Hoàn thiện quy định pháp luật về dịch vụ logistics trong luật thương mại 2005 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG
LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
ThS. Võ Thị Hoài1
Tóm tắt: Trong thời gian gần đây, dịch vụ logistics đã có những bước phát triển rất
lớn. Quy chế pháp lý cho hoạt động logistics được hình thành từ Luật Thương mại 2005
và được bổ sung qua một số văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên sự phát triển của dịch
vụ kinh doanh này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh đầy đủ và
kịp thời các quan hệ phát sinh trên thực tiễn. Bài viết phân tích các quy định pháp luật hiện
hành về dịch vụ logistics, từ đó đề xuất một số kiến nghị cần hoàn thiện pháp luật thương
mại cho lĩnh vực này.
Từ khóa: dịch vụ logistics; hoàn thiện Luật Thương mại về logistics
Abstract: In recent times, logistics services have made great strides. The legal
regulation for logistics activities was formed from the Commercial Law 2005 and
supplemented through a number of guiding documents, but the development of this business
service requires further improvement. the law to fully and promptly regulate the relations
arising in practice. The article analyzes the current legal regulations on logistics services,
thereby proposing some recommendations to improve commercial law for this field.
Keywords: logistics services; perfecting the Commercial Law on logistics
Mở đầu
Dịch vụ logistics được quy định tại Mục 4 trong Chương VI Một số hoạt động
thương mại cụ thể khác của Luật Thương mại 2005, bên cạnh hoạt động gia công, đấu giá,
đấu thầu, quá cảnh hàng hóa, giám định, cho thuê hàng hóa và nhượng quyền thương mại.
1 Khoa Luật - Đại học Sài Gòn
126
Dịch vụ logistics thay thế cho hoạt động giao nhận hàng hóa được quy định trong Luật
Thương mại 1997. Mặc dù quy định về dịch vụ này còn khá đơn giản trong Luật Thương
mại 2005 nhưng sự thay đổi đó đã cho thấy sự nhanh nhạy và kịp thời của pháp luật cho
những quan hệ kinh doanh, thương mại được phát sinh trên thực tiễn, phù hợp chung với
xu thế hội nhập và phát triển. Để hướng dẫn thi hành quy định của Luật Thương mại về
hoạt động này, Chính phủ đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành và cả những
văn bản chỉ đạo để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ này. Tuy
nhiên, bên cạnh đó, yêu cầu hoàn thiện quy chế pháp lý cho dịch vụ logistics trở nên cấp
thiết bởi qua hơn 15 năm phát triển, dịch vụ logistics đã không còn như thời điểm sơ khai.
1. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về dịch vụ logistics
Cũng là một trong các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi của các thương
nhân được quy định trong Luật Thương mại năm 2005, nhưng hoạt động dịch vụ logistics
có đặc trưng khác biệt là không phải là một hoạt động đơn lẻ mà bao gồm một chuỗi hoạt
động khác nhau nằm trong quá trình cung ứng dịch vụ liên quan đến hàng hóa từ nơi sản
xuất đến tay người tiêu dùng. Trong đó chủ đạo là hoạt động giao nhận hàng hóa và các
công việc vệ tinh xung quanh của hoạt động này như dịch vụ kho bãi; xếp dỡ, chuyển phát,
đại lý hải quan, giấy tờ, thủ tục; thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa; xử lý hàng tồn kho,
tái phân phối hàng tồn,…Chính vì bao gồm rất nhiều hoạt động khác nhau nên số lượng
văn bản liên quan đến dịch vụ này rất lớn. Công tác hoàn thiện quy định pháp luật thời gian
qua đã được Chính phủ quan tâm khiến nhiều văn bản hướng dẫn được bổ sung mới.
Ngoài quy định chung được quy định tại Luật Thương mại 2005, Luật Doanh
nghiệp, Luật Đầu tư, khi thương nhân kinh doanh lĩnh vực logistics tùy vào khối lượng
hoạt động đăng ký kinh doanh và hoạt động giao nhận hàng hóa bằng phương tiện gì,
thương nhân phải quan tâm đến các văn bản cơ bản như:
- Đối với dịch vụ vận tải hàng hải: Bộ luật Hàng hải 2015; Nghị định số 160/2016/NĐ-CP
ngày 29/11/2016 về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển
và dịch vụ lai dắt tàu biển;
- Đối với dịch vụ vận tải đường thuỷ nội địa: Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004;
Luật Giao thông đường thủy nội địa sửa đổi năm 2014; Nghị định số 110/2014/NĐ-CP
127
Quy định điều kiện kinh doanh vận tải đường thủy nội địa; Nghị định số 128/2018/NĐ-CP
ngày 24/9/2018 Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về điều kiện đầu
tư, kinh doanh trong lĩnh vực đường thủy nội địa;
- Đối với dịch vụ vận tải hàng không: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006;
Luật sửa đổi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2014; Nghị định 30/2013/NĐ-CP về
kinh doanh vận chuyển hàng không và hoạt động hàng không chung; Nghị định số
89/2019/NĐ-CP ngày 15/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
CP ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về kinh doanh vận chuyển hàng không và
hoạt động hàng không chung;
- Đối với dịch vụ vận tải đường sắt: Luật Đường sắt năm 2017; Nghị định số 65/2018/NĐ-
CP ngày 12/5/2018 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đường sắt;
- Đối với dịch vụ vận tải đường bộ: Luật Giao thông đường bộ 2008; Nghị định
86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; Thông tư
63/2014/TT-BGTVT Quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch
vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; Thông tư 60/2015/TT-BGTVT sửa đổi, bổ sung một số điều
của thông tư số 63/2014/TT-BGTVT về tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh vận tải
bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.
Ngoài ra, các thương nhân còn phải quan tâm đến các văn bản về bưu chính, các quy định
về thuế, hải quan… Điều đó cho thấy hệ thống văn bản có liên quan đối với lĩnh vực này
rất nhiều.
Nhằm tạo đà cho lĩnh vực này có nhiều cơ hội thuận tiện để phát triển, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt Kế hoạch
hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển ngành Dịch vụ logistics Việt Nam
đến năm 2025. Với quan điểm: “Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu
tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế” Nhà nước sẽ đảm nhiệm vai trò hỗ trợ, kiến tạo môi trường thuận lợi cho
128
nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam. Để đạt được mục
tiêu đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%,
tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%,
chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực
quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên, Chính phủ đã đề ra 06 nhiệm vụ
chủ yếu trong đó nhiệm vụ đặt lên đầu tiên là hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ
logistics, nhằm đưa ngành này vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt trình độ tiên tiến
của khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước.
Ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định
về kinh doanh dịch vụ logistics (có hiệu lực từ ngày 20/02/2018), thay thế Nghị định số
140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh
doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics. Việc ban hành Nghị định này đã bao quát toàn diện các dịch vụ logistics, nội luật
hóa các cam kết quốc tế về logistics như đề ra trong Kế hoạch hành động nâng cao năng
lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025. Đây là bước tiến mới trong
việc cải cách thể chế liên quan đến ngành dịch vụ logistics cũng như có các quy định cụ
thể về đầu tư phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam.
Ngày 06/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban
hành Hệ thống ngành Kinh tế Việt Nam và đây là lần đầu tiên Việt Nam có mã ngành
logistics riêng (Mã 52292: Logistics). Ngày 18/07/2018, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành
Chỉ thị số 21/CT-TTg về đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm giảm chi phí logistics,
kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông… Đặc biệt nhấn mạnh việc yêu cầu các Bộ,
ngành và địa phương, theo chức năng và nhiệm vụ được giao tiếp tục rà soát, bổ sung hoàn
thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics. Cụ thể như nhiệm vụ của Bộ Giao thông
vận tải phải: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, cải cách
thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên
ngành; Khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh; thu hút các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh các loại
hình vận tải và dịch vụ vận tải đa phương thức; Cắt giảm ít nhất 50% điều kiện kinh doanh
trong lĩnh vực giao thông vận tải; hoàn thành nhiệm vụ về đơn giản thủ tục kiểm tra chuyên
ngành; Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành rà soát, sửa đổi chính sách thuế, phí, giá dịch
vụ để tạo thuận lợi cho hoạt động logistics; giảm tối đa thủ tục kiểm tra chuyên ngành, cải
129
cách thủ tục hành chính mạnh mẽ tại các cảng biển, cảng thủy nội địa, nhà ga, sân bay... để
giảm thời gian làm thủ tục, thông quan.
Những chính sách của Nhà nước cho thấy sự quan tâm và vai trò quan trọng của
dịch vụ logistics đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, trong thời gian tới, những
quy định pháp luật về dịch vụ này phải tiếp tục được nghiên cứu và bổ sung cho phù hợp.
Với vai trò là một đạo luật điều chỉnh các hoạt động thương mại của thương nhân, Luật
Thương mại có một vị trí quan trọng với tư cách luật chung định hướng cho các hoạt động
thương mại của thương nhân, vì vậy trong thời gian tới, việc hoàn thiện các quy định về
dịch vụ này trong luật thương mại cũng như các văn bản liên quan là điều rất quan trọng.
2. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện các văn bản pháp luật cho dịch vụ
logistics
2.1. Số lượng các văn bản tản mát ở nhiều lĩnh vực khác nhau nên chưa có sự rõ ràng
về trách nhiệm và giới hạn quản lý
Do bản thân dịch vụ logistics là một chuỗi các hoạt động thương mại được thực hiện
liên hoàn, không mang tính chất đơn lẻ bao gồm từ việc nhận hàng, vận chuyển, lưu kho,
lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì,
ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận
với khách hàng để hưởng thù lao, vì vậy dịch vụ này được phân loại theo các hoạt động và
nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Ngoài các quy định chung trong Bộ luật
dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật cạnh tranh, Luật Hải quan sửa đổi, dịch vụ
này còn liên đến các luật chuyên ngành như Luật đường sắt, Luật giao thông đường bộ,
Luật giao thông đường thuỷ nội địa, Luật hàng không dân dụng Việt Nam, Bộ luật hàng
hải, Pháp lệnh bưu chính… Đối với hệ thống văn bản dưới luật, ngoài Nghị định số
163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics (có hiệu lực từ ngày
20/02/2018) quy định chung về kinh doanh dịch vụ này thì đối với mỗi lĩnh vực lại có
những văn bản pháp luật hướng dẫn riêng. Vì vậy có thể nói đây là một lĩnh vực dịch vụ
thương mại có số lượng văn bản rất lớn. Việc quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau
gây trở ngại cho việc xác định trách nhiệm và giới hạn quản lý giữa các cơ quan nhà nước
trong việc quản lý hoạt động logistics. Các quy định hiện này đều được quy định theo
hướng phân định dịch vụ logistics thành các nhóm ngành khác nhau và từng nhóm ngành
lại có một cơ quan quản lý khác nhau trong khi theo Nghị định 163/2017 thì cơ quan quản
130
lý chung về hoạt động dịch vụ logistics thuộc về Bộ Công thương. Vì vậy hiện vẫn khó xác
định trách nhiệm, giới hạn quản lý giữa Bộ Công thương và Bộ Giao thông vận tải, qua đó
đã làm cho việc quản lý và điều hành hoạt động logistics thương mại còn gặp rất nhiều khó
khăn. Nhiều cơ quan tham gia quản lý, nhưng chưa có một cơ quan điều hành chung về
logistics thương mại.
Vì vậy nên chăng xây dựng riêng luật chuyên ngành về dịch vụ logistics để đảm
bảo sự thống nhất trong quản lý. Hiện nay nhiều hoạt động thương mại trong Luật Thương
mại đã có luật riêng như Luật Đấu giá, Luật Đấu thầu, Luật Quảng cáo…nên việc xây dựng
luật riêng về dịch vụ thương mại này cũng là cần thiết.
2.2. Một số quy định về dịch vụ logistics chưa phù hợp
Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại duy nhất trong Luật Thương mại 2005
không sử dụng khái niệm thuần Việt mà phải phiên âm từ tiếng nước ngoài. Theo quy định
tại Điều 233, dịch vụ logistics được hiểu việc thương nhân tổ chức một hoặc nhiều công
việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục
giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch
vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Như
vậy thông qua khái niệm cũng thể hiện cho thấy dịch vụ này bao gồm một chuỗi các hoạt
động khác nhau liên quan đến việc lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất đến tận tay người
tiêu dùng. Đây là một chuỗi các hoạt động được diễn ra liên tục, có mối quan hệ mật thiết
và gắn bó với nhau. Nhưng theo Điều 233 của Luật Thương mại thì nếu thương nhân chỉ
tổ chức thực hiện một hoạt động trong chuỗi các hoạt động hậu cần này cũng xem như thực
hiện dịch vụ logistics là chưa chính xác. Từ đó làm cho khái niệm chưa thể hiện rõ bản
chất của hoạt động. Vì vậy cần thiết quy định lại khái niệm cho phù hợp với bản chất chung
về hoạt động logistics theo thông lệ quốc tế và cũng phân biệt được thương nhân thực hiện
hoạt động dịch vụ logistics với thương nhân thực hiện các hoạt động liên quan đến giao
nhận hàng hóa đơn lẻ thông thường.
Mặc dù các hoạt động nằm trong chuỗi dịch vụ logistics rất đa dạng và phong phú,
mỗi hoạt động như vậy đều phát sinh các quyền và nghĩa vụ của thương nhân với khách
hàng khác nhau tương ứng với những công việc cần thực hiện. Tuy nhiên, có lẽ ảnh hưởng
từ việc thay đổi từ hoạt động giao nhận hàng hóa của Luật Thương mại 1997 nên các quyền
131
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thương mại của hoạt động dịch vụ logistics lại chủ
yếu đề cập đến quyền và nghĩa vụ xoay quanh hoạt động vận chuyển hàng hóa mà chưa
bao quát đến tất cả các quyền và nghĩa vụ khác của các hoạt động nằm trong chuỗi logistics.
Bên cạnh đó, ngay cả các quyền và nghĩa vụ liên quan đến vận chuyển hàng hóa thì những
nội dung liên quan về hóa đơn, chứng từ là những tài liệu rất quan trọng hiện nay cũng
chưa được chú trọng đề cập tới.
2.3. Cần thiết bổ sung thêm dịch vụ E-logistics phù hợp với xu thế phát triển hiện nay
Với sự phát triển của khoa học công nghệ và kỹ thuật số, hiện nay hoạt động logistics
đã có những bước phát triển mạnh mẽ hình thành nên một loại dịch vụ hậu cần được thực
hiện thông qua môi trường Internet. Thương mại điện tử trong lĩnh vực logistics đã được
đề cập tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 163/2017: “Thương nhân tiến hành một phần hoặc
toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet,
mạng viễn thꢀng di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định
của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể quy định tại Điều 3 Nghị định này, còn phải tuân
thủ các quy định về thương mại điện tử”. Mặc dù được hiểu đơn giản là toàn bộ các hoạt
động nhằm hỗ trợ việc di chuyển hàng hóa từ nơi cung ứng đến nơi tiêu dùng qua các giao
dịch mua bán điện tử được gọi là hoạt động e-logistics nhưng hoạt động e-logistics tất yếu
sẽ kéo theo nhiều yêu cầu mới về khung pháp lý so với dịch vụ logistics truyền thống.
Chẳng hạn như những quy định về khung khổ pháp lý cho thương mại điện tử, quản lý chữ
ký số, an toàn, an ninh hệ thống mạng giao dịch; khi áp dụng thương mại điện tử khiến cho
một ngày có hàng trăm đơn hàng, có đơn hàng chỉ vài chục nghìn đồng thì thực sự rất khó
có thể kẹp hóa đơn cho từng đơn hàng…đặt ra những yêu cầu cần có những quy định mới
hợp lý và khả thi cho lĩnh vực này có những bước tiến nhảy vọt. Vì vậy, những quy định
được áp dụng cho dịch vụ logistics không phải đều hợp lý khi áp dụng cho E-logistics, vì
thế nên có những quy định chung và những quy định áp dụng riêng hay loại trừ dành cho
E-logistics để đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn.
3. Kết luận
Để thực hiện được mục tiêu và kỳ vọng đặt ra cho ngành logistics, sẽ cần thực hiện
rất nhiều giải pháp khác nhau trong đó đặc biệt cần hoàn thiện các quy định về dịch vụ này
trong Luật Thương mại nói chung và các quy định văn bản liên quan nói riêng để đảm bảo
132
sự thống nhất, việc hoàn thiện có thể theo hai hướng: Chỉ quy định những nội dung cơ bản
mang tính định hướng trong Luật Thương mại và xây dựng một luật riêng trên cơ sở tập
hợp các lĩnh vực giao nhận hàng hóa bằng các phương thức khác nhau vào điều chỉnh trong
một luật riêng về logistics hoặc bổ sung chi tiết và đầy đủ hơn những nội dung về dịch vụ
logistics trong Luật Thương mại làm cơ sở cho doanh nghiệp thuận lợi và dễ dàng trong
việc tiếp cận thông tin pháp luật cũng như đầu mối quản lý Nhà nước.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
1. Luật Thương mại 2005.
2. Nghị định 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logistics.
3. Thông tư liên tịch số 64/2015/TTLT-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 8/5/2015.
4. Chỉ thị số 21/CT-TTg về đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm giảm chi phí logistics,
kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông
5. Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao
năng lực cạnh tranh và phát triển ngành Dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025
6. Tạ Thị Thùy Trang (2018), Pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics trong hoạt động
thương mại điện tử, Nghiên cứu Lập pháp, số 17(369), T9/2018.
7. Võ Thị Thanh Linh, Nguyễn Thị Thu Hoài (2019), Một số bất cập và giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics, Tạp chí Công thương, T9/2019
133
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định pháp luật về dịch vụ logistics trong luật thương mại 2005 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_quy_dinh_phap_luat_ve_dich_vu_logistics_trong_lua.pdf

