Thực hiện chính sách, pháp luật liên kết vùng trong phát triển du lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
CHÍNH SÁCH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT LIÊN KẾT VÙNG
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ1
Bùi Thị Quỳnh Thơ*
* TS. Đoàn ĐBQH Hà Tĩnh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Liên kết vùng là một trong những giải pháp phát triển du lịch tiết kiệm
nhưng hiệu quả khi mà biên giới du lịch giữa các địa phương đã không
còn hiện hữu, thay vào đó là một điểm đến chung thống nhất với sự đa
dạng sản phẩm dựa trên lợi thế riêng biệt vùng miền. Thông qua khảo sát
việc thực hiện chính sách, pháp luật về liên kết vùng trong phát triển bền
vững du lịch tại các tỉnh Bắc Miền Trung từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên
Huế, tác giả đánh giá việc thực hiện chính sách pháp luật về liên kết vùng
trong phát triển du lịch và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
Từ khóa: Liên kết vùng trong
phát triển du lịch, Bắc Trung Bộ.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 25/01/2021
: 01/02/2021
: 02/02/2021
Article Infomation:
Abstract:
Regional linkage is one of the solutions to develop tourism in an
economical but effective manner when tourism borders between
localities are no longer exist, instead, it is a unified common destination
with diverse product based on regional advantages. Through a survey on
the implementation of the legal policy on regional linkage in sustainable
tourism development in the North Central provinces from Thanh Hoa
to Thua Thien Hue, the author provides assessments of the performance
of the legal system of regional linkages in tourism development, then
proposes solutions for further improvements.
Keywords: Regional linkage,
tourism, North Central region
Article History:
Received
Edited
: 25 Jan. 2021
: 01 Feb. 2021
: 02 Feb. 2021
Approved
1. Chính sách pháp luật về liên kết vùng
trong phát triển du lịch các tỉnh vùng
Bắc Trung Bộ1
thành ngành kinh tế mũi nhọn; Luật Du
lịch năm 2017, Quyết định số 2743/QĐ-
TTg ngày 29/12/2011 của Thủ tướng Chính
phủ về Chiến lược phát triển du lịch Việt
Nam; Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày
22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030...
Phát triển du lịch là một trong những
chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta,
được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp
lý: Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính
trị ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch
1 Bài viết trong khuôn khổ đề tài NCKH cấp Bộ, mã số HĐ-ĐTCB.2020-08: “Những vấn đề pháp lý về liên
kết vùng trong phát triển bền vững du lịch từ thực tiễn các tỉnh vùng Bắc Trung bộ” do TS. Bùi Thị Quỳnh Thơ
làm chủ nhiệm.
52
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
CHÍNH SÁCH
Đối với vùng Bắc Trung Bộ, ngày
11/11/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết
định số 2161/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung
Bộ phù hợp với Chiến lược và Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong
đó nhấn mạnh tập trung phát triển du lịch
tham quan nghiên cứu di sản thế giới và
văn hóa - lịch sử; liên kết, hợp tác nội vùng,
liên vùng và quốc tế là nội dung quan trọng,
xuyên suốt đối với phát triển du lịch Bắc
Trung Bộ.
Để đánh giá tình hình thực hiện chính
sách, pháp luật liên kết vùng trong phát
triển du lịch từ thực tiễn các địa phương,
một cuộc khảo sát được tổ chức tại 6 tỉnh
Bắc Miền Trung từ Thanh Hóa đến Thừa
Thiên Huế với những nội dung sau3:
- Mục đích khảo sát: Đánh giá chính
sách, pháp luật liên kết vùng trong phát
triển du lịch; đánh giá tình hình thực hiện
chính sách pháp luật về liên kết vùng trong
phát triển du lịch tại các địa phương;
- Đối tượng khảo sát: công chức, viên
chức trong các cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch, nhân viên ở các khu du lịch, doanh
nghiệp kinh doanh du lịch, nhà khoa học và
khách du lịch.
Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát
triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, Ủy ban
nhân dân (UBND) các địa phương thuộc
vùng đã xây dựng và triển khai thực hiện
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
địa phương đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030. Để hoàn thành nhiệm vụ phát
triển du lịch nói chung, liên kết du lịch
nói riêng, chính quyền các tỉnh Bắc Trung
Bộ đã thực hiện tuyên truyền, phổ biến,
chỉ đạo, triển khai thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, đồng thời xây dựng,
ban hành các chính sách, văn bản pháp
luật (VBPL) về phát triển du lịch, liên kết
vùng phát triển du lịch2.
- Số phiếu phát ra là 600 phiếu, số
phiếu thu vào sau khi làm sạch là 568 phiếu.
2. Kết quả khảo sát tình hình tổ chức
triển khai thực hiện các chính sách, pháp
luật ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ về phát
triển du lịch, liên kết vùng phát triển du
lịch trong thời gian qua
2.1. Về Chính sách, pháp luật liên kết
vùng trong phát triển du lịch ở các tỉnh
vùng Bắc Trung Bộ
Kết quả khảo sát cho thấy, các nhà quản
lý, doanh nghiệp và người dân đều đánh giá
2. Thanh Hóa: Quyết định Số: 492/QĐ-UBND ngày 09 tháng 02 năm 2015 Phê duyệt “Chiến lược phát triển
du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030”; Nghệ An: Nghị quyết số 05-NQ/TU của BTV
Tỉnh uỷ về phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011-2020; Quyết định 1384/QĐ-UBND ngày 26/4/2012 về
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; Hà Tĩnh: Quyết định 2145/QĐ-UBND Phê duyệt Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quảng Bình: Quyết định số 1928/QĐ-
UBND về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 và tầm nhìn
đến năm 2025; Quảng Trị: Nghị quyết 35/2017/NQ-HĐND về việc thông qua Đề án “Quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Thừa Thiên Huế: Quyết định số
1622/QĐ-UBND ngày 26/8/2013 của UBND tỉnh về quy hoạch tổng thế phát triển du lịch Thừa Thiên Huế
giai đoạn 2013-2020.
3. Cuộc khảo sát do tác giả cùng đồng nghiệp tổ chức.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
53
CHÍNH SÁCH
Bảng 1: Đánh giá pháp luật liên kết vùng trong phát triển du lịch ở các tỉnh vùng
Bắc Trung Bộ
Giá trị
trung
bình
Mức độ đánh giá
Tổng
số
Độ lệch
chuẩn
STT
Nội dung
5
4
3
2
1
Các VBPL hiện hành liên quan
đến liên kết vùng về du lịch có
nội dung đầy đủ, bao quát các
khía cạnh của hoạt động này
1
568 70 236 192
58
12
3,52
3,40
0,91
0,94
Các VBPL hiện hành liên quan
đến liên kết vùng về du lịch có
tính thực tiễn cao, thúc đẩy hoạt 568 64 208 200
động liên kết vùng về du lịch
phát triển.
2
84
94
12
12
Các VBPL hiện hành về liên kết
vùng du lịch phù hợp với điều 568 65 202 195
kiện thực tế và có tính khả thi cao.
3
4
5
6
3,38
3,05
2,88
0,96
0,79
0,75
0,99
Các VBPL hiện hành về liên kết
vùng du lịch có tính thống nhất, 568
đồng bộ cao
0
0
180 249 127 12
Các VBPL hiện hành về liên kết
vùng du lịch có quy định cụ thể cơ 568
chế phối hợp giữa các địa phương.
115 286 151 16
Cơ chế pháp lý hiện nay về liên
kết du lịch vùng tạo được lòng 568 71 169 200 120
tin hợp tác giữa các địa phương
8
3,31
Trung bình chung
3.26
(Tổng hợp kết quả điều tra)
ở mức trung bình khá về mức độ đầy đủ, chế chặt chẽ để giải quyết hài hòa lợi ích
giữa các địa phương tham gia, đặc biệt chưa
có cơ chế ràng buộc nên hiệu quả liên kết
không cao.
thực tiễn, khả thi và thống nhất, đồng bộ của
các VBPL hiện hành liên quan đến liên kết
vùng phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc
Trung Bộ (trong khoảng từ 3,0 đến 3,52).
Tuy nhiên, các đối tượng khảo sát cũng cho
rằng, các VBPL hiện hành về liên kết vùng
du lịch chưa có quy định cụ thể cơ chế phối
hợp giữa các địa phương; nội dung liên kết
còn hình thức, chủ yếu dừng lại ở các văn
Đánh giá về các chính sách cụ thể của
Nhà nước trong từng lĩnh vực có liên quan
đến liên kết vùng trong phát triển du lịch cho
thấy các mức độ đánh giá ở mức khá (trên
3,5), trong đó các chính sách về phát triển
nguồn nhân lực du lịch được đánh giá ở mức
bản thỏa thuận, tự nguyện mà chưa có cơ cao nhất. Nhìn chung, các địa phương trong
54
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
CHÍNH SÁCH
vùng đã có những chính sách để huy động hệ thống tổ chức điều hành liên kết nhằm
các nguồn nhân lực đầu tư cơ sở hạ tầng,
phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng
bá du lịch cũng như phát triển nguồn nhân
lực và tạo điều kiện thuận lợi cho khách du
lịch, từ đó tạo thuận lợi để phát triển du lịch
địa phương cũng như tạo cơ sở cho việc phát
triển liên kết vùng Bắc Trung Bộ về du lịch4.
Tuy nhiên, trong quy hoạch phát triển du
lịch vùng Bắc Trung Bộ còn thiếu cơ chế,
chính sách đầu tư trọng điểm nhằm tạo sự
phát triển lan tỏa trong vùng cũng như thiếu
tạo ra sự thống nhất giữa các tỉnh trong
đầu tư phát triển. Sự liên kết giữa các địa
phương trong vùng còn hạn chế, mỗi tỉnh có
xu hướng quy hoạch một hướng nên có hiện
tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh thông qua
các chính sách ưu đãi đầu tư để thu hút vốn,
hiện tượng đầu tư trùng lắp… tạo bất lợi cho
sự phát triển trong nội vùng.
2.2. Về tình hình thực hiện chính sách,
pháp luật liên kết vùng trong phát triển du
lịch ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
Bảng 2: Đánh giá về chính sách của Nhà nước liên quan đến liên kết vùng trong phát
triển du lịch ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
Giá trị
trung
bình
Mức độ đánh giá
Tổng
số
Độ lệch
chuẩn
STT
Nội dung
5
4
3
2
1
12
8
Đầu tư phát triển hạ tầng, cơ sở
vật chất kỹ thuật
1
568 106 218 172
60
72
3,61
3,55
0,98
0,95
2
Đầu tư phát triển sản phẩm du lịch 568 91 216 181
Phát triển dịch vụ lữ hành, vận
3
4
tải khách, lưu trú và các dịch vụ 568 141 132 179 104 12
du lịch khác
3,50
3,86
0,73
0,78
Phát triển nguồn nhân lực du lịch 568 69 391
76
24
8
Tạo điều kiện thuận lợi về đi lại,
cư trú, thủ tục xuất cảnh, nhập
5
cảnh, hải quan, hoàn thuế giá trị 568 69 313 149
gia tăng và bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp khác cho khách du lịch
33
4
3,72
0,94
0,68
Huy động nguồn lực phát triển
568 114 224 194
du lịch
6
16
20
3,70
Trung bình chung
3,66
(Tổng hợp kết quả điều tra)
4. Nghệ An: Nghị quyết 07/2020/NQ-HĐND về một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trên
của HĐND tỉnh về quy định một số chính sách phát triển du lịch Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp
theo; Quảng Bình: Nghị quyết số 19/2017/NQ-HĐND ngày 18/7/2017 của HĐND tỉnh Quảng Bình về việc
ban hành quy định một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Thừa Thiên Huế:
Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ngày 09/7/2019 về quy định một số chính sách
hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
55
CHÍNH SÁCH
- Kết quả thực hiện chính sách, pháp
luật liên kết vùng trong phát triển du lịch ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ
khăn về nguồn lực phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và nguồn lực phát triển du
lịch nói riêng. Trên cơ sở Quy hoạch tổng
thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ,
các địa phương trong vùng đã xây dựng và
ban hành các quy hoạch, kế hoạch, chương
trình, đề án, chính sách phát triển du lịch
địa phương.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch vùng Bắc Trung Bộ, nhu cầu vốn
cho đầu tư phát triển du lịch vùng đến năm
2030 là 165.025 tỷ đồng (tương đương
khoảng 8,05 tỷ USD). Mục tiêu này cũng
đặt ra không ít thách thức đối với vùng Bắc
Trung Bộ, bởi đây là vùng còn nhiều khó
Kết quả khảo sát đánh giá về liên kết
lập quy hoạch, kế hoạch liên kết vùng về
Bảng 3: Đánh giá về việc lập quy hoạch, kế hoạch liên kết trong phát triển du lịch
ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Giá trị
trung
bình
Mức độ đánh giá
Tổng
số
Độ lệch
chuẩn
STT
Nội dung
5
4
3
2
1
Liên kết các tỉnh về chiến lược
du lịch
1
568
568
0
70
390
76
32
2,88
2,73
0,76
0,85
Liên kết các tỉnh về quy hoạch
phát triển vùng du lịch
2
0
0
70
312 149 37
Thực hiện chính sách khuyến
khích liên kết du lịch tại các 568
địa phương
3
115 223 194 36
2,73
0,86
Trung bình chung
2,78
(Tổng hợp kết quả điều tra của nhóm khảo sát)
du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ cho thấy,
các nội dung được đánh giá ở mức trung
bình (từ 2,73 đến 2,88). Các đối tượng
khảo sát đánh giá quy hoạch phát triển du
lịch của các địa phương chủ yếu dừng lại
phạm vi từng tỉnh nên thiếu tính đồng bộ
và liên kết. Nhìn chung, các địa phương
chưa quan tâm đúng mức đến liên kết vùng
trong phát triển du lịch.
Quy hoạch tổng thể du lịch Bắc Trung
Bộ đã xây dựng các sản phẩm du lịch đặc
trưng của vùng là phát triển du lịch tham
quan nghiên cứu di sản thế giới và văn hóa
- lịch sử. Các địa phương trong vùng đã
khai thác các thế mạnh của địa phương để
xây dựng nên các sản phẩm đặc trưng của
từng tỉnh, tạo tiền đề phát triển các tour,
tuyến du lịch vùng5.
Kết quả khảo sát thực hiện liên kết
phát triển sản phẩm du lịch vùng Bắc Trung
Bộ cho thấy, các nội dung phát triển sản
- Kết quả thực hiện chính sách liên
kết phát triển sản phẩm du lịch vùng Bắc
Trung Bộ
5. Các dòng sản phẩm du lịch đặc thù của các địa phương gồm du lịch văn hóa lịch sử gắn với cuộc kháng chiến chống
Mỹ; du lịch văn hóa lịch sử triều Nguyễn gắn với quần thể di tích cố đô Huế; du lịch nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa lịch
sử kiến trúc thành nhà Hồ - Lam Kinh; du lịch sinh thái gắn với di sản thiên nhiên thế giới và vùng cảnh quan tự nhiên
độc đáo; du lịch học tập, nghiên cứu tìm hiểu các danh nhân văn hóa, lịch sử Việt Nam; du lịch nghỉ dưỡng biển...
56
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
CHÍNH SÁCH
phẩm đặc thù của từng tỉnh, liên kết phát
triển sản phẩm đặc trưng của từng nhóm
địa phương và liên kết xây dựng các tour,
tuyến du lịch và được đánh giá ở mức khá.
Các chương trình liên kết đã bước đầu giới
thiệu được các sản phẩm du lịch đặc trưng
của vùng Bắc Trung Bộ và từng nhóm địa
phương cũng như sản phẩm đặc thù của
từng địa phương.
thực hiện chính sách phát triển du lịch chưa
thường xuyên, đôi khi còn hình thức, chưa
xây dựng được hình ảnh chung để quảng bá,
xúc tiến du lịch do còn thiếu kinh nghiệm,
chưa tạo được nhiều sản phẩm du lịch mới
đồng thời chưa tạo được bản sắc, thương
hiệu riêng có của vùng. Sản phẩm du lịch
bị trùng lặp khiến cho sức hút khách du lịch
đến vùng Bắc Trung Bộ còn yếu. Du lịch
biển các tỉnh trong vùng không có gì khác
biệt rõ rệt. Hệ thống sản phẩm dịch vụ bổ
trợ, bổ sung còn đơn điệu, chưa phong phú
đa dạng.
Tuy nhiên, việc liên kết phát triển
các sản phẩm du lịch chung toàn vùng và
liên kết hình thành chuỗi dịch vụ du lịch
ở toàn vùng chưa được đánh giá cao (dưới
trung bình). Nguyên nhân là do việc phối
hợp, liên kết liên kết giữa các địa phương
- Về liên kết tuyên truyền quảng bá và
xúc tiến du lịch
Bảng 4: Đánh giá việc thực hiện chính sách liên kết phát triển
sản phẩm du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Giá trị
trung
bình
Mức độ đánh giá
Tổng
Độ lệch
chuẩn
STT
Nội dung
số
5
4
3
2
1
Liên kết phát triển các sản phẩm
du lịch chung toàn vùng
1
2
3
4
5
568
0
54
248 182 84
2,48
3,85
4,14
3,01
0,79
0,79
0,67
0,61
0,65
Liên kết phát triển sản phẩm đặc
trưng của từng nhóm địa phương
568 117 274 153
24
12
89
16
0
0
4
0
Liên kết phát triển sản phẩm đặc
thù của từng tỉnh
568 158 342
56
103 372
568 109 378 65
Liên kết hình thành chuỗi dịch
vụ du lịch ở toàn vùng
568
0
Liên kết xây dựng các tour,
tuyến du lịch
4,02
Trung bình chung
2,78
(Tổng hợp kết quả điều tra của nhóm tác giả)
Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn
nối các tour, tuyến, điểm du lịch. Các tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình đã có nhiều chương trình hợp tác liên
kết xây dựng nhiều sản phẩm du lịch đặc
thù trở thành một trong những tuyến du lịch
thu hút khá đông khách quốc tế. Chất lượng
du lịch cộng đồng được cải thiện đáng kể.
Sự phát triển của các chương trình liên kết
người được hỏi (90,42%) cho rằng, chương
trình liên kết du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ
đã có tác dụng nâng cao thương hiệu du
lịch ở Băc Trung Bộ. Nhiều tour, tuyến du
lịch liên kết được hình thành và đưa vào
khai thác có hiệu quả. Nhiều sản phẩm du
lịch đặc trưng được xây dựng nhờ việc kết
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
57
CHÍNH SÁCH
- Về liên kết hợp tác nâng cao năng lực
cạnh tranh du lịch
du lịch và các tour, tuyến du lịch liên tỉnh
đã tạo điều kiện từng bước hiện đại hóa hệ
thống cơ sở hạ tầng du lịch. Xu hướng đầu
tư vào phân khúc cao cấp với sự tham gia
của các nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh
vực du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ đã hình
thành. Sự liên kết giữa các tỉnh ở vùng Bắc
Trung Bộ với các trung tâm du lịch lớn như
Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh
đã tạo ra sức hút đầu tư lớn. Các tỉnh Bắc
Trung Bộ đã thu hút được nhiều dự án đầu
tư khu du lịch, khu nghỉ dưỡng, cơ sỏ lưu
trú cao cấp, trong đó nhiều dự án xây dựng
khách sạn đạt chuẩn từ 3 - 4 sao, góp phần
thay đổi diện mạo một số khu du lịch và
từng bước đáp ứng yêu cầu về chất lượng
của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.
Hợp tác, liên kết du lịch vùng Bắc Trung
Bộ được hình thành ở mức độ ban đầu. Điều
này được thể hiện ở cả ba phạm vi hợp tác.
Ở phạm vi hợp tác nội bộ địa phương, các cơ
chế hợp tác giữa các bên mang tính giao dịch
nhiều hơn là quá trình hợp tác. Tương tự với
liên kết doanh nghiệp cấp vùng. Ở cấp liên
kết chính sách vùng, một số sáng kiến và kết
quả hợp tác đã được ghi nhận (như tổ chức
một số hoạt động xúc tiến chung, trao đổi
thông tin …). Tuy nhiên, hợp tác chính sách
cấp vùng mới dừng lại ở các hoạt động cụ
thể mà chưa hình thành nên các chương trình
hành động hay ở mức cao hơn là một cách
tiếp cận chiến lược cho hợp tác.
- Về liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng
du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông
Các hoạt động hợp tác liên kết đang
chuyển từ tạo lập niềm tin sang giai đoạn xây
dựng các chương trình hợp tác. Việc tạo lập
niềm tin được xem là giai đoạn đầu tiên của
hợp tác, từ có những định hướng hợp tác, phụ
thuộc lẫn nhau trong hoạt động động trước khi
có những quyết định hành động chung. Quá
trình hợp tác, liên kết du lịch trong khu vực
Bắc Trung Bộ chuyển dần từ giai đoạn thử
nghiệm, thăm dò sang giai đoạn định hướng
phối hợp hành động chung. Điều này thấy rõ
hơn ở liên kết chính sách cấp vùng và liên kết
nội bộ tại các địa phương.
Hạ tầng giao thông trong khu vực được
chú trọng đầu tư. Về giao thông đường bộ,
các dự án lớn (dự án nâng cấp mạng lưới
giao thông khu vực miền Trung - ADB5, dự
án nâng cấp mở rộng đường Hồ Chí Minh,
dự án cầu vượt ngã ba Huế - Đà Nẵng,…)
đã được xúc tiến triển khai nhằm đẩy mạnh
sự giao lưu giữa các vùng Bắc - Nam Trung
Bộ với các cực phát triển của cả nước là
đồng bằng sông Hồng (phía Bắc) và Đông
Nam Bộ (phía Nam), góp phần tạo nền tảng
phát triển kinh tế xã hội, qua đó thúc đẩy
hoạt động du lịch. Trong vùng Bắc Trung
Bộ, hệ thống vận tải đường bộ giữ vai trò
chủ đạo, chiếm 90% thị phần vận tải, các
phương thức khác chỉ đảm nhận thị phần
nhỏ (hàng không 2,2% hành khách), đường
sắt (4,49% hành khách). Hệ thống giao
thông đường bộ về cơ bản đáp ứng yêu cầu
vận chuyển hàng hóa và hành khách nội
vùng, liên vùng và vận tải quốc tế, nhất là
vận tải quá cảnh quốc tế. Hệ thống cầu trên
quốc lộ 1A được cải tạo, nâng cấp, xây mới
đã nâng cao đáng kể năng lực lưu thông của
hệ thống giao thông đường bộ trong vùng.
Hợp tác và liên kết du lịch trong vùng
không thực sự cân xứng, do phát triển không
đồng đều của du lịch các tỉnh trong vùng. Du
lịch vùng Bắc Trung Bộ nổi bật trong vùng là
du lịch tỉnh Quảng Bình - trung tâm du lịch
của cả vùng. Tại Quảng Bình, lực lượng các
doanh nghiệp du lịch đã được hình thành khá
đông đảo. Không chỉ là các cơ sở lưu trú,
cung cấp dịch vụ địa phương, sự hình thành
của các doanh nghiệp lữ hành đánh dấu giai
đoạn phát triển mới của điểm đến du lịch này
- giai đoạn tăng trưởng (development). Trong
khi đó, các tỉnh khác trong vùng mới trong
58
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
CHÍNH SÁCH
giai đoạn phát triển khai phá (exploration)
hoặc tham gia (involvement) khi ngành du
lịch còn rất non trẻ.
hợp tác này là những chuyến du lịch làm
quen (FAM trip) giới thiệu các sản phẩm và
dịch vụ du lịch địa phương tới các công ty
lữ hành để xây dựng sản phẩm.
Phạm vi hợp tác chủ yếu trong cấp độ
ngành du lịch (cấp sở và doanh nghiệp).
Các hoạt động hợp tác đã và ngày càng nhận
được sự quan tâm của cấp lãnh đạo tỉnh. Tuy
vậy, những quan tâm này chưa được chuyển
nhiều thành những định hướng chính sách
và đầu tư ở cấp Tỉnh, làm hạn chế hiệu quả
và năng lực hợp tác, liên kết.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách, pháp luật liên kết vùng trong
phát triển du lịch ở các tỉnh vùng Bắc
Trung Bộ
Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách, pháp luật liên kết vùng trong
phát triển du lịch ở các tỉnh vùng Bắc Trung
Bộ, chúng tôi cho rằng, cần thực hiện một
số giải pháp sau:
Cơ quan quản lý nhà nước đóng vai
trò quan trọng trong quá trình hợp tác.
Trong vùng Bắc Trung Bộ, trừ tỉnh Quảng
Bình, doanh nghiệp du lịch chủ yếu là doanh
nghiệp nhỏ, mới hình thành, có phạm vi hoạt
động bó hẹp tại địa phương. Các hoạt động
hợp tác, liên kết mới ở trạng thái bị động.
Trong điều kiện đó, hợp tác liên kết du lịch
trong vùng nổi lên vai trò của các cơ quan
quản lý nhà nước về du lịch. Các cơ quan
này tiên phong trong hợp tác, tạo ra nhận
thức về tầm quan trọng của hoạt động này,
từng bước giới thiệu và thúc đẩy các mô hình
hợp tác. Tuy các kết quả mới chỉ là bước đầu
nhưng vai trò của các cơ quan quản lý nhà
nước ngày càng được thể hiện rõ rệt.
Thứ nhất, xây dựng cơ chế, chính sách
thúc đẩy đầu tư kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ
tầng kết nối các khu điểm du lịch của vùng;
có cơ chế cởi mở, thông thoáng, ưu đãi, khích
lệ các doanh nghiệp và người dân chủ động
và tích cực tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng du
lịch, sáng tạo ý tưởng, đầu tư nguồn lực để
hình thành các sản phẩm du lịch; xây dựng cơ
chế điều phối liên kết vùng để cùng giải quyết
những vấn đề chung đảm bảo mục tiêu hài
hòa lợi ích và cạnh tranh bình đẳng giữa các
tỉnh trong vùng, từng bước thực hiện vai trò
động lực lan tỏa vùng kinh tế Bắc Trung Bộ;
xây dựng cơ chế, chính sách hợp lý, phù hợp
với tình hình phát triển để tăng cường năng
lực bộ máy và hoạt động xúc tiến quảng bá,
đẩy mạnh liên kết giữa các địa phương trong
vùng cùng với Tổng cục Du lịch triển khai các
chương trình xúc tiến quảng bá du lịch quốc
gia và của vùng; khuyến khích người dân và
doanh nghiệp tư nhân tham gia góp ý vào các
dự án đầu tư, xây dựng và đa dạng hóa sản
phẩm và dịch vụ du lịch như dịch vụ lưu trú
tại nhà dân, dịch vụ ẩm thực, hướng dẫn du
lịch bản địa, sản xuất và bán các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ, hàng lưu niệm truyền thống
của địa phương, cung cấp sản vật của địa
phương cho phát triển du lịch.
Vai trò của các đối tác ngoài vùng thúc
đẩy quá trình hợp tác, liên kết. Một trong
những đối tác quan trọng ngoài vùng là các
công ty lữ hành đưa khách tới du lịch trong
vùng. Một tour du lịch vùng Bắc Trung Bộ
thường đi qua nhiều địa điểm du lịch tại
nhiều tỉnh trong vùng. Gắn kết các điểm du
lịch, các dịch vụ du lịch này trở thành một
tua, một sản phẩm du lịch là công việc của
các công ty lữ hành. Quá trình kinh doanh
các tour du lịch đem lại yêu cầu hợp tác
giữa các doanh nghiệp của địa phương với
các doanh nghiệp du lịch ở ngoài vùng. Dần
dần, quá trình hợp tác này lan tỏa thành hợp
tác giữa các doanh nghiệp và các bên tham
gia của địa phương. Một ví dụ điển hình của
Thứ hai, đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá
du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
59
CHÍNH SÁCH
Đẩy mạnh quảng bá du lịch vùng trên
địa phương ngoài vùng, đặc biệt chú trọng
liên kết với Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Ninh Bình và Quảng Nam; thúc đẩy
hợp tác liên kết chặt chẽ, hiệu quả với các
quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông Tây
và trong Tiểu vùng Sông Mêkông mở rộng.
internet và các mạng truyền thông xã hội. Sở
Văn hóa - Thể thao và Du lịch và các doanh
nghiệp trong vùng chủ động tham gia các hội
chợ du lịch quốc tế, các chương trình giới
thiệu du lịch Việt Nam tại những thị trường
trọng điểm và tiềm năng ở nước ngoài. Đẩy
mạnh hoạt động xúc tiến du lịch Vùng thông
qua việc xây dựng bộ nhận diện thương hiệu
du lịch vùng dựa trên cơ sở các sản phẩm du
lịch đặc thù của Vùng và tiềm năng du lịch
của từng địa phương trong Vùng.
Đẩy mạnh và tăng cường hợp tác, liên
kết giữa các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ,
giữa các doanh nghiệp trong và ngoài vùng
để đầu tư phát triển sản phẩm du lịch vùng;
thường xuyên trao đổi kinh nghiệm và tìm
được tiếng nói chung thông qua các kênh
hợp tác, liên kết phát triển sản phẩm du
lịch đặc thù, khác biệt của vùng, nâng cao
vị thế cạnh tranh điểm đến cho toàn vùng.
Hợp tác, liên kết trong đào tạo phát triển
nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp,
chất lượng, đảm bảo tiêu chuẩn nghề quốc
gia và khu vực.
Thứ ba, nâng cao năng lực của cơ quan
quản lý nhà nước, Hiệp hội Du lịch trong phát
triển du lịch ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
Nâng cao năng lực quản lý chuyên
ngành du lịch của Sở Văn hóa - Thể thao và
Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
trong vùng; nâng cao năng lực quản lý trong
xây dựng và quản lý quy hoạch, quản lý đầu
tư xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch,
xúc tiến quảng bá, đào tạo bồi dưỡng, quản
lý môi trường du lịch…; tăng cường liên kết,
hợp tác, phối hợp trong hoạt động du lịch
giữa các ngành ở địa phương; giữa các địa
phương trong vùng để tạo sản phẩm du lịch
có chất lượng, khác biệt, hấp dẫn và có khả
năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và
trong nước.
Thứ tư, tăng cường liên kết ứng dụng
khoa học công nghệ giữa các địa phương
trong vùng. Tích cực ứng dụng khoa học và
công nghệ, đặc biệt là công nghệ số trong
đầu tư phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến,
quảng bá du lịch; áp dụng công nghệ sử
dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch
trong các doanh nghiệp du lịch ở vùng Bắc
Trung Bộ.
Kết luận. Liên kết vùng là một trong
những khâu đột phá để phát triển du lịch.
Để liên kết phát triển du lịch thực sự có hiệu
quả, bền vững, cần thực hiện đồng bộ nhiều
giải pháp, trong đó việc xây dựng một hệ
thống chính sách pháp luật vững mạnh là
yếu tố cơ bản để việc thực thi, triển khai
trong thực tế được thông suốt và mang tính
hiệu quả cao, đạt được mục tiêu gắn liên kết
du lịch với sự phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi địa phương và điều đó cũng có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng để phát huy tiềm năng
du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội vùng như các nghị quyết Trung
Nâng cao vai trò của Hiệp hội Du lịch
của các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ trong
việc kết nối, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp đẩy
mạnh liên kết, hợp tác xây dựng sản phẩm
du lịch đặc thù của vùng, từ đó hình thành
các chương trình du lịch hấp dẫn.
Thực hiện liên kết chặt chẽ trong vùng
về đầu tư phát triển du lịch, xây dựng các
chương trình liên kết chung của vùng, liên
kết quảng bá xúc tiến du lịch vùng, liên kết
đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch,
xây dựng trang thông tin điện tử du lịch
chung của vùng; đẩy mạnh liên kết với các
ương và Chính phủ đã đề ra
60
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
Bạn đang xem tài liệu "Thực hiện chính sách, pháp luật liên kết vùng trong phát triển du lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_hien_chinh_sach_phap_luat_lien_ket_vung_trong_phat_trie.pdf

