Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Phần 2) - Tập 1

CHƯƠNG 2 - QUYỀN SỞ HỮU  
Dẫn nhập - Trong bất cứ một chế độ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định về  
việc chiếm hữu, làm chủ của cải vật chất của con người. Mối quan hệ giữa người với  
người trong quá trình chiếm hữu của cải vật chất đó làm phát sinh các quan hệ sở hữu. Các  
quan hệ sở hữu này tồn tại một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội. Khi Nhà  
nước và pháp luật ra đời, địa vị của giai cấp thống trị trong việc phân phối của cải vật chất  
trong xã hội được ghi nhận bằng những quyền năng hạn chế mà Nhà nước trao cho người  
đang chiếm giữ của cải vật chất đó. Lúc này, các quan hệ sở hữu đã được điều chỉnh bằng pháp  
luật và hình thành nên quyền sở hữu của các chủ thể có tài sản.  
Với tư cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu có từ khi xuất hiện Nhà nước và chỉ  
mất đi khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp và không còn sự tồn tại của Nhà nước.  
Khái niệm quyền sở hữu - được hiểu theo hai nghĩa:  
-
Theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà  
nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng,  
định đoạt các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội. Hay nói khác đi, quyền sở hữu  
chính là pháp luật về sở hữu.  
-
Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu là khả năng được phép xử sự của chủ sở hữu  
trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Những quyền năng này cũng  
chính là nội dung của quyền sở hữu mà chủ sở hữu có được đối với tài sản. BLDS Việt  
Nam hiện hành tuy không định nghĩa trực tiếp như vậy nhưng có quy định rằng: “quyền sở  
hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo  
quy định của pháp luật.”.  
Tính chất của các quyền của chủ sở hữu - Các quyền của chủ sở hữu có tính độc nhất, chỉ có  
thể bị giới hạn do quy định của pháp luật và tồn tại lâu dài.  
MỤC 1 - Nội dung pháp lý của quyền sở hữu  
1. Quyền sử dụng  
Dùng và thu hoa lợi, lợi tức - Điều 192 BLDS quy định: “quyền sử dụng là quyền khai  
thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.”. Như vậy, với tư cách là một trong những  
nội dung của quyền sở hữu, quyền sử dụng bao gồm quyền khai thác công dụng của tài sản  
và quyền thu nhận hoa lợi, lợi tức từ tài sản. “Khai thác công dụng” nghĩa là chủ sở hữu tự  
mình thụ hưởng các lợi ích vật chất từ một tài sản không sinh lợi hoặc không được khai thác  
về phương diện kinh tế. “Thu nhận hoa lợi, lợi tức từ tài sản” được hiểu là việc chủ sở hữu  
được thụ hưởng những kết quả từ khai thác sự sinh lợi của tài sản mà vẫn bảo tồn chất liệu  
của tài sản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, hai quyền này không nhất thiết phải tồn tại song  
song trên cùng một tài sản.  
Chủ sở hữu có quyền quyết định phương thức sử dụng tài sản (dùng hay không dùng tài sản)  
cũng như cách thức thu hoa lợi, lợi tức (trực tiếp khai thác hoa lợi, tự nhiên của tài sản,  
hoặc để cho người khác khai thác thông qua một hợp đồng cho thuê, cho mượn). Tài sản có  
thể được sử dụng hoặc được khai thác trực tiếp bằng chính chủ sở hữu hoặc bởi một người  
khác không phải là chủ sở hữu (khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do  
pháp luật quy định)  
Hạn chế quyền sử dụng - Điều 193 BLDS quy định: “Chủ sở hữu có quyền khai thác  
công dụng của tài sản, hưởng hoa lợi lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không  
được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi  
ích hợp pháp của người khác.”. Đây là nguyên tắc chung mà luật viết đã dự liệu để hạn chế  
quyền sử dụng chủ động, ngăn ngừa sự lạm dụng. Ngoài ra, pháp luật còn có những quy định  
hạn chế quyền sử dụng thụ động trong một số trường hợp đặc thù khác đã được thừa nhận trên  
thực tế.  
2. Quyền định đoạt.  
Định đoạt vật chất và định đoạt pháp lý - Theo Điều 195 BLDS “Quyền định đoạt là quyền  
chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.”. Ngoài ra, chủ sở hữu còn có  
thể định đoạt tài sản bằng cách chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản. Như vậy, chủ sở hữu  
có quyền quyết định số phận của tài sản về phương diện vật chất (tiêu dùng, thiêu hủy,  
chuyển hóa thành một hình thức tồn tại khác...), hoặc về phương diện pháp lý (chuyển nhượng,  
tặng cho, trao đổi, góp vốn kinh doanh...). Cũng như quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ  
sở hữu có thể do chính chủ sở hữu hoặc do một người khác thực hiện Mọi trường hợp định  
đoạt tài sản ngoài khuôn khổ giới hạn của quyền tự định đoạt của chủ sở hữu cũng như định  
đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác đều bị xem là những giao dịch vô hiệu. Cũng có  
trường hợp, tài sản được chuyển quyền sở hữu không phải do hiệu lực của việc thực hiện  
quyền tự định đoạt của chủ sở hữu, mà do pháp luật quy định (như trong các trường hợp  
trưng mua, trưng dụng vì mục đích an ninh quốc phòng, giải tỏa có đền bù để thực hiện quy  
hoạch đô thị...).  
Hạn chế quyền định đoạt - Quyền định đoạt có thể bị hạn chế trong những trường hợp có  
sự xung đột giữa lợi ích của chủ sở hữu với lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc  
quyền và lợi ích của người khác mà việc bảo vệ những quyền lợi này hoàn toàn cần thiết và  
hợp lý. Luật viết quy định nhiều cách thức hạn chế quyền định đoạt khác nhau, như:  
-
Quyền định đoạt số phận pháp lý của một tài sản bị Nhà nước cấm hoặc hạn chế  
một cách trực tiếp bằng các quy định của pháp luật. Ví dụ, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu  
quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác (khoản 3, Điều 81 Luật doanh  
nghiệp 2005).  
-
Quyền định đoạt số phận pháp lý của tài sản được Nhà nước hạn chế và kiểm soát  
một cách gián tiếp thông qua vai trò của một tổ chức hay một cá nhân.  
3. Quyền chiếm hữu  
Khái niệm - Theo Điều 182 BLDS: “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản”.  
Việc nắm giữ và quản lý ở đây bao hàm cả việc thực hiện quyền sử dụng (dùng và khai thác)  
hoặc quyền không sử dụng tài sản (cất giữ).  
Trong bối cảnh hiện tại, luật viết hiện hành ghi nhận sự khác nhau về chế độ pháp lý của  
người chiếm hữu với tư cách là chủ sở hữu và người chiếm hữu tài sản của người khác trong  
quá trình thực hiện quyền chiếm hữu của mình đối với tài sản. Chúng ta lần lượt nghiên cứu sự  
khác nhau của hai chế độ pháp lý này:  
3.1. Chiếm hữu của chủ sở hữu  
3.1.1. Các yếu tố của quyền chiếm hữu của chủ sở hữu  
Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu được hình thành từ hai yếu tố:  
Yếu tố khách quan (corpus) - đặc trưng bằng việc thực hiện các quyền thuộc nội dung của  
quyền sở hữu, thể hiện thành các giao dịch mang tính chất vật chất có tác động đến tài sản  
chẳng hạn như cất giữ đồ trang sức, cư trú trong nhà, canh tác trên đất, cho thuê tài sản....  
Luật Việt Nam hiện hành xếp các giao dịch này thành hai nhóm:  
-
Các giao dịch nắm giữ: là các giao dịch mà thông qua đó, chủ sở hữu giữ vật trong  
phạm vi kiểm soát vật chất của mình. Vật không nhất thiết phải nằm trong tay chủ sở hữu theo  
nghĩa đen mà chỉ cần vật được đặt dưới quyền năng kiểm soát vật chất tiềm tàng của chủ sở  
hữu.  
-
Các giao dịch quản lý: là các giao dịch mà thông qua đó chủ sở hữu có thể kiểm  
soát được sự tồn tại của tài sản (về phương diện vật chất hay về giá trị) cũng như kiểm soát  
cả việc sử dụng, khai thác tài sản. Kiểm kê, định giá, bảo quản, tiêu dùng, cư trú, canh tác, ...  
là những giao dịch quản lý.  
Trước đây, Điều 189 BLDS 1995 định nghĩa “quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu tự  
mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình”. Hiện nay định nghĩa này đã được sửa  
đổi “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản”. Như vậy, có thể thừa nhận sự tồn  
tại của các khái niệm “chiếm hữu thông qua vai trò của người khác” hay “chiếm hữu dưới  
danh nghĩa người khác”. Luật cũng quy định thời gian chiếm hữu của người khác sẽ được  
tính như một phần thời gian chiếm hữu của chủ sở hữu khi xem xét về tình trạng chiếm hữu  
liên tục (Điều 190 BLDS).  
Nói một cách tổng quát rằng: trong trường hợp tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thì chủ sở  
hữu có quyền chiếm hữu theo nghĩa đầy đủ; còn trong trường hợp tài sản được giao cho  
người khác chiếm hữu, thì chủ sở hữu chỉ được coi là người chiếm hữu khi cần tính thời gian  
chiếm hữu liên tục chứ không phải là trường hợp người chiếm hữu theo nghĩa vật chất. Ta  
gọi chiếm hữu theo nghĩa đầy đủ là chiếm hữu vật chất và pháp lý còn chiếm hữu theo ý nghĩa  
của Điều 190 là chiếm hữu pháp lý.  
Yếu tố chủ quan (animus) - đặc trưng bằng thái độ tâm lý của chủ sở hữu trong quan hệ  
với người thứ ba liên quan đến tài sản được chiếm hữu, thể hiện bằng cung cách cư xử  
mang tính chất quyền lực đối với tài sản (có quyền sở hữu đối với tài  
sản mà không phải báo cáo với bất kỳ ai về những vấn đề liên quan đến tài sản và không  
buộc phải giao tài sản co bất kỳ người nào. Tuy nhiên không phải bất cứ người nào có thái độ  
tâm lý như vậy cũng là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản.Bởi lẽ, thái độ tâm lý đó hoàn toàn  
khác với sự ngay tình.  
Yếu tố chủ quan được cấu thành từ hai yếu tố: ý chí và dự định. Ý chí phải được bày tỏ bởi một  
người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Dự định chính là những xử sự của người chiếm hữu  
nhằm khẳng định quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó.  
3.1.2. Xác lập quyền chiếm hữu của chủ sở hữu  
Hội đủ corpus và animus - Quyền chiếm hữu vật chất và pháp lý được xác lập khi hội đủ hai  
yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Riêng yếu tố chủ quan không những phải có mà  
còn phải được pháp luật thừa nhận. Nếu yếu tố chủ quan tuy có nhưng không được pháp  
luật thừa nhận thì người chiếm hữu sẽ ở trong tình trạng chiếm hữu thực tế mà không  
không có quyền chiếm hữu. Luật viết gọi đó là tình trạng chiếm hữu không có căn cứ pháp luật  
và không ngay tình.  
Quyền chiếm hữu của người quản lý tài sản - Yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan  
không nhất thiết phải hội đủ vào bản thân chủ sở hữu bởi có trường hợp các yếu tố này xuất  
hiện ở người không phải là chủ sở hữu và cũng không xem mình là chủ sở hữu, đó là  
người quản lý tài sản. Vai trò của người quản lý tài sản được đặt trong nhiều trường hợp:  
chủ sở hữu là người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng nhận  
thức được hành vi của mình; chu sở hữu vắng mặt hoặc mất tích; chủ sở hữu chết; được chỉ  
định làm người quản lý di sản thừa kế... Khi đó, người quản lý tài sản thực hiện các tác động  
vật chất lên tài sản mà mình quản lý, thể hiện thái độ tâm lý của chủ sở hữu trong quá trình  
thực hiện những giao dịch đó. Tuy nhiên, chỉ có corpus của người quản lý còn animus được  
người quản lý thể hiện không hoàn hảo, bởi tài sản - đối tượng của việc chiếm hữu - thuộc sở  
hữu của người khác.  
3.1.3. Mất quyền chiếm hữu của chủ sở hữu  
Chỉ mất corpus - Việc chủ sở hữu không tự mình nắm giữ, quản lý tài sản nhưng vẫn  
duy trì thái độ xử sự của của chủ sở hữu đối với tài sản chỉ khiến cho chủ sở hữu mất quyền  
chiếm hữu vật chất chứ không mất quyền chiếm hữu pháp lý. Chính vì lẽ đó, chủ sở hữu vẫn  
được coi là người chiếm hữu liên tục đối với tài sản dù không tự mình nắm giữ tài sản. Mất  
corpus có thể xảy ra một cách tự nguyện (trong các trường hợp chủ sở hữu giao kết hợp  
đồng cho thuê, cho mượn, ủy quyền quản lý và sử dụng tài sản...), cũng có thể xảy ra một  
cách không tự nguyện (có hai loại: có animus với sự ngay tình và có animus với sự không  
ngay tình).  
Chỉ mất animus - Trong các trường hợp chủ sở hữu đã bán tài sản của mình co người khác  
và đã làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người mua; nhưng do điều kiện khách quan  
mà người mua chưa thể tự mình nắm giữ và quản lý tài sản mà yêu cầu người bán tiếp tục  
quản lý tài sản trong một thời gian nhất định. Khi đó, người bán  
vẫn có quyền chiếm hữu vật chất nhưng không có quyền chiếm hữu về mặt pháp lý, bởi tài  
sản vào lúc này thuộc quyền sở hữu của người khác.  
3.1.4. Chiếm hữu không hoàn hảo102  
Dẫn nhập - Điều 247, khoản 1 BLDS quy định: ” người chiếm hữu, người được lợi về  
tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10  
năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản, thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể  
từ thời điểm chiếm hữu...”. Từ nội dung điều luật, ta có thể rút ra một nguyên tắc rằng  
quyền sở hữu theo thời hiệu sẽ không được xác lập nếu thiếu bất cứ một trong những yếu tố  
nào đã được quy định tại Điều 247 BLDS. Vấn đề đặt ra ở đây là như thế nào là chiếm hữu  
không liên tục, chiếm hữu gián đoạn, chiếm hữu không công khai, hoặc những trường hợp  
khác không thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu theo Điều 247 BLDS.  
Chiếm hữu không liên tục - Theo Điều 190 BLDS, “việc chiếm hữu tài sản được thực  
hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về tài sản đó là chiếm hữu liên  
tục, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu”. Như vậy, để có sự chiếm hữu  
liên tục với tư cách chủ sở hữu cần có đầy đủ các điều kiện sau:  
-
-
Có sự liên tục của corpus và animus.  
Không có sự tranh chấp của người thứ ba về tài sản.  
Những trường hợp chiếm hữu không đáp ứng đầy đủ những điều kiện này sẽ được xem là  
sự chiếm hữu không liên tục.  
Chiếm hữu không công khai - Theo Điều 191 BLDS, “việc chiếm hữu được coi là công  
khai khi thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử  
dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản  
của chính mình”. Yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của khái niệm chiếm hữu công khai chính  
là sự công khai của corpus, nghĩa là người chiếm hữu thực hiện các tác động vật chất đối với  
tài sản một cách minh bạch, không giấu giếm. Và ngược lại, sự chiếm hữu trở nên không  
công khai một khi các giao dịch tạo thành corpus được thực hiện không minh bạch hoặc giấu  
giếm nhằm ngăn chặn sự truy tìm tài sản của người có quyền kiện đòi lại tài sản. Khi đó, sự  
chiếm hữu công khai với tất cả mọi người, trừ người có quyền kiện đòi lại tài sản vẫn là sự  
chiếm hữu công khai theo ý nghĩa pháp lý. Do đó, có thể nói rằng sự chiếm hữu công khai theo  
ý nghĩa pháp lý chỉ là một khái niệm tương đối.  
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình -Theo Điều 189 BLDS:  
“Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà  
không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.”  
3.1.5. Hiệu lực của quyền chiếm hữu của chủ sở hữu  
Bảo vệ quyền chiếm hữu - Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu được bảo vệ trong khuôn  
khổ những quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu được ghi nhận tại các Điều từ 255 đến 261  
BLDS. Theo đó, người chiếm hữu là chủ sở hữu đích thực đối với tài sản có quyền yêu cầu  
Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở  
hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở  
hữu, quyền chiếm hữu trái pháp luật, và yêu cầu bồi thường thiệt hại.  
Luật viết hiện hành ghi nhận trường hợp một người xác lập quyền chiếm hữu của chủ sở  
102 còn gọi là chiếm hữu có tì vết (vice)  
hữu đối với một tài sản nhưng không phải là chủ sở hữu đích thực của tài sản đó. Trường  
hợp này, trên thực tế có thể phân thành hai nhóm:  
Chiếm hữu ngay tình - Người chiếm hữu trong trường hợp này có thể xác lập quyền sở hữu  
đối với tài sản chiếm hữu do thời hiệu và có quyền đối với một phần hoa lợi, lợi tức từ tài  
sản trong trường hợp phải trao trả tài sản cho chủ sở hữu đích thực103.  
Chiếm hữu không ngay tình - Luật không thừa nhận quyền chiếm hữu của người chiếm  
hữu không ngay tình trong trường hợp này và cũng không thừa nhận tình trạng chiếm hữu  
không ngay tình. (khoản 1, Điều 601 BLDS)  
3.2. Chiếm hữu tài sản của người khác  
Tình trạng chiếm hữu chỉ có corpus - Một khi việc chiếm hữu không có yếu tố chủ quan  
(animus) mà chỉ có yếu tố khách quan (corpus) thì người chiếm hữu đang ở trong tình trạng  
chiếm hữu tài sản của người khác. Điều 183 BLDS ghi nhận những trường hợp chiếm hữu  
hợp pháp của người khác, bao gồm: người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản, người  
được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua các giao dịch dân sự phù hợp với quy định của  
pháp luật, người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu  
tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật  
quy định, người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với  
các điều kiện do pháp luật quy định và một số trường hợp khác do pháp luật quy định. Tất  
cả những người này đều có quyền xác lập những giao dịch mang tính chất vật chất tác độüng  
lên tài sản với tư cách của một người có quyền đối với tài sản của người khác chứ không phải  
đối với tài sản mà mình là chủ sở hữu.  
Hiệu lực của việc chiếm hữu tài sản của người khác - Người chiếm hữu tài sản của người  
khác luôn có nghĩa vụ giao trả tài sản cho chủ sở hữu. Nghĩa vụ hoàn trả phải được thực hiện  
tại một thời điểm nào đó tùy theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Điều này  
xuất phát từ nguyên tắc người chiếm hữu tài sản của người khác không thể xác lập quyền  
sở hữu theo thời hiệu. Người chiếm hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ trong  
trường hợp quyền chiếm hữu của mình bị xâm phạm theo các quy định tại các Điều từ 255  
đến Điều 261 BLDS. Tuy nhiên, việc chiếm hữu tài sản của người khác chỉ được bảo vệ  
trong trường hợp bị xâm hại với điều kiện người chiếm hữu chứng minh được tính hợp pháp  
của tình trạng chiếm hữu đó của mình. Cũng cần lưu ý rằng các biện pháp bảo vệ quyền  
chiếm hữu tài sản của người khác không thể được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp  
giữa các bên tham gia mối quan hệ kết ước làm phát sinh việc chiếm hữu đó.  
MỤC 2 - Căn cứ xác lập quyền sở hữu  
Theo BLDS Điều 170, “Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp  
sau đây: do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp; được chuyển giao quyền  
sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; thu  
hoa lợi, lợi tức; tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; được thừa kế tài sản;  
chiếm hữu trong các trường hợp do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị  
bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;  
chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp  
với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS; và các trường hợp khác do pháp luật quy  
định”.  
Như vậy, các căn cứ xác lập quyền sở hữu dự liệu tại Điều 170 BLDS được xếp thành hai  
nhóm:  
Nhóm quyền sở hữu được chuyền giao: có nhiều phân nhóm nhỏ:  
103  
Theo Điều 601, khoản 2 BLDS: người chiếm hữu tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, thì  
phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu đó là không có  
căn cứ pháp luật. Nghĩa là, không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức đã thu được một cách ngay tình  
Theo nguồn gốc của việc chuyển giao, quyền sở hữu được xác lập có thể do luật  
định (như thừa kế theo pháp luật, quốc hữu hóa); bằng con đường tư pháp (như thanh  
toán doanh nghiệp trong tình trạng phá sản, buộc bồi thường thiệt hại, tịch thu sung công  
quỹ) hoặc hành chính (như xử phạt hành chính, giao quyền sử dụng đất); do ý chí của chủ sở  
hữu bằng giao dịch một bên (di chúc) hoặc bằng hợp đồng (bán, tặng cho, trao đổi).  
Theo phạm vi đối tượng chuyển giao, ta có chuyển giao tổng quát (như để lại di  
sản thừa kế, sáp nhập các doanh nghiệp) hoặc chuyển giao đặc định (như bán, tặng cho, di  
tặng).  
Theo động cơ vật chất của việc chuyển giao, ta có chuyển giao có đền bù (như  
bán, trao đổi, giao quyền sử dụng đất có thu tiền) hoặc không có đền bù (tặng cho, thừa kế  
theo di chúc hoặc theo pháp luật.  
Nhóm quyền sở hữu được xác lập trực tiếp: do lao động sáng tạo, do chiếm giữ, sáp nhập,  
chiếm hữu tài sản,...mà quyền sở hữu được hình thành và thừa nhận.  
Trong phần này, nội dung nghiên cứu chỉ giới hạn trong nhóm quyền sở hữu được xác lập  
theo phương thức trực tiếp và những vấn đề có liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu theo  
phương thức đó.  
1. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu  
Thời hiệu - Theo Điều 154 BLDS: "Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi  
kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự  
hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự."  
Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu - được ghi nhận tại Điều 247 BLDS như sau: "Người  
chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục,  
công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm  
đối với bất động sản, thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm  
hữu" trừ trường hợp "chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước, không có căn cứ pháp luật  
thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu” thì người chiếm hữu  
tài sản đó cũng không thể trở thành chủ sở hữu hợp pháp được. Tuy nhiên, rõ ràng luật viết  
đã không quy định rõ cách tính thời hiệu trong việc xác lập quyền sở hữu theo căn cứ này. Về  
mặt lý luận, có thể lý giải vấn đề này theo nhiều cách:  
Cách thứ nhất, không có sự kết nối việc chiếm hữu - Thời hạn mười năm hoặc ba mươi  
năm nói trên được tính từ ngày người xác lập quyền sở hữu do thời hiệu thực sự chiếm hữu  
tài sản một cách ngay tình. Nếu người này chuyển nhượng tài sản cho người khác lúc còn  
sống hoặc di tặng tài sản mà chưa kịp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, thì thời hiệu được  
tính lại từ đầu cho người chiếm hữu mới.  
Cách thứ hai, có kết nối việc chiếm hữu với điều kiện tất cả những người chiếm hữu  
liên tiếp đều ngay tình - Thời hạn mười năm hoặc ba mươi năm nói trên được tính từ ngày  
chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình đầu tiên. Những người nối tiếp nhau nhận tài sản  
sau này (qua một giao dịch dân sự) được cộng thêm thời gian chiếm hữu của người chiếm  
hữu trước vào thời gian chiếm hữu của mình trong việc tính thời hiệu, với điều kiện tất cả  
đều là người chiếm hữu ngay tình. Nếu trong chuỗi người chiếm hữu nối tiếp nhau có một  
người không ngay tình, thì thời hiệu lại được tính lại từ đầu kể từ ngày chiếm hữu của người  
chiếm hữu ngay tình đầu tiên sau người chiếm hữu không ngay tình đó. Riêng người thừa kế  
theo pháp luật hoặc theo di chúc sẽ kế tục sự ngay tình hoặc không ngay tình của người chết.  
Cách thứ ba, có kết nối việc chiếm hữu nhưng quyền sở hữu do thời hiệu chỉ được xác  
lập cho người chiếm hữu ngay tình - Thời hạn mười năm hoặc ba mươi năm nói trên được  
tính từ ngày chiếm hữu của người chiếm hữu đầu tiên, bất kể ngay tình hay không ngay tình.  
Nhưng, cần chú ý rằng chỉ có người chiếm hữu ngay tình mới có thể xác lập quyền sở hữu  
theo thời hiệu. Người thừa kế của một người chiếm hữu ngay tình cũng xác lập được  
quyền sở hữu theo thời hiệu, dù bản thân có thể không ngay tình.  
Cách thứ tư, có kết nối việc chiếm hữu tính từ người chiếm hữu ngay tình đầu tiên - Thời  
hạn mười năm hoặc ba mươi năm nói trên được tính kể từ ngày chiếm hữu của người  
chiếm hữu ngay tình đầu tiên; những người chiếm hữu nối tiếp được cộng thêm thời gian  
chiếm hữu của người chiếm hữu trước vào thời gian chiếm hữu của mình để tính thời hiệu  
và người chiếm hữu vào năm thứ mười một hoặc năm thứ ba mươi mốt sẽ có quyền xác lập  
quyền sở hữu do thời hiệu. Kể từ người chiếm hữu kế tiếp sau người người chiếm hữu ngay  
tình đầu tiên, vấn đề ngay tình hay không ngay tình không được đặt ra nữa.  
Gián đoạn thời hiệu - Theo BLDS Điều 158 khoản 2, thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn  
trừ nghĩa vụ dân sự bị gián đoạn khi có một trong các sự kiện sau đây: a) Có sự giải quyết của  
cơ quan có thẩm quyền đối với quyền và nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu; b)  
Quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên  
quan tranh chấp. Qua nội dung điều luật này, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau:  
-
Thứ nhất: thời hiệu xác lập quyền sở hữu không bị gián đoạn trong trường hợp tài  
sản bị mất hoặc bị đánh cắp. Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình  
có quyền thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm truy tầm và thu hồi tài sản bị mất hoặc bị  
đánh cắp. Trong trường hợp tài sản được thu hồi, thì người chiếm hữu không có căn cứ  
pháp luật nhưng ngay tình lại tiếp tục chiếm hữu và thời gian tài sản bị mất vẫn được tính  
trong thời gian chiếm hữu liên tục của người này.  
-
Thứ hai: việc giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nếu có tác dụng buộc  
người chiếm hữu hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu đích thực, thì không những chỉ làm gián  
đoạn thời hiệu mà còn loại trừ khả năng bắt đầu một thời hiệu mới Trái lại, nếu cơ quan  
Nhà nước có thẩm quyền thừa nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu (do nhầm lẫn), thì  
thời hiệu vẫn liên tục.  
-
Thứ ba: việc tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, như đã nói, tự nó không ảnh  
hưởng đến sự chiếm hữu liên tục. Tranh chấp cũng không hẳn làm gián đoạn thời hiệu xác  
lập quyền sở hữu, trừ trường hợp người tranh chấp là chủ sở hữu đích thực của tài sản. Ta  
nói rằng tranh chấp có tác dụng làm gián đoạn thời hiệu với điều kiện treo. Giả sử người  
tranh chấp được thừa nhận là chủ sở hữu tài sản, thì thời hiệu xác lập quyền sở hữu cho người  
chiếm hữu bị gián đoạn từ ngày có tranh chấp và cũng không thể bắt đầu lại, dù người bị tranh  
chấp có tiếp tục chiếm hữu tài sản. Nhưng đó phải là tranh chấp chính thức, nghĩa là được  
đưa ra xem xét tại một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: sự tranh cãi thuần tuý dân gian  
không thể làm gián đoạn thời hiệu, ngay cả với điều kiện treo.  
Hoãn tính thời hiệu - Thời hiệu xác lập quyền sở hữu cho người chiếm hữu không có căn  
cứ pháp luật nhưng ngay tình tương ứng với thời hiệu khởi kiện đòi lại tài sản của chủ sở  
hữu đích thực. Theo BLDS Điều 161 thì không được tính vào thời hiệu khởi kiện khoảng thời  
gian mà trong đó xảy ra một trong các sự kiện sau đây:  
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền  
yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.  
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và  
không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.  
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có  
quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm  
hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình;  
2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu  
cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;  
3. Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục  
đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực  
hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.  
Trong trường hợp thời hiệu được hoãn tính, thì sau khi sự kiện làm dừng thời hiệu chấm  
dứt, thời hiệu sẽ được tính tiếp bằng cách cộng khoảng thời gian tính vào thời hiệu trước  
khi xảy ra sự kiện vào khoảng thời gian bắt đầu từ lúc sự kiện chấm dứt. Trong khung cảnh  
của luật thực định Việt Nam, hiệu lực của việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu phát sinh  
một cách đương nhiên. Người trước đây là chủ sở hữu tài sản sẽ bị bác đơn kiện đòi lại tài sản,  
một khi có đủ bằng chứng cho thấy bị đơn của vụ kiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện để xác  
lập quyền sở hữu theo thời hiệu.Tuy nhiên, một cách hợp lý, người chiếm hữu cũng có thể  
từ chối việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.  
2. Xác lập quyền sở hữu theo các phương thức trực tiếp khác  
Các phương thức trực tiếp xác lập quyền sỏ hữu đối với tài sản hữu hình được thừa nhận tại  
Điều 170 BLDS bao gồm: sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; chiếm hữu đối với vật vô chủ, vật bị  
đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc gia cầm bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự  
nhiên (gọi chung là chiếm hữu theo Điều 170 BLDS).  
2.1. Sáp nhập, trộn lẫn, chế biến  
2.1.1. Chế biến  
Đối tượng của việc chế biến phải là động sản. Việc chế biến có thể được chủ sở hữu tự  
mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện thông qua một hợp đồng gia công và chủ  
sở hữu nguyên vật liệu trở thành chủ sở hữu tài sản mới tạo thành (BLDS Điều 238 khoản  
1). Cũng có trường hợp vật được chế biến bởi một người không phải là chủ sở hữu đối với  
vật đó mà cũng không được chủ sở hữu yêu cầu làm việc đó; người chế biến có thể ngay tình  
hoặc không ngay tình, khi chiếm hữu tài sản gốc.  
Luật hiện hành quy định rằng nếu người chế biến ngay tình thì trở thành chủ sở hữu của của  
tài sản mới, nhưng phải thanh toán giá trị nguyên vật liệu, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu  
nguyên vật liệu đó (BLDS Điều 238 khoản 2). Trong trường hợp người chế biến không ngay  
tình, thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu giao vật mới; nếu có nhiều chủ sở hữu nguyên vật liệu,  
thì những người này là đồng chủ sở hữu theo phần đối với vật mới được tạo thành, tương  
ứng với giá trị nguyên vật liệu của mỗi người. Chủ sở hữu không ngay tình đối với nguyên  
vật liệu bị chế biến có quyền yêu cầu người chế biến bồi thường thiệt hại (Điều 238 khoản  
3). Như vậy:  
-
Thứ nhất, luật không dự liệu việc thanh toán công sức lao động mà người chế biến  
không ngay tình bỏ ra để để chế biến sản phẩm. Người chế biến không ngay tình không  
những không có quyền sở hữu đối với tài sản mới mà còn không được trả công chế biến và  
phải bồi thường thiệt hại, nếu chủ sở hữu nguyên vật liệu có yêu cầu.  
-
Thứ hai, nếu việc chế biến được thực hiện một phần bằng nguyên vật liệu của  
người chế biến không ngay tình, thì người này cũng trở thành một trong các đồng chủ sở hữu  
theo phần đối với tài sản mới, áp dụng Điều 238 khoản 3 nêu trên. Tất nhiên, người này vẫn  
phải bồi thường thiệt hại, nếu chủ sở hữu phần nguyên vật liệu bị chế biến không ngay tình  
có yêu cầu.  
2.1.2. Sáp nhập và trộn lẫn  
Đặt vấn đề - Sáp nhập, trong luật hiện hành, là việc gắn một vật vào một vật khác tạo  
thành một vật mới có thể chia được hoặc không chia được (BLDS Điều 236 khoản 1) ; còn  
trộn lẫn là việc pha trộn các vật với nhau tạo thành một vật mới (Điều 237 khoản 1). Vật  
được sáp nhập có thể là một động sản hoặc một bất động sản, vật được trộn lẫn chỉ có thể là  
một động sản.  
2.1.2.1. Sáp nhập bất động sản  
Nguyên tắc: quyền sử dụng đất luôn là vật chính - Các bất động sản hữu hình nếu  
không là đất, thì đều là những tài sản gắn liền với đất và đều là những vật phục vụ cho  
việc khai thác công dụng của đất. Với đặc điểm đó, các tài sản gắn liền với đất phải được coi  
là vật phụ so với đất. Đất, hay nói đúng hơn là quyền sử dụng đất luôn là vật chính.  
Sáp nhập bất động sản có thể xảy ra tự nhiên, như trong trường hợp di chuyển tự nhiên của  
vật nuôi dưới nước nhưng có khi sự sáp nhập là rõ ràng về mặt tự nhiên nhưng lại không  
được coi là sáp nhập về mặt pháp lý trong luật Việt Nam (ví dụ như sự bồi đắp của phù sa...).  
Sự sáp nhập cũng có thể xảy ra một cách nhân tạo.  
Theo BLDS Điều 236 khoản 3, “Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người  
khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không  
phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở  
hữu tài sản bị sáp nhập có quyền yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản  
của mình và bồi thường thiệt hại”. Vậy, các tài sản gắn liền với đất do sự sáp nhập thuộc  
quyền sở hữu của người có quyền sử dụng đất. Giải pháp này còn được luật chính thức thừa  
nhận cho trường hợp đặc thù của việc sáp nhập các vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên  
(BLDS Điều 244). Tuy nhiên, chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có quyền yêu cầu người sáp nhập  
tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại.  
2.1.2.2. Sáp nhập và trộn lẫn động sản  
Các quy tắc chung - Nếu các tài sản được sáp nhập hoặc trộn lẫn thuộc về cùng một chủ  
sở hữu, thì chính người này là chủ sở hữu tài sản mới được tạo thành từ việc sáp nhập hoặc  
trộn lẫn. Nếu tài sản được sáp nhập hoặc trộn lẫn thuộc hai chủ sở hữu khác nhau, thì cả hai  
trở thành những người có quyền sở hữu chung theo phần đỗi với tài sản mới (BLDS Điều 236  
khoản 1, Điều 237 khoản 1).  
Nếu trường hợp việc sáp nhập hoặc trộn lẫn được thực hiện với sự không ngay tình thì người  
có tài sản bị sáp nhập hoặc bị trộn lẫn có thể lựa chọn một trong hai giải pháp như ta đã biết  
(BLDS Điều 236 khoản 2, Điều 237 khoản 2) hoặc nhận tài sản mới và thanh toán cho  
người sáp nhập hoặc trộn lẫn giá trị phần tài sản của người đó; hoặc không nhận tài sản mới  
và yêu cầu người sáp nhập, trộn lẫn thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường  
thiệt hại.  
2.2. Chiếm hữu theo khoản 6 Điều 170 BLDS  
Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc.  
2.2.1. Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên  
“Người nhặt hoặc phát hiện được vật do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên mà biết rõ địa chỉ  
của người đánh rơi hoặc bỏ quên, thì phải thông báo hoặc trả lại vật cho người đó.”  
(BLDS Điều 239 khoản 2, Điều 241 khoản 1). Trường hợp không biết được địa chỉ của người  
đánh rơi hoặc bỏ quên, BLDS quy định rằng “người nhặt hoặc phát hiện phải thông báo cho  
UBND xã, phường, thị trấn hoặc Công an cơ sở nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ  
sở hữu biết mà nhận lại. Sau một năm kể từ ngày thông báo công khai về vật nhặt được, phát  
hiện được mà không xác định được ai là chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận, nếu  
vật có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì vật đó thuộc sở hữu  
của người nhặt được, phát hiện được” (Điều 239 khoản 2 đoạn 4, Điều 241 khoản 2); “nếu vật  
có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, thì sau khi trừ chi phí  
bảo quản người nhặt được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu và 50% giá trị của  
phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc  
Nhà nước” (Điều 241 khoản 2 BLDS). “Trong trường hợp vật bị đánh rơi, bị bỏ quên là cổ  
vật, là di tích lịch sử, văn hóa mà sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, không xác  
định được ai là chủ sở hữu hoặc không có người đến nhận, thì vật đó thuộc Nhà nước và  
người nhặt được, phát hiện được vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định  
của pháp luật” (Điều 241 khoản 3).  
2.2.2. Gia súc, gia cầm bị thất lạc  
Việc xác lập quyền sở hữu đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc được dự liệu tại các Điều 242  
và 243 BLDS. Nếu bắt được gia súc bị thất lạc, thì người bắt được phải thông báo cho  
UBND xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà  
nhận lại (Điều 242). Người bắt được gia súc bị thất lạc, sau khi hết thời hạn sáu tháng kể từ  
ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì sẽ được xác lập quyền sở hữu đối  
với gia súc bị thất lạc đó Nếu gia súc bắt được là gia súc thả rông theo tập quán, thì thời hạn  
này là một năm (Điều 242); còn đối với gia cầm thất lạc, thời hạn này là một tháng kể từ  
ngày thông báo công khai (Điều 243).  
Nếu có người đến nhận gia súc trong thời hạn luật định và, trong thời gian chờ đợi, gia súc  
sinh con, thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra (Điều 242).  
Trong cùng một giả thuyết, người bắt được gia cầm được hưởng trọn hoa lợi do gia cầm  
sinh ra (Điều 243). Cần lưu ý rằng hoa lợi nói ở đây là hoa lợi phát sinh trong suốt thời gian  
người bắt được gia súc, gia cầm bị thất lạc chiếm hữu tài sản cho đến ngày cuối của thời hạn  
được luật ấn định để chủ sở hữu thực hiện quyền nhận lại tài sản, không phải từ ngày thông  
báo công khai cho đến hết thời hạn luật định. Ngoài ra, cần lưu ý rằng hoa lợi của gia súc  
sinh sản nhiều kỳ sẽ được phân chia theo lứa chứ không theo số đầu gia súc thực tế.  
Qua nội dung đã phân tích ở trên, ta có thể rút ra một số nhận người xét sau:  
Thứ nhất, trong khoảng thời gian giữa thời điểm nhặt, phát hiện vật bị đánh rơi, bị bỏ quên  
hoặc thời điểm bắt được gia súc, gia cầm bị thất lạc và thời điểm giao trả lại cho chủ sở hữu  
hoặc giao nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, người nhặt, phát hiện hoặc bắt được có  
quyền chiếm hữu tài sản đó. Để có quyền chiếm hữu tài sản, người nhặt, phát hiện hoặc bắt  
được phải thông báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc tự mình thông báo công  
khai. Quyền chiếm hữu được xác lập kể từ ngày nhặt, phát hiện, bắt được chứ không phải  
từ ngày thông báo. Nếu không thông báo, người nhặt, phát hiện hoặc bắt được sẽ ở trong  
tình trạng chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình đối với tài sản. Dù có  
thông báo hay không, người nhặt, phát hiện hoặc bắt được không thể xác lập quyền sở hữu  
theo thời hiệu đối với vật bằng cách chỉ dựa vào tình trạng chiếm hữu liên tục và công khai.  
Thứ hai, luật không định thời hạn thông báo công khai kể từ ngày vật được nhặt, phát  
hiện, bắt được hoặc được giao nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Luật cũng không  
xác định hình thức thông báo công khai (công bố trên báo đài, đài trung ương, đài địa  
phương,...) vấn đề này được giải quyết tùy theo tập quán sinh hoạt của từng vùng cũng như  
mức độ hiện đại của các phương tiện thông tin mà dân cư trong vùng đang sử dụng hoặc  
hưởng thụ.  
Thứ ba, luật không xác định từ thời điểm nào quyền sở hữu được xác lập cho người nhặt,  
phát hiện vật bị đánh rơi, bỏ quên hoặc bắt được gia cầm, gia súc thất lạc. Ta có thể suy luận  
hai cách thức xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu trong trường hợp này như sau: quyền  
sở hữu được xác lập từ thời điểm hết hạn để người đánh rơi, bỏ quên, làm thất lạc nhận lại  
tài sản; hoặc quyền sở hữu được xác lập từ thời điểm nhặt, phát hiện vật, bắt được gia cầm,  
gia súc đó. Rõ ràng, việc xác lập quyền sở hữu theo cách thứ nhất tỏ ra hợp lý hơn về lý luận  
cũng như thực tiễn và cũng phù hợp với tinh thần của giải pháp cho vấn đề xác lập quyền sở  
hữu theo thời hiệu ghi nhận tại khoản 1 Điều 247 BLDS.  
Việc chuyển nhượng vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc - được giải  
quyết như sau:  
-
Giả thuyết thứ nhất: người nhặt được vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bắt được gia súc,  
gia cầm bị thất lạc đã có thông báo công khai và việc chuyển nhượng được thực hiện trong  
thời gian chờ đợi - Người được chuyển nhượng không thể được coi như ngay tình khi  
tham gia vào việc chuyển nhượng, bởi đã có thông báo công khai: việc thông báo có tác  
dụng đặt tất cả mọi người vào tình trạng buộc phải biết việc chiếm hữu gia, súc, gia cầm bị  
thất lạc. Nhưng, một cách hợp lý, người này phải được hưởng thời gian chiếm hữu liên tục của  
người chuyển nhượng và chỉ cần chờ đến khi hết thời hạn luật định, kể từ ngày thông báo  
công khai, để xác lập quyền sở hữu của mình đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc và được  
chuyển nhượng. Giả sử, trong thời gian chờ đợi, chủ sở hữu gia súc, gia cầm bị thất lạc đến  
nhận lại tài sản, thì người được chuyển nhượng cũng có quyền yêu cầu hoàn trả chi phí nuôi  
giữ và các chi phí khác, cũng như được quyền sở hữu đối với hoa lợi như thể tài sản còn  
nằm trong tay người chuyển nhượng. Ta nói rằng việc chuyển nhượng có tác dụng chuyển  
các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản chuyển nhượng cho người được chuyển  
nhượng. Nếu tài sản được chuyển nhượng trong điều kiện đã có thông báo công khai, thì  
người chuyển nhượng và người được chuyển nhượng hưởng hoa lợi phát sinh trong thời gian  
chiếm hữu của mình, theo các quy định tại các Điều 242 và 243 BLDS.  
-
Giả thuyết thứ hai: người bắt được gia súc, gia cầm không thông báo công khai.  
Không thông báo, người chuyển nhượng ở trong tình trạng chiếm hữu không ngay tình.  
người được chuyển nhượng có thể biết mà cũng có thể không biết điều đó. Nếu người được  
chuyển nhượng biết mà vẫn chấp nhận mua, trao đổi,... thì người này tiếp tục chiếm hữu  
không ngay tình và không bao giờ có thể xác lập được quyền sở hữu đối với tài sản.  
Nếu người được chuyển nhượng không biết và không thể biết việc chiếm hữu không ngay  
tình của người chuyển nhượng, thì sau khi chuyển nhượng, người được chuyển nhượng sẽ  
trở thành người chiếm hữu ngay tình. Trong trường hợp này, quyền sở hữu đối với tài sản có  
thể được xác lập theo thời hiệu, được quy định tại khoản 1 Điều 255 BLDS. Nếu tài sản  
được chuyển nhượng trong điều kiện người chuyển nhượng không thông báo công khai, thì,  
khi chủ sở hữu của gia súc, gia cầm bị thất lạc xuất hiện, việc giải quyết số phận của hoa lợi  
được xác định tuỳ theo người được chuyển nhượng ngay tình hoặc không ngay tình: nếu  
ngay tình, người này không phải hoàn trả hoa lợi đã thu được cho đến ngày chấm dứt sự  
ngay tình; trong trường hợp không ngay tình, người này phải hoàn trả toàn bộ hoa lợi sinh ra  
từ khi bắt đầu chiếm hữu.  
2.2.3. Vật bị chôn giấu  
Theo BLDS Điều 240, “Vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc  
không xác định được ai là chủ sở hữu, thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở  
hữu đối với vật đó được xác định như sau:  
1. Vật được tìm thấy là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hóa, thì thuộc Nhà nước, người tìm  
thấy vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.  
2. Vật được tìm thấy không phải là di tích lịch sử, văn hoá, mà có giá trị đến mười tháng  
lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu vật tìm thấy  
có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được  
hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của  
phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc  
Nhà nước.  
2.3. Chiếm hữu theo khoản 7 Điều 170 BLDS  
2.3.1. Chiếm hữu với tư cách chủ sở hữu  
Có đủ corpus và animus - Để xác lập được quyền sở hữu theo thời hiệu, người chiếm hữu tài  
sản phải chiếm hữu theo cung cách của một người có quyền sở hữu đối với tài sản đó, nghĩa  
là có đủ corpus và animus. Việc chiếm hữu phải liên tục và công khai.  
2.3.2. Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình  
Người tự mình chiếm đoạt tài sản của người khác không bao giờ là người chiếm hữu không có  
căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo nghĩa của khoản 1 Điều 247 BLDS bởi người này  
biết rõ hoặc buộc phải biết tài sản không thuộc sở hữu của mình, nhưng vẫn xử sự như là chủ  
sở hữu; không có sự ngay tình cần thiết, người này mãi mãi là người chiếm hữu không có  
căn cứ pháp luật cũng không ngay tình và không bao giờ có quyền sở hữu đối với tài sản.  
Tuy nhiên, nếu người chiếm đoạt chuyển nhượng tài sản cho người khác và người được  
chuyển nhượng không biết và không thể biết việc chiếm đoạt, thì người được chuyển nhượng  
sau này lại trở thành người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình.  
Luật Việt Nam hiện hành còn đang trong giai đoạn hoàn thiện khái niệm “người chiếm  
hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình”. Có thể xác định được rằng người chiếm hữu  
không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đối với tài sản phải hội đủ các điều kiện sau đây:  
-
Thứ nhất, phải là người nhận được tài sản từ tay một người xử sự theo cung cách  
của một chủ sở hữu và giao tài sản một cách tự nguyện, nghĩa là nhận được tài sản do  
một vụ chuyển nhượng. Việc chuyển nhượng tài sản có thể được giao kết và thực hiện có  
đền bù (bán, trao đổi..) hoặc không có đền bù (tặng, cho, di tặng...).  
-
Thứ hai, phải ngay tình, nghĩa là “không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu  
tài sản đó là không có căn cứ pháp luật” (BLDS Điều 189 đoạn 2).  
Luật viết cũng ghi nhận một số trường hợp đặc biệt:  
Quyền sở hữu nhà nước không mất đi theo thời hiệu - Theo khoản 2 Điều 247 BLDS,  
người chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật, thì dù ngay tình,  
liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu đối  
với tài sản đó.  
3. Trường hợp người chuyển nhượng không có quyền sở hữu tài sản do giao dịch  
chuyển nhượng vô hiệu:  
+Tài sản có đăng ký quyền sở hữu - Theo khoản 2 Điều 138 BLDS “Trong trường hợp tài  
sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển  
giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô  
hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá  
hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền  
là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án,  
quyết định bị huỷ, sửa.” Trong luật Việt Nam hiện hành, đối với tài sản thuộc loại phải đăng  
ký quyền sở hữu, thì việc chuyển nhượng chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở xuất trình các  
bằng chứng về việc đăng ký quyền sở hữu đó. Vậy, một người chấp nhận giao kết việc chuyển  
nhượng đối với một tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, trong điều kiện người chuyển  
nhượng không xuất trình được bằng chứng về việc đăng ký đó, thì không thể được coi là  
ngay tình khi chiếm hữu tài sản và không thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu bằng  
cách viện dẫn khoản 1 Điều 247 BLDS. Trong hầu hết các trường hợp chuyển nhượng đối với  
tài sản phải đăng ký quyền sở hữu (mua bán, tặng cho, trao đổi,...), thì quyền sở hữu được  
chuyển cho người được chuyển nhượng ở thời điểm đăng ký. Như vậy, đối với các tài sản  
phải đăng ký quyền sở hữu, thì để được coi là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật  
nhưng ngay tình, người chiếm hữu tài sản trước hết phải hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở  
hữu tại cơ quan có thẩm quyền; tình trạng chiếm hữu được dùng làm cơ sở để xác lập quyền  
sở hữu theo thời hiệu được coi như bắt đầu từ ngày đăng ký chứ không phải từ ngày tiếp  
nhận tài sản.  
+Tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu-Ta có giả thiết như sau: một  
người được nhận một tài sản do một giao dịch dân sự. Ít lâu sau, người này chuyển nhượng  
tài sản cho người khác. Thời gian sau nữa, giao dịch dân sự có tác dụng chuyển giao tài  
sản cho người chuyển nhượng bị tuyên bố vô hiệu. Trong trường hợp này, luật nói rằng, nếu  
người được chuyển nhượng sau ngay tình, thì giao dịch được xác lập sau vẫn có hiệu lực,  
mặc dù giao dịch trước vô hiệu (BLDS Điều 138 khoản 1). Nếu giao dịch có tác dụng  
chuyển quyền sở hữu tài sản, thì người được chuyển nhượng sau là chủ sở hữu của tài sản  
do sự công nhận của luật mà không cần đợi đến mười năm hoặc ba mươi năm để xác lập  
quyền sở hữu theo thời hiệu như người chiếm hữu ngay tình trong các trường hợp khác. Tuy  
nhiên, giải pháp này chắc chắn chỉ được áp dụng cho các vụ chuyển nhượng theo nghĩa đích  
thực. Nó không thể được áp dụng cho các trường hợp chuyển giao tài sản bằng con đường  
thừa kế bởi người thừa kế chỉ có quyền và nghĩa vụ của người để lại di sản chứ không  
xác lập quyền của riêng mình lên tài sản được người đó chuyển giao.  
MỤC 3 - Bằng chứng về quyền sở hữu  
Dẫn nhập - Vấn đề bằng chứng về quyền sở hữu không chỉ được đặt ra mỗi khi có tranh  
chấp. Trong trường hợp tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và việc đăng ký được thực hiện  
lần đầu, thì người yêu cầu đăng ký phải chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản  
liên quan, trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Một khi các bằng chứng về quyền sở  
hữu được thiết lập đầy đủ, người đăng ký lần đầu được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu  
tài sản và giấy chứng nhận này trở thành bằng chứng thay thế cho các bằng chứng khác  
về quyền sở hữu trong thực tiễn các giao dịch. Nhưng nói chung, về quyền sở hữu hoặc  
quyền yêu cầu chuyển quyền sở hữu đối với tài sản phải đăng ký, cơ quan đăng ký tiếp nhận  
và thẩm định các loại bằng chứng trong khuôn khổ luật chung. Trong thực tiễn giao dịch có  
xu hướng chấp nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu như là bằng chứng tốt nhất (thậm chí duy  
nhất) về quyền sở hữu đối với tài sản phải đăng ký. Mỗi khi chuyển nhượng, cầm cố, thế  
chấp các tài sản loại này, người chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp chỉ cần xuất trình giấy  
chứng nhận có liên quan thì việc thẩm tra tư cách chủ sở hữu coi như được thực hiện xong.  
Khi kiện đòi lại tài sản, người có giấy chứng nhận quyền sở hữu có thể xuất trình giấy này để  
chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản tranh chấp và người bị kiện, muốn giữ lại  
tài sản, trước hết phải thiết lập được bằng chứng phủ nhận giá trị của giấy đó. Trái lại, trong  
trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu mà người có giấy chứng nhận quyền sở hữu là bị  
đơn, thì giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ có tác dụng như một lá chắn, một giấy chứng  
nhận quyền được miễn chứng minh. Khi đó, giấy chứng nhận, suy cho cùng, chỉ là hình thức  
xác nhận một quyền được giả định là đã tồn tại trước đó hoặc xác nhận việc chuyển giao  
quyền đó.  
Có những hệ thống luật (như Anh, Đức) quan niệm rằng các quyền đối với bất động sản  
không chỉ có giá trị đối với tất cả mọi người mà còn có tầm quan trọng lớn lao đối với nền  
kinh tế. Bởi vậy, các quyền này chỉ có thể xác lập nhờ có sự can thiệp của quyền lực công  
cộng, đặc biệt là thông qua thủ tục đăng ký. Một khi được đăng ký, quyền sở hữu tài sản  
được chứng minh bằng các giấy tờ xác nhận việc đăng ký và sự chứng minh đó không thể bị  
phủ nhận, trừ một vài trường hợp đặc biệt. Các tư tưởng của giải pháp này cũng được ảnh  
hưởng trong tâm lý của một bộ phận lớn dân cư ở Việt Nam (người dân luôn coi trọng việc  
hoàn tất thủ tục trước bạ sang tên và việc cấp “giấy hồng”, “sổ đỏ”104 có tác dụng thiết lập  
sự an toàn đối với quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của người được chuyển nhượng,  
người thừa kế,...). Và gần như, cả người làm luật và người áp dụng pháp luật ở Việt Nam đều  
muốn dựa vào định chế đăng ký bất động sản để giải quyết các tranh chấp liên quan đến loại  
tài sản này. Song cho đến nay các điều kiện khách quan của giải pháp, nhất là các điều  
kiện về chất lượng hoạt động của hệ thống kiểm soát lưu thông dân sự vẫn chưa hội đủ. Bởi  
vậy, luật Việt Nam vẫn chưa bao giờ chính thức thừa nhận giá trị chứng cứ không thể tranh  
cãi của giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu bất động sản.  
Tuy nhiên, những nội dung vừa trình bày ở trên là đối với quyền sở hữu đối với các tài sản  
phải đăng ký. Còn quyền sở hữu các tài sản không đăng ký trong luật Việt Nam được chứng  
minh bằng bất kỳ phương tiện nào, bất kỳ nguồn chứng cứ nào được pháp luật thừa nhận:  
chiếm hữu vật chất, hoá đơn, chứng từ thanh toán, người làm chứng,... Việc thẩm định  
chứng cứ hoàn toàn không đơn giản. Nhưng dẫu sao, mỗi khi có tranh chấp, thì cơ quan Nhà  
nước có thẩm quyền phải xem xét, ra quyết định ai là người được công nhận có quyền sở  
hữu tài sản. Cơ quan giải quyết tranh chấp không thể bác yêu cầu của cả hai bên để tài sản  
104 “Giấy hồng”: giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà; “sổ đỏ”: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
tranh chấp ở trong tình trạng không xác định được chủ sở hữu, cũng không thể tuyên bố cả hai  
đều có quyền sở hữu đối với một tài sản tranh chấp. Tuy nhiên, có thể nói rằng khi giải quyết  
tranh chấp về quyền sở hữu, cơ quan chức năng chỉ tìm cách xác định sự tồn tại của quyền  
trên cơ sở những bằng chứng thuyết phục nhất trong những bằng chứng chống lại nhau.  
1. Trách nhiệm của các bên tranh chấp về quyền sở hữu trong việc cung cấp chứng cứ  
Luật Việt Nam chưa có các quy định mang tính nguyên tắc về trách nhiệm của các bên trong  
một vụ tranh chấp về quyền sở hữu tài sản trong việc cung cấp chứng cứ. Nói riêng về  
quyền tác giả, luật quyết định rằng “Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đăng  
ký quyền tác giả, giấy đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả,  
quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại” (  
Luật sở hữu trí tuệ 2005 Điều 49 khoản 3). Giải pháp này được thừa nhận mà không phân  
biệt người đăng ký bảo hộ là nguyên đơn hay bị đơn trong vụ việc tranh chấp. Thực tiễn áp  
dụng pháp luật cũng có xu hướng thiết lập sự suy đoán có lợi cho người đã đăng ký quyền sở  
hữu, mỗi khi có tranh chấp, dù luật hầu như không có quy định nào tương tự như Điều 49  
khoản 3 nêu trên áp dụng cho các trường hợp tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không phải  
là tác phẩm. Song, chúng ta có một nguyên tắc chung nhất được thừa nhận trên thực tế. Đó  
là: một khi có tranh chấp về quyền sở hữu đối với một tài sản phải đăng ký, thì trách nhiệm  
chứng minh thuộc về bên tranh chấp không đăng ký. Người có giấy chứng nhận quyền sở hữu  
có thể là nguyên đơn, nhưng cũng có thể là bị đơn trong vụ tranh chấp, có thể là người đang  
chiếm hữu vật chất và pháp lý đối với tài sản, nhưng cũng có thể đang ở trong tình trạng bị  
người khác chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp tài sản tranh chấp thuộc loại tài sản vô hình,  
thì thông thường, người có giấy chứng nhận là nạn nhân của một vụ vi phạm độc quyền khai  
thác và chủ động kiện cáo để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình. Mặt khác, cũng như người  
có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, người chiếm hữu một tài sản không thuộc loại  
phải đăng ký quyền sở hữu chỉ có ưu thế tương đối. Nếu người tranh chấp chứng minh  
được rằng sự chiếm hữu của người bị tranh chấp không hoàn hảo (không liên tục, không  
công khai, hoặc mập mờ), thì cả hai bên tranh chấp sẽ trở nên bình đẳng trong việc chứng  
minh. Còn trong trường hợp tài sản tranh chấp không thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu,  
người đứng nguyên đơn trong vụ tranh chấp về một tài sản phải đăng ký quyền sở hữu nhưng  
chưa được đăng ký thường cũng là người đòi lại tài sản, còn bị đơn là người chiếm hữu. Tất cả  
các bên đều phải cung cấp bằng chứng về quyền sở hữu của mình đối với tài sản tranh chấp và  
người có bằng chứng thuyết phục nhất sẽ được công nhận là chủ sở hữu.  
1.1. Đối tượng chứng minh  
Đối tượng chứng minh trong các tranh chấp về quyền sở hữu lẽ đương nhiên là quyền sở  
hữu. Người khởi kiện tranh chấp phải chứng minh rằng chính mình, chứ không phải người  
bị tranh chấp, mới là chủ sở hữu của tài sản.  
Song, đối tượng chứng minh trong một vụ kiện về quyền thừa kế không phải là quyền sở hữu  
hay quyền yêu cầu chuyển quyền sở hữu mà là quyền hưởng di sản.  
1.2. Phương tiện chứng minh  
Luật Việt Nam không có các quy định riêng về việc thiết lập và thẩm định chứng cứ  
trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Người tranh chấp có thể sử dụng bất  
kỳ phương tiện chứng minh nào được pháp luật thừa nhận. Phương tiện chứng minh thông  
dụng nhất là giấy tờ. Đôi khi người tranh chấp còn viện dẫn sự chiếm hữu; nhưng trong luật  
hiện hành, sự chiếm hữu chỉ có giá trị chứng minh trong một vài trường hợp rất đặc biệt. Sự  
chiếm hữu chỉ được luật viết chính thức coi là phương tiện chứng minh quyền sở hữu, trong  
trường hợp việc chiếm hữu thoả mãn các điều kiện dự liệu cho việc xác lập quyền sở hữu đối  
với vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, hoặc cho việc xác lập quyền sở hữu  
theo thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS. Việc chiếm hữu trong các trường hợp  
xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu rút ngắn được thừa nhận nhờ việc xuất trình bằng chứng  
về thông báo công khai (ghi nhận ngày nhặt, phát hiện, bắt được tài sản, thì việc chiếm hữu  
có thể coi như bắt đầu từ ngày đó). Trong các trường hợp khác, bằng chứng về sự chiếm hữu  
có thể được cung cấp từ bất kỳ nguồn nào được thừa nhận trong luật chung có chứa đựng  
các dữ kiện cho thấy đương sự có thực hiện các giao dịch vật chất tác động lên tài sản theo  
cung cách của một người có quyền sở hữu tài sản: hoá đơn thanh toán tiền sửa chữa tài sản;  
hợp đồng gửi giữ, hợp đồng cầm cố, cho mượn tài sản; lời khai của người làm chứng;...  
MỤC 4 - Các hình thức sở hữu  
Đặt vấn đề - Theo chương XIII BLDS, quyền sở hữu tồn tại dưới các hình thức sau đây: sở  
hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ  
chức chính trị -xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ  
chức xã hội nghề nghiệp. Chúng ta có thể chia các hình thức sở hữu này thành hai nhóm: sở  
hữu có một chủ sở hữu và sở hữu có nhiều chủ sở hữu.  
1. CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU CÓ MỘT CHỦ THỂ  
Bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính  
trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -nghề nghiệp,  
quỹ xã hội, quỹ từ thiện (gọi chung là pháp nhân không hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi  
nhuận).  
1.1. Sở hữu nhà nước  
1.1.1. Chủ thể của sở hữu nhà nước  
BLDS Điều 201 quy định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền  
của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước”. Điều luật còn quy định  
thêm rằng Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và  
tiết kiệm tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước.  
1.1.2. Tài sản thuộc sỏ hữu nhà nước  
Có tài sản thuộc sở hữu nhà nước một cách tuyệt đối, nghĩa là không bao giờ có thể được  
chuyển nhượng để trở thành tài sản thuộc sỏ hữu của các chủ thể khác và có những tài sản  
thuộc sở hữu nhà nước nhưng có thể được chuyển nhượng để trở thành đối tượng của những  
hình thức sở hữu khác. Ta tạm gọi các tài sản thuộc nhóm thứ nhất là tài sản công của nhà  
nước; các tài sản thuộc nhóm thứ hai là tài sản tư của nhà nước.  
-
Tài sản công của nhà nước: tất cả các tài sản công của nhà nước đều có chung một đặc  
điểm: chỉ có thể được sử dụng vì lợi ích công cộng. Tài sản không thể được dùng vào việc nào  
khác ngoài việc phục vụ cho tất cả mọi người. Đó là: đất đai, rừng, núi, sông hồ, nguồn nước,  
công trình giao thông công cộng thủy, bộ, đường sắt, đường không, công trình quốc phòng,  
cơ sở công nghiệp quốc phòng, cơ sở cung ứng dịch vụ công cộng (Điện, chiếu sáng công  
cộng, thông tin liên lạc, nước..), các di tích lịch sử, văn hóa thuộc khối tài sản quốc gia..  
-
Tài sản tư của nhà nước: bao gồm tất cả những gì trong khối tài sản quốc gia mà  
không phải là tài sản công của nhà nước. Thuộc nhóm này hầu hết là những tài sản được  
giao cho các cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp Nhà nước, tổ  
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đẻ sử dụng: nhà làm việc, nhà xưởng, trang thiết bị,  
máy móc chuyên dùng, tiền vốn...  
1.1.3. Sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước  
Các tài sản thuộc sở hữu nhà nước phải được sử dụng có hiệu quả và phù hợp với lợi ích  
của toàn xã hội. Việc sử dụng tài sản thuộc sỏ hữu nhà nước rất đa dạng. Một số tài sản  
được dành cho tất cả mọi người để sử dụng chung một cách trực tiếp: sông, hồ lưu thông tự  
do, đường bộ... bất kỳ ai cũng có quyền sử dụng các tài sản này với điều kiện tôn trọng các  
quy tắc hành chính và quyền sử dụng của người khác. Có những tài sản được giao cho cơ  
quan cung ứng dịch vụ công cộng để khai thác nhằm phục vụ cho tất cả mọi người: đường  
sắt được cơ quan quản lý đường sắt sử dụng để chuyên chở hành khách, hàng hóa; mạng  
lưới điện quốc gia được giao cho tổng công ty điện lực để cung ứng điện cho nhân dân.  
Những tài sản giao cho doanh nghiệp Nhà nước khai thác nhằm tạo công ăn việc làm cho  
người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và làm gia tăng tích lũy thuộc sở hữu  
nhà nước. Cũng có tài sản được  
giao cho các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (bảo tàng, bảo tồn, thư viện...) để phục vụ cho các  
sinh hoạt tinh thần hoặc đáp ứng nhu cầu tích lũy kiến thức, vui chơi giải trí của người dân.  
1.1.4. Quản lý Nhà nước đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước  
Tài sản thuộc sở hữu nhà nước được đặt dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ. Tài sản  
thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các cơ quan Nhà nước, các đơn vị thuộc lực lượng vũ  
trang, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp để  
sử dụng. Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý sử dụng tài sản đó (BLDS  
Điều 204 khoản 1, Điều 205 khoản 1).  
Đối với các tài sản thuộc sở hữu nhà nước được đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước, thì  
Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về  
doanh nghiệp (BLDS Điều 203 khoản 1).  
1.1.5. Bảo vệ sở hữu nhà nước  
Các tài sản công thuộc sở hữu nhà nước không thể được chuyển nhượng và không thể bị  
kê biên. Có một số tài sản tư thuộc sở hữu nhà nước có thể được chuyển nhượng dưới sự  
kiểm soát và giám sát của cơ quan tài chính nhưng trên nguyên tắc không thể bị kê biên.  
Và trong bất kỳ trường hợp nào, tài sản thuộc sở hữu nhà nước không thể là đối tượng của  
quyền sở hữu được xác lập theo thời hiệu (BLDS Điều 247 khoản 2).  
1.2. Sở hữu tập thể.  
Nhóm chủ thể của sở hữu tập thể bao gồm các hợp tác xã và các tổ chức kinh tế tập thể có tư  
cách pháp nhân. Các tài sản thuộc sở hữu tập thể được hình thành từ nguồn đóng góp của  
các thành viên, thu nhập hợp pháp do sản xuất, kinh doanh, được Nhà nước hỗ trợ hoặc từ  
các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật (BLDS Điều 208 và 209).  
“Việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu tập thể phải tuân theo pháp  
luật, phù hợp với điều lệ của tập thể đó, bảo đảm sự phát triển ổn định của sở hữu tập thể”  
(BLDS Điều 210 khoản 1). Sở hữu tập thể đặt cơ sở cho việc tương trợ giữa những người  
lao động trong lao động sản xuất, kinh doanh. Bởi vậy, “tài sản thuộc sở hữu tập thể được  
giao cho các thành viên khai thác công dụng bằng sức lao động của mình trong hoạt động  
sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và  
lợi ích, nhu cầu của các thành viên” (Điều 210 khoản 2).“Thành viên của tập thể có quyền  
được ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài sản thuộc sở hữu tập thể “ (Điều 210 khoản 3).  
1.3. Sở hữu của các pháp nhân không hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận  
1.3.1. Tài sản  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 45 trang Thùy Anh 11641 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Phần 2) - Tập 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_dan_su_viet_nam_phan_2_tap_1.pdf