Những quy định mới về thị thực của luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT  
NHÖÕNG QUY ÑÒNH MÔÙI VEÀ THÒ THÖÏC CUÛA LUAÄT NHAÄP CAÛNH,  
XUAÁT CAÛNH, QUAÙ CAÛNH, CÖ TRUÙ CUÛA NGÖÔØI NÖÔÙC NGOAØI  
TAÏI VIEÄT NAM  
ượng úy, S. Trần Xuân Khánh *  
ượng úy, CN. Vũ Văn Hữu **  
Tóm tắt nội dung: Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài  
tại Việt Nam (Luật XNC năm 2014) được Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố ngày  
10/7/2014, có hiệu lực từ ngày 1/1/2015. eo luật này, thị thực không được chuyển đổi mục đích  
và mở rộng phạm vi, đối tượng được cấp thị thực với từng ký hiệu khác nhau nhằm bảo đảm công  
tác quản lý, khắc phục tình trạng người nước ngoài xin vào Việt Nam du lịch sau đó làm việc tại  
các công trình, dự án như thời gian qua. Qua nghiên cứu nội dung Luật XNC năm 2014 và phân  
tích, so sánh đối chiếu với Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt  
Nam 2000 (Pháp lệnh XNC năm 2000). Sau đây, bài viết giới thiệu quy định mới của Luật XNC  
năm 2014 về thị thực.  
*****  
uật XNC năm 2014 được quốc hội tin tưởng Việt Nam là điểm đến thực sự an toàn,  
thông qua tại kỳ họp thứ bảy – Quốc  
hội khóa XIII gồm 9 chương và 55  
thân thiện.  
Sau chương I những quy định chung là  
L
điều (tăng 2 chương và tăng 23 điều so với  
Pháp lệnh NXC năm 2000) có hiệu lực từ ngày  
1/1/2015. Các giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất  
cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam  
đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực còn  
thời hạn được tiếp tục sử dụng cho đến khi hết  
thời hạn ghi trong giấy tờ đó.  
Chương quy định về thị thực. Đây là một điểm  
mới thể hiện tầm quan trọng của thị thực trong  
công tác quản lý người nước ngoài tại Việt Nam.  
(Trong Pháp lệnh XNC năm 2000 quy định tại  
chương II “Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh” –  
tên chương không nêu cụ thể thị thực). Đây là  
một bước đáng kể trong công tác quản lý người  
nước ngoài tại Việt Nam, là nền tảng tạo nên  
hành lang pháp lý và điều kiện thống nhất cho  
công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú  
của người nước ngoài từ trung ương đến địa  
phương, gắn trách nhiệm các ngành, các cấp,  
các lực lượng, cá nhân trong công tác quản lý  
người nước ngoài; tạo điều kiện thuận lợi cho  
người nước ngoài đến Việt Nam nhưng cũng  
kiên quyết, xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức  
lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục nhập cảnh  
Luật XNC năm 2014 lần đầu tiên đưa  
vào một cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề  
thị thực. Điều này là quả kết tất yếu trong thực  
hiện đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng và  
Nhà nước ta là độc lập, tực chủ, đa phương hóa,  
đa dạng hóa quan hệ quốc tế với phương châm  
“Việt Nam là bạn, là đối tác đáng tin cậy của các  
nước trong cộng đồng quốc tế”. Mặt khác, kết  
quả này có được do sự phối hợp quản lý người  
nước ngoài của các Bộ, cơ quan, ban ngành;  
cùng với sự nỗ lực của các lực lượng, các cấp  
Công an (trong đó có lực lượng xuất nhập cảnh)  
và sự hỗ trợ của nhân dân đã góp phần giữ vững  
ồn định chính trị, tạo tiền đề phát triển kinh tế  
đất nước, làm cho bạn bè quốc tế ngày càng  
---------------------------------------------------------------  
* Giáo viên Khoa QLHC về TTXH,  
Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II.  
** Bộ môn Ngoại ngữ,  
Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND.  
20  
SOÁ 05 // QUYÙ III NAÊM 2014  
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN  
làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an ký hiệu trong hệ thống thị thực của Việt Nam  
toàn xã hội của Việt Nam.  
chưa đáp ứng nhu cầu thống kê và tình hình thực  
Theo khoản 11, điều 3, chương I của Luật tế, chẳng hạn như: đầu những năm 2000, ở Việt  
XNC năm 2014: “ị thực là loại giấy tờ do cơ Nam không có lao động phổ thông người nước  
quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cho ngoài nên không có quy định riêng về ký hiệu  
phép người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam”. thị thực cho đối tượng này, hiện nay xuất hiện  
Những nội dung mới đáng chú ý của thị thực là hàng ngàn lao động phổ thông người nước ngoài  
quy định giá trị sử dụng, hình thức của thị thực; nên công tác thống kê phân loại gặp khó khăn.  
quy định thị thực có các ký hiệu khác nhau, thời Pháp lệnh XNC quy định đối tượng, thủ tục cấp  
hạn của các loại thị thực này; các trường hợp thị thực cho người nước ngoài: người nước ngoài  
miễn thị thực, điều kiện đơn phương miễn thị thực hiện các dự án đầu tư hoặc hợp đồng hợp  
thực.… Pháp lệnh XNC năm 2000 nội dung của tác với các cơ quan, tổ chức Việt Nam được cấp  
thị thực được quy định chưa cụ thể, không có thị thực nhiều lần đến 12 tháng (kể cả nhân thân  
quy định rõ các loại thị thực và thời hạn sử dụng ruột thịt sống cùng); khách du lịch theo chương  
các loại thị thực, công dân người nước có quyền trình, người vào gấp để xử lý sự cố kỹ thuật, dự  
chuyển đổi mục đích sử dụng của thị thực; vì thế tang lễ được cấp thị thực tại cửa khẩu.  
tạo nên tình trạng người nước lợi dụng du lịch  
Một điểm mới đáng chú ý và được ghi  
vào Việt Nam nhưng sau đó ở lại làm việc gây nhận trong Luật là đã quy định 20 diện tổ chức,  
khó khăn cho cơ quan chức năng trong công tác công dân được cấp thị thực tăng gấp đôi so với  
quản lý.  
Nghị định 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của  
Tuy nhiên, để khắc phục những thiếu sót chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh  
trên Luật XNC năm 2014 quy định rất cụ thể và XNC của người nước ngoài tại Việt Nam. Luật  
chi tiết về nội dung của thị thực từ điều 7 đến XNC năm 2014 đã mở rộng phạm vi và thời gian  
điều 19 thuộc chương II của Luật này.  
cho từng loại thị thực, không dừng lại việc cấp  
Pháp lệnh XNC năm 2000 quy định thị thị thực 1 lần hoặc nhiều lần cùng với thời gian  
thực Việt Nam có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, là không quá 12 tháng. Luật mới quy định các ký  
qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam. Luật hiệu thị thực và thời hạn của thị thực tại điều 8 và  
XNC năm 2014 quy định cụ thể, rõ ràng hơn tại điều 9 nhằm tạo thuận lợi trong công tác quản  
điều 7: “thị thực có giá trị một lần hoặc nhiều lần lý, phân loại và thống kê thị thực của cơ quan  
và không được chuyển đổi mục đích; thị thực chức năng. Luật XNC năm 2014 đã quy định rất  
được cấp riêng cho từng người, trừ trường hợp cụ thể từng diện tổ chức, công dân nước ngoài  
trẻ em dưới 14 tuổi được cấp chung hộ chiếu với được cấp thị thực vào Việt Nam với 20 ký hiệu  
cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ; thị thực được thị thực khác nhau; và thời hạn cụ thể cho từng  
cấp vào hộ chiếu hoặc cấp rời”. Quy định mới loại thị thực: tối thiểu là 30 ngày đối với những  
này sẽ khắc phục được tình trạng một số đối người nước ngoài có thị thực ký hiệu SQ - nhu  
tượng, doanh nghiệp lợi dụng sự thông thoáng cầu nhập cảnh Việt Nam khảo sát thị trường, du  
về thủ tục, điều kiện cấp thị thực cho người nước lịch, thăm người thân, chữa bệnh; thời hạn tối đa  
ngoài, sử dụng tư cách pháp nhân để bảo lãnh là 05 năm đối với những người nước ngoài có  
cấp thị thực cho người nước ngoài vào Việt Nam thị thực ký hiệu ĐT - Cấp cho nhà đầu tư nước  
để tiến hành các hoạt động trái pháp luật, xâm ngoài tại Việt Nam và luật sư nước ngoài hành  
phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội nghề tại Việt Nam.  
như: lừa đảo, kinh doanh bất hợp pháp…  
Pháp lệnh XNC năm 2000 không quy  
Pháp lệnh XNC năm 2000 quy định các định cụ thể các trường hợp được miễn thị thực;  
SOÁ 05 // QUYÙ III NAÊM 2014  
21  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT  
chỉ quy định người quá cảnh được miễn thị thực; TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 của Bộ Công  
nếu có nhu cầu kết hợp vào Việt Nam tham an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn thực hiện Nghị  
quan, du lịch, thì được cơ quan quản lý xuất định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 quy  
nhập cảnh thuộc Bộ Công an giải quyết theo định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất  
Quy chế do Bộ Công an ban hành. Luật XNC cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam:  
năm 2014 quy định người nước ngoài nhập cảnh Quan chức, viên chức Ban Thư ký ASEAN, công  
theo diện miễn thị thực. Miễn thị thực gồm có dân các nước Asian (trừ Myanmar) được miễn  
hai hình thức gồm miễn thị thực song phương thị thực Việt Nam với thời hạn tạm trú không quá  
và đơn phương miễn thị thực. Luật đã quy định 30 ngày, không phân biệt họ mang hộ chiếu gì);  
cụ thể các trường hợp miễn thị thực tại điều 12. Quyết định 808/2005/QĐ-BNG của Bộ Ngoại  
Nội dung của điều luật này là giữ nguyên các giao ngày 13/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Ngoại  
nội dung các văn bản pháp luật trước đó do giao v/v ban hành Quy chế về miễn thị thực đối  
Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao… ban với công dân các nước Đan Mạch, Na Uy, Phần  
hành như: “theo điều ước quốc tế mà Việt Nam Lan, Thuỵ Điển…  
là thành viên; sử dụng thẻ thường trú, thẻ tạm  
Quy định mới này được ghi nhận là một  
trú; vào khu kinh tế cửa khẩu, đơn vị hành chính bước tiến bộ quan trọng vì khi Luật này có hiệu  
- kinh tế đặc biệt; người Việt Nam định cư ở nước lực vào 1/1/2015 thì chúng ta sẽ xem xét lại  
ngoài có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại toàn bộ các văn bản Luật về đơn phương miễn  
quốc tế do cơ quan có thẩm quyền của nước thị thực mà Bộ Công an, Bộ Ngoại giao đã ban  
ngoài cấp và người nước ngoài là vợ, chồng, con hành xem có phù hợp với Luật không; để từ  
của họ hoặc người nước ngoài là vợ, chồng, con đó giải quyết tình trạng hiện nay là các công  
của công dân Việt Nam được miễn thị thực theo dân người nước ngoài lợi dụng việc thỏa thuận  
quy định của Chính phủ”.  
đơn phương miễn thị thực của Việt Nam đang  
Bên cạnh đó, điều 13 của Luật XNC năm có hiệu lực cho công dân mang hộ chiếu phổ  
2014 còn quy định một nội dung mới rất quan thông của 7 nước (Hàn Quốc, Nhật Bản, Na Uy,  
trọng, đó là các trường hợp đơn phương miễn thị Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch,Nga) và công  
thực. Quyết định đơn phương miễn thị thực cho dân các nước Asian(trừ Myanmar); một số người  
công dân của một nước phải có đủ các điều kiện nước ngoài đã lợi dụng việc này nhằm thực hiện  
sau đây: “Có quan hệ ngoại giao với Việt Nam; các hành vi vi phạm pháp luật (phát tán tài liệu  
phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã phản động, truyền đạo trái phép). Một số công  
hội và đối ngoại của Việt Nam trong từng thời ty du lịch nước ngoài như Hàn Quốc thao túng  
kỳ; không làm phương hại đến quốc phòng, an thị trường du lịch trong nước, tổ chức tour đưa  
ninh và trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam”. sang Việt Nam và thuê người Hàn Quốc làm  
Ngoài ra, quyết định đơn phương miễn thị thực hướng dẫn viên, có những thông tin họ tuyên  
có thời hạn không quá 05 năm và được xem xét truyền, cung cấp cho du khách mà chúng ta  
gia hạn. Quyết định đơn phương miễn thị thực bị không quản lý được, thậm chí những giá trị lịch  
hủy bỏ nếu không đủ 3 điều kiện quy định như sử, văn hóa bị tuyên truyền sai lệch… Mặt khác,  
trên. Chính phủ quyết định đơn phương miễn thị chúng ta sẽ có giải pháp xử lý hiệu quả hơn đối  
thực có thời hạn đối với từng nước.  
với vi phạm của những công dân người nước  
Các trường hợp đơn phương miễn thị ngoài nhập cảnh miễn thị thực đơn phương (15  
thực: Pháp lệnh không có quy định, chỉ có một ngày) khi vào khu kinh tế cửa khẩu đã quá hạn  
số văn bản pháp luật của Bộ Ngoại giao và Bộ tạm trú mà không được các cơ quan, tổ chức  
Công an quy định như: Thông tư số 04 /2002/ nào bảo lãnh và từ đó tìm cách đối phó với cơ  
22  
SOÁ 05 // QUYÙ III NAÊM 2014  
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN  
quan chức năng như: thay đổi chỗ ở, không khai đề một số khách nước ngoài không đủ điều kiện  
báo tạm trú….  
nhập cảnh sẽ phản ứng, kiện cáo vì trước đây  
Luật XNC năm 2014 thay thế thị thực D một số cơ quan đại diện cấp thị thực D đã không  
bằng cơ chế giao chuyền chủ động cho người giải thích rõ các quy định về nhập cảnh do có  
đứng đầu cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực cách hiểu khác nhau và không đúng về một  
của Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực có giá số văn bản hướng dẫn của Bộ Công an và Bộ  
trị không quá 30 ngày và phải thông báo cho cơ Ngoại giao chỉ giải quyết cho người có thị thực  
quan quản lý xuất nhập cảnh, chịu trách nhiệm D nhập cảnh phải đáp ứng các điều kiện sau: có  
về quyết định đó.  
vé khứ hồi, nếu đi tiếp nước thứ 3 thì phải xuất  
Trước đây, Nghị định số 21 hướng dẫn trình thị thực hoặc giấy tờ có giá trị nhập cảnh  
thực hiện Pháp lệnh và Thông tư liên tịch số nước thứ 3 và phải có ngoại tệ mạnh bằng tiền  
04/2002/TTLT/BCA-BNG của Bộ ngoại giao và mặt hoặc séc tương đương 1.000 USD.  
Bộ công an ban hành ngày 29/01/2002 và được  
Ngoài ra, Luật XNC năm 2014 còn quy  
sửa đổi, bổ sung 2012 chỉ quy định cơ quan định thêm về trường hợp cấp thị thực tại cửa  
ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực D khẩu quốc tế: “Thuyền viên nước ngoài đang  
(có thời hạn 15 ngày) cho người xin nhập cảnh ở trên tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam có  
không có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam nhu cầu xuất cảnh qua cửa khẩu khác” và một  
mời. Tuy nhiên, chưa quy định cụ thể là trong số quy định khác như các cơ quan, tổ chức, cá  
những trường hợp nào, thì tại khoản 3, điều nhân được phép mời, bảo lãnh người nước ngoài  
17 của Luật XNC năm 2014 đã quy định “cho vào Việt Nam; thủ tục mời, bảo lãnh người nước  
người nước ngoài có nhu cầu nhập cảnh Việt ngoài nhập cảnh tại cơ quan có thẩm quyền của  
Nam khảo sát thị trường, du lịch, thăm người Bộ Ngoại giao, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh;  
thân, chữa bệnh thuộc các trường hợp sau : thủ tục cấp thị thực tại: cơ quan có thẩm quyền  
người có quan hệ công tác với cơ quan có thẩm cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài, cửa  
quyền cấp thị thực Việt Nam ở nước ngoài và vợ, khẩu quốc tế, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh,  
chồng, con của họ hoặc người có văn bản đề cơ quan có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao…  
nghị của cơ quan có thẩm quyền Bộ Ngoại giao  
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, những  
nước sở tại; người có công hàm bảo lãnh của cơ quy định mới về thị thực trong Luật XNC năm  
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự các 2014 tạo nên hành lang pháp lý quan trọng và  
nước đặt tại nước sở tại”.  
là cơ sở để chúng ta tháo gỡ những khó khăn,  
Quy định mới này sẽ là nền tảng để các vướng mắc trong công tác quản lý nhập cảnh,  
cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt  
có cách hiểu, triển khai chung và thống nhất; Nam trong thời gian qua. Luật XNC năm 2014  
khắc phục tình trạng người nước ngoài nhập đã thống nhất với các văn bản pháp luật của các  
cảnh bằng thị thực D một cách tràn lan (chủ yếu Bộ, Ngành ban hành sau 2000; góp phần phục  
các nước Châu phi) với mục đích tìm kiếm việc vụ đắc lực cho đường lối đối ngoại nhất quán  
làm, cư trú trái phép, hoạt động vi phạm pháp của Đảng và Nhà nước ta là độc lập, tực chủ, đa  
luật (cướp giật, buôn bán ma túy, tìm đường đi phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, giữ  
nước thứ 3) gây mất trật tự an toàn xã hội và vững an ninh chính trị và phát triển kinh tế của  
khó khăn trong việc xử lý do không có cơ quan, đất nước./.  
tổ chức ở Việt Nam bảo lãnh, nhiều trường hợp  
không có giấy tờ tùy thân… Bên cạnh đó, khi  
Luật này có hiệu lực chúng ta sẽ tránh được vấn  
SOÁ 05 // QUYÙ III NAÊM 2014  
23  
pdf 4 trang Thùy Anh 9140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những quy định mới về thị thực của luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_quy_dinh_moi_ve_thi_thuc_cua_luat_nhap_canh_xuat_canh.pdf