƣ cá nhân cùng  
với những đánh giá của các nhà làm luật để cho ra đời những văn bản luật hợp lý và  
124  
sát với thực tế nhất. Đặc biệt, Luật An ninh mạng hiện còn có những lỗ hổng tiềm ẩn  
khả năng cơ quan nhà nƣớc tuỳ tiện can thiệp vào đời tƣ thông qua việc thu thập dữ  
liệu riêng tƣ của cá nhân. Vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nƣớc cần tiếp tục xây dựng,  
hoàn thiện hệ thống pháp luật để thúc đẩy và bảo vệ hiệu quả hơn quyền về sự riêng tƣ  
nói chung, quyền về dữ liệu cá nhân nói riêng theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm  
2013 và các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Cũng cần phải tổ chức các  
cuộc hội thảo, hội luận để tiến tới làm rõ hơn, sâu sắc hơn bản chất của quyền riêng tƣ,  
sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nƣớc, từ đó đƣa ra định  
hƣớng phù hợp cho việc xây dựng hệ thống quy định về quyền riêng tƣ. Các cơ quan  
nhà nƣớc có thẩm quyền cũng cần lƣu tâm hơn để hoàn thiện bổ sung những quy định  
về bảo vệ quyền riêng tƣ trong những lĩnh vực còn thiếu vắng nhƣ giáo dục và lao  
động.  
Hai là, tăng cƣờng công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức ngƣời dân để nâng  
cao ý thức tôn trọng quyền riêng tƣ và quyền bí mật cá nhân trong đời sống hàng ngày,  
coi đó là giá trị văn hóa thể hiện đời sống văn minh của con ngƣời thông qua các  
phƣơng tiện thông tin đại chúng, giáo dục trong trƣờng học,...Đồng thời, nâng cao  
nhận thức của ngƣời thực thi pháp luật trong việc đảm bảo quyền riêng tƣ cá nhân  
trong thực thi công vụ, trong các hoạt động tố tụng nhƣ điều tra, ngăn chặn, khám xét  
chỗ ở,... Qua đó kiên quyết xử lý các hành vi xâm phạm riêng tƣ, khuyến khích thúc  
đẩy ngƣời dân, các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức lƣu tâm áp dụng các biện pháp bảo  
mật, bảo vệ thông tin.  
3. Kết luận  
Trong thời đại công nghệ số hóa phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay, việc đƣa các  
thông tin cá nhân của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau đã  
dần trở nên quen thuộc. Việc làm này một mặt giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng  
các dịch vụ xã hội, nhƣng mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị ngƣời khác đánh  
cắp thông tin. Để đảm bảo quyền bí mật cá nhân và khắc phục những tồn đọng, vƣớng  
mắc về việc bảo hộ quyền bí mật cá nhân và từng bƣớc phát triển nội dung của hệ  
thống pháp luật Việt Nam đòi hỏi phải có tính khả thi trong thực tiễn. Nhƣ vậy, việc  
bảo hộ quyền bí mật cá nhân là cấp thiết, quan trọng và là một điểm nhấn phản ánh  
quan điểm lập pháp và trình độ lập pháp ở Việt Nam hiện nay.  
125  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
I.  
Luật  
1. Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013  
2. Luật An ninh mạng năm 2018  
3. Bộ luật Dân sự năm 2015  
4. Luật tiếp cận thông tin năm 2016  
II.  
Tài liệu Tiếng Việt  
1. Trần Hoàng Đức (PGS. TS. Bùi Đăng Hiếu hƣớng dẫn), “Quyền riêng tư  
dưới góc độ lý luận và pháp luật thực định: luận văn thạc sĩ luật học”.  
2. Lê Thị Giang, “Quyền riêng tư đối với thông tin cá nhân”, Tạp chí Kiểm sát  
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 17/2018, tr. 16 - 22, 61.  
3. Vũ Công Giao, Lê Trần Nhƣ Tuyên, “Bảo vệ quyền đối với dữ liệu cá nhân  
trong pháp luật quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Việt  
Nam”, Tạp chí NCLP số 09 (409), tháng 5/2020)  
4. Thu Hƣơng, “Quản lý thông tin cá nhân như nào cho hiệu quả?”,  
5. M.M - N.B, “Quyền riêng tư được pháp luật bảo vệ như thế nào?”, Báo  
nhu-the-nao-post319663.html  
6. Mai Thị Ngọc Trinh, Nguyễn Văn Công Định (GVHD: Trần Chí Thành),  
“Bảo vệ quyền đối với bí mật cá nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam trong bối cảnh  
kỷ nguyên số 4.0”, Hội thảo Khoa học Sinh viên “Sinh viên với pháp luật dân sự trong  
bối cảnh kỷ nguyên 4.0”  
7. Huyền Thanh, “Bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng trong chuyển đổi số”,  
8. T.Thủy, “Hơn 400.000 người dùng Facebook Việt Nam bị rò rỉ thông tin cá  
facebook-viet-nam-bi-ro-ri-thong-tin-ca-nhan-20180406064716935.htm  
126  
9. Phan Tuấn, “Thông tin cá nhân trên mạng xã hội dễ là món hời cho tội phạm  
mạng”,  
http:dantri.com.vn/suc-manh-so/thong-tin-ca-nhan-tren-mang-xa-hoi-de-la-  
mon-hoi-cho-toi-pham-mang 20160130074813131.htm  
10. Tọa đàm Khoa Luật: Bảo vệ thông tin cá nhân trong thời kỳ chuyển đổi số  
11. Tƣơng Quan/SGGPO, “Đừng lơ là việc bảo vệ thông tin cá nhân”, Báo Giáo  
II. Tài liệu Tiếng Anh  
1. Daniel Newman, “What Is Privacy In The Age Of Digital Transformation?”,  
2. “Unleashing the Value of Consumer Data,” Báo BCG, 2013.  
127  
pdf 17 trang Thùy Anh 23240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật Việt Nam về quyền riêng tư cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và một số giải pháp hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_viet_nam_ve_quyen_rieng_tu_ca_nhan_trong_boi_canh.pdf