Hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH  
DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ  
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY  
PHÙNG TRỌNG QUẾ*  
Dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ nói riêng và giao nhận vận tải hay logistics  
nói chung ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia.  
Đây là ngành dịch vụ có đối tượng đa dạng, phức tạp và luôn vận động, biến đổi, đòi  
hỏi pháp luật cần có những điều chỉnh thích hợp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả  
thực thi. Bài viết nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp lý về điều kiện kinh  
doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo pháp luật Việt Nam dưới góc độ bảo  
đảm quyền tự do kinh doanh cũng như các yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế trên  
cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta.  
Từ khóa: Giao nhận vận tải đường bộ, giao nhận vận tải, logistics, điều kiện kinh doanh.  
Ngày nhận bài: 17/5/2021; Biên tập xong: 17/5/2021; Duyệt đăng: 16/6/2021  
Road freight forwarding services in particular and freight forwarding services or  
logistics in general play an increasingly important role in the economic development  
of the country. This is a service industry with diverse and complex subjects and always  
changing, requiring the law to make appropriate adjustments to improve and enhance  
enforcement efficiency. The article studies some solutions to improve the business  
conditions of road freight forwarding services according to Vietnamese law from the  
perspective of ensuring business freedom as well as the requirements of the economic  
integration process based on suitability with socio-economic conditions in our country.  
Keywords: Road freight forwarding services, freight forwarding, logistics, business  
conditions.  
1. Khái quát về điều kiện kinh doanh Thương mại (LTM) năm 1997, coi đây là  
dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ  
1.1. Khái quát về dịch vụ giao nhận vận  
tải đường bộ  
“hành vi thương mại, theo đó người làm  
dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ  
người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu  
kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các  
dịch vụ khác có liên quan để giao hàng  
cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ  
hàng, của người vận tải hoặc của người  
Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các  
Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA), “dịch  
vụ giao nhận được định nghĩa như là bất  
kꢀ loại dịch vụ nào liên quan đến vận  
chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là  
khách hàng)”2. Tuy nhiên, đạo luật thay  
thế cho LTM năm 1997 là LTM năm 2005  
đã sử dụng thuật ngữ “logistics” để thay  
cho thuật ngữ “giao nhận”. Tuy nhiên,  
cách tiếp cận của các nhà làm luật Việt  
Nam về logistics đang theo nghĩa hẹp.  
gói hay phân phối hàng hóa cũng như các  
dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các  
dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài  
chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập  
chứng từ liên quan đến hàng hoá”1.  
Ở Việt Nam, lần đầu tiên dịch vụ giao  
nhận hàng hoá được quy định trong Luật  
* Thạc sĩ, Trường Đại học Mở Hà Nội  
1ꢁ Fiata model rules for freight fowarding services, 2.1. 2ꢁ Điều 163 LTM năm 1997.  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 21  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...  
Logistics được hiểu như là các hoạt động  
dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối,  
lưu thông hàng hóa và đây là hoạt động  
thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể.  
Trong khi đó, nhiều tổ chức quốc tế hay  
quốc gia khác có cách tiếp cận logistics  
theo nghĩa rộng như của Hội đồng quản  
trị logistics, Liên hợp quốc hay Ủy ban tiêu  
chuẩn hóa châu Âu… Theo đó, logistics  
được hiểu là quá trình lập kế hoạch, thực  
hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về  
mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự  
trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và  
thành phẩm, cùng những thông tin liên  
quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản  
xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm  
mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của  
khách hàng3. Về mối quan hệ giữa giao  
nhận với logistics, nhiều tài liệu, ý kiến  
đều đồng tình rằng logistics là sự phát  
triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải  
giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và  
nằm trong logistics. Cùng với quá trình  
phát triển của mình, logistics đã làm đa  
dạng hóa khái niệm vận tải giao nhận  
truyền thống4.  
Dịch vụ giao nhận vận tải (GNVT)  
đường bộ là một trong những phương  
thức của dịch vụ giao nhận, được phân loại  
dựa trên phương thức vận tải. Đây là dịch  
vụ GNVT mà trong đó phương tiện vận tải  
chính được người giao nhận sử dụng là các  
phương tiện vận tải đường bộ. Các phương  
tiện vận chuyển được phân chia theo các  
loại hình vận tải, bao gồm từ đường bộ  
đến đường biển, đường sắt, đường hàng  
không… Trong số đó, phương tiện vận tải  
đường bộ và vận tải đường bộ là phương  
thức cổ điển nhất, ra đời sớm nhất và hiện  
nay vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các  
loại hình vận tải.  
1.2. Khái quát về điều kiện kinh doanh  
dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ  
Điều kiện kinh doanh trước hết phải  
được hiểu là một trong những công cụ  
quản lý được Nhà nước sử dụng để thiết  
lập và duy trì trật tự trong hoạt động kinh  
doanh. Điều này đặt ra những yêu cầu mà  
chủ thể kinh doanh phải đáp ứng như yêu  
cầu về nguồn lực con người, tài chính, cơ  
sở vật chất, quy trình quản lý, quy trình  
kỹ thuật, địa điểm kinh doanh... Do vậy,  
điều kiện kinh doanh không chỉ là những  
yêu cầu về gia nhập thị trường đối với  
doanh nghiệp mà còn là những yêu cầu  
mà doanh nghiệp phải duy trì trong suốt  
quá trình hoạt động kinh doanh5.  
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động  
cung ứng dịch vụ GNVT đường bộ có khả  
năng gây ra tác động đến những lợi ích mà  
Nhà nước cần thiết phải bảo vệ và pháp  
luật cần quy định điều kiện kinh doanh  
về loại hình dịch vụ này. Nói cách khác,  
thương nhân muốn cung ứng dịch vụ này  
cần phải đảm bảo được các điều kiện mà  
pháp luật đặt ra. Việc Nhà nước ban hành  
các quy định của pháp luật điều chỉnh về  
điều kiện kinh doanh đối với lĩnh vực này  
nhằm mục đích vừa bảo vệ được các lợi ích  
công cộng như đáp ứng yêu cầu về quốc  
phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, đạo  
đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường  
sinh thái…; vừa bảo vệ cả những lợi ích tư  
như lợi ích của người tiêu dùng được sử  
dụng các hàng hóa dịch vụ có chất lượng.  
Một vấn đề đặt ra là, vậy với một dịch vụ  
gồm nhiều nghiệp vụ thì cách thức xác  
định điều kiện kinh doanh sꢂ như thế nào,  
áp dụng tùy vào từng nghiệp vụ hay là áp  
dụng chung đối với dịch vụ? Bên cạnh đó,  
cần nhận thức rằng điều kiện kinh doanh  
chỉ là một trong những công cụ quản lý  
3ꢁ Hội đồng quản trị Logisitcs (Council of Logisitcs  
Management – CLM, 1991).  
5ꢁ Trần Thị Quang Hồng, Điều kiện kinh doanh là công  
4ꢁ Nguyễn Như Tiến, Logistics - Khả năng ứng dụng và cụ quản lý nhà nước trong quá trình hoàn thiện thể chế  
phát triển logistics trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao kinh tế thị trưꢀng định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt  
nhận Việt Nam, Nxb Giao thông vận tải (2006), tr. 26.  
Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3/2020.  
22 Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
PHÙNG TRỌNG QUẾ  
nhà nước chứ không phải là công cụ duy lực để tiến hành hoạt động kinh doanh của  
nhất để đạt được mục tiêu quản lý6.  
Trên thế giới, tùy thuộc vào cách tiếp cận  
khác nhau mà các quốc gia đều có những  
quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo  
đối với lĩnh vực GNVT nói chung và cụ thể pháp luật Việt Nam hiện hành  
mình; (iv) Có các biện pháp bảo đảm an  
toàn cần thiết…  
2. Quy định về điều kiện kinh doanh  
đối với lĩnh vực GNVT đường bộ nói riêng.  
Ví dụ ở Nhật Bản, điều kiện kinh doanh các  
loại dịch vụ logistics được quy định theo  
từng bộ luật riêng cho các lĩnh vực trong  
ngành logistics. Đây cũng là quốc gia có số  
lượng chứng chỉ hành nghề đối với nhân  
sự làm việc trong lĩnh vực này nhiều nhất,  
lên tới 300 loại chứng chỉ chuyên môn – kỹ  
năng của người lao động như người lái xe  
ngoài bằng lái còn có chứng chỉ Lái xe an  
toàn, Lái xe kinh tế, tùy theo năng lực thực  
tế và kết quả kiểm tra7. Một số quốc gia  
khác lại không đặt nặng vấn đề về điều kiện  
kinh doanh như Singapore. Cơ quan chức  
năng nước này không quy định “điều kiện  
kinh doanh” mà để chính ngành logistics  
điều tiết hoạt động của nó. Nguyên tắc này  
gọi là “industry self-regulation”. Nội dung  
của dịch vụ GNVT đường bộ là tổng hợp  
nhiều nghiệp vụ có liên quan để nhằm dịch  
chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi  
nhận hàng bằng các cơ sở vật chất kỹ thuật  
đường bộ. Vì vậy, khi chủ thể muốn kinh  
doanh dịch vụ này cần phải tiến hành đăng  
ký kinh doanh và đáp ứng được các điều  
kiện kinh doanh theo quy định của pháp  
luật. Nhìn chung, pháp luật sꢂ ghi nhận  
các loại điều kiện (về nội dung) sau đây:  
(i) Đảm bảo được các yếu tố về cơ sở vật  
chất kỹ thuật trong hoạt động như trang  
2.1. Về khái niệm  
Hiện nay, cách tiếp cận của LTM năm  
2005 về logistics8 đang theo nghĩa hẹp và  
không khác biệt với giao nhận hàng hóa.  
Trong khi logistics nếu tiếp cận theo nghĩa  
rộng được hiểu như là một quá trình có  
tác động như lập kế hoạch, thực hiện và  
kiểm soát có hiệu quả từ giai đoạn tiền sản  
xuất, gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật  
liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất,  
sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh  
lưu thông, phân phối đến tay người tiêu  
dùng cuối cùng. Chính vì việc pháp luật  
Việt Nam chưa có phân định rõ ràng này  
mà nhiều dịch vụ không chỉ riêng GNVT  
đường bộ cũng được hưởng các quy chế  
pháp lý về dịch vụ logistics.  
2.2. Về chủ thể  
Theo LTM, để cung ứng dịch vụ  
GNVT đường bộ nói riêng hay logistics  
nói chung thì thương nhân đó phải là  
doanh nghiệp9. Nghĩa là, hình thức pháp lý  
đủ điều kiện cung ứng dịch vụ trên phải là  
một trong các hình thức doanh nghiệp theo  
quy định của Luật doanh nghiệp là: Doanh  
nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty  
cổ phần, công ty TNHH 01 thành viên và  
công ty TNHH từ 02 thành viên trở lên.  
Nghị định 163/2017/NĐ-CP ngày  
thiết bị, phương tiện, công cụ, năng lực tài 30/12/2017 của Chính phủ quy định về  
chính…; (ii) Kế hoạch kinh doanh phải phù kinh doanh dịch vụ logistics (Nghị định  
hợp để đảm bảo an toàn, phải thích hợp để 163/2017/NĐ-CP) để thay thế cho Nghị  
tiến hành hoạt động kinh doanh, phải phù định 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày  
hợp với quan điểm của người vận hành; (iii) 05/9/2007 đã phân loại dịch vụ logistics  
Người đăng ký kinh doanh phải có đủ năng thành 17 nhóm ngành dịch vụ cụ thể tại  
6ꢁ Trần Thị Quang Hồng, tlđd  
8ꢁ Điều 233 LTM năm 2005.  
7ꢁ Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam 9ꢁ Khoản 1 Điều 234 LTM năm 2005: “Thương nhân kinh  
(VLI), Báo cáo Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh  
logistics và đề xuất sửa đổi NĐ 140/2007/NĐ-CP.  
doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”.  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 23  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...  
Điều 3. Sau khi phân loại các dịch vụ, Nghị định pháp luật về dịch vụ hải quan và nếu  
định trên đã quy định về điều kiện kinh thực hiện nhiều dịch vụ trong 17 nhóm  
doanh của dịch vụ logistics dựa trên sự dịch vụ nói trên thì cũng sꢂ phải đáp ứng  
phân loại đó, cụ thể:  
(1) Thương nhân kinh doanh các dịch  
vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics quy định  
tại Điều 3 Nghị định này phải đáp ứng điều kiện kinh doanh đối với các dịch vụ  
các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy được phân loại thành 17 nhóm dịch vụ  
định của pháp luật đối với dịch vụ đó;  
(2) Thương nhân tiến hành một phần  
hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh  
logistics bằng phương tiện điện tử có kết  
nối mạng Internet, mạng viễn thông di  
động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc  
phải đáp ứng theo quy định của pháp luật  
đối với các dịch vụ cụ thể quy định tại Điều  
3 Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy  
định về thương mại điện tử.  
Như vậy, với quy định nêu trên, pháp  
luật đã không còn bắt buộc các chủ thể  
kinh doanh dịch vụ logistics nói chung  
phải đáp ứng các điều kiện mang tính khó  
định lượng và thậm chí là mơ hồ, khó áp  
dụng trong thực tiễn như ở Nghị định  
140/2007/NĐ-CP là “đủ phương tiện, thiết  
bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ  
thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu  
cầu”. Hơn nữa, quy định trên đã phần nào  
cởi bỏ bớt các điều kiện kinh doanh cho  
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics  
nói chung cũng như các thương nhân kinh  
doanh một hoặc một số các dịch vụ riêng  
lꢃ nhưng vẫn phải chịu thêm các điều kiện  
kinh doanh riêng rꢂ của từng ngành nghề  
cụ thể đó. Như vậy, với các điều kiện kinh  
doanh (1), tùy thuộc nội dung, phạm vi của  
các dịch vụ mà thương nhân kinh doanh  
dịch vụ logistics cung cấp mà thương nhân  
đó sꢂ phải đáp ứng các điều kiện kinh  
doanh riêng. Chẳng hạn, nếu chỉ kinh  
doanh dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa,  
được tổng hợp điều kiện kinh doanh của  
pháp luật về 17 nhóm dịch vụ đó.  
Bên cạnh đó, quy định trên còn bổ sung  
nêu trên nếu họ sử dụng một phần hoặc  
toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình  
bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng  
Internet, mạng viễn thông di động hoặc  
các mạng mở khác phải đáp ứng thêm các  
điều kiện được quy định trong pháp luật  
về thương mại điện tử. Các quy định về  
điều kiện kinh doanh thương mại điện tử  
hiện được quy định chủ yếu tại Luật giao  
dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin và  
được hướng dẫn chi tiết bởi Nghị định  
52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính  
phủ về thương mại điện tử và Nghị định  
08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 sửa đổi  
một số Nghị định liên quan đến điều kiện  
đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý  
nhà nước của Bộ Công thương.  
Ngoài hai điều kiện nêu trên, đối với  
thương nhân nước ngoài là thành viên của  
WTO, khi kinh doanh dịch vụ logistics tại  
Việt Nam thì phải chịu thêm một số ràng  
buộc được quy định tại khoản 3 Điều 4 của  
Nghị định 163/2017/NĐ-CP. Chẳng hạn  
như trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải  
hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ,  
được thực hiện thông qua hình thức hợp  
đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành  
lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ  
phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp,  
trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước  
ngoài không quá 51%. 100% lái xe của  
doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.  
Bên cạnh điều kiện về tư cách pháp  
thương nhân sꢂ chỉ phải đáp ứng được các lý và điều kiện quy định tại Nghị định  
điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ đại 163/2017/NĐ-CP thì tùy thuộc vào phạm  
lý hàng hóa, nếu kinh doanh dịch vụ đại vi cung ứng dịch vụ của mình mà thương  
lý làm thủ tục hải quan thì phải đáp ứng nhân giao nhận vận tải đường bộ sꢂ phải  
được các điều kiện kinh doanh theo quy đáp ứng các quy định tại các văn bản  
24 Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
PHÙNG TRỌNG QUẾ  
pháp luật chuyên ngành. Chẳng hạn,  
3. Một số hạn chế, bất cập của pháp  
nếu có cung ứng dịch vụ vận tải đường luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ  
bộ thì phải đáp ứng các điều kiện kinh giao nhận vận tải đường bộ và kiến nghị,  
doanh được quy định tại Luật giao thông  
đường bộ năm 2008 tại Điều 67, Nghị  
định số 10/2020/NĐ-CP ngày 17/01/2020  
của Chính phủ quy định về kinh doanh  
và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe  
ô tô, Thông tư 12/2020/TT-BGTVT ngày  
29/5/2020 quy định về tổ chức, quản lý  
hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ  
hỗ trợ vận tải đường bộ. Nếu cung ứng  
dịch vụ kho bãi thuộc nhóm kinh doanh  
bất động sản thì phải đáp ứng các quy  
định tại Luật kinh doanh bất động sản,  
Nghị định 76/2015/NĐ-CP của Chính phủ  
ngày 10/9/2015 quy định chi tiết thi hành  
một số điều luật của Luật kinh doanh  
bất động sản, các điều kiện về phòng cháy  
chữa cháy tại Nghị định 136/2020/NĐ-CP  
ngày 24/11/2020 quy định chi tiết một số  
điều và biện pháp thi hành luật phòng  
cháy và chữa cháy và luật sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Luật phòng cháy và  
chữa cháy và Thông tư 149/2020/TT-BCA  
ngày 31/12/2020 quy định chi tiết một số  
điều và biện pháp thi hành luật phòng  
cháy và chữa cháy và luật sửa đổi, bổ  
sung một số điều của luật phòng cháy và  
chữa cháy và Nghị định 136/2020/NĐ-CP  
ngày 24/11/2020 của Chính phủ quy định  
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành  
luật phòng cháy và chữa cháy và luật sửa  
đổi, bổ sung một số điều của luật phòng  
cháy và chữa cháy. Nếu cung ứng dịch  
vụ đại lý làm thủ tục hải quan thì phải  
đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều  
20 Luật Hải quan, Thông tư 22/2019/BTC  
ngày 16/4/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi,  
bổ sung một số điều của Thông tư 12/2015/  
TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ trưởng  
Bộ Tài chính quy định chi tiết thủ tục cấp  
chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và  
thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục  
hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và  
hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan…  
giải pháp  
Thứ nhất, cần làm rõ khái niệm dịch vụ  
logistics cũng như bổ sung quy định về  
hợp đồng dịch vụ (HĐDV) logistics.  
Cách tiếp cận của LTM về logistics theo  
nghĩa hẹp, không rõ sự khác biệt với “giao  
nhận hàng hóa”, khiến cho các quy chế  
pháp lý của giao nhận và logistics đang bị  
chồng chéo. Thêm vào đó, cách quy định  
về việc chỉ cần thực hiện “một hoặc nhiều  
công việc” thì đều được coi là dịch vụ  
logistics dẫn tới việc khó phân biệt hoạt  
động này với các hoạt động đơn lꢃ khác.  
Pháp luật Singapore đã quy định đầy  
đủ và làm rõ mối liên hệ giữa GNVT với  
logistics. Theo đó, “dịch vụ giao nhận và  
logistics” là bất kꢀ loại dịch vụ nào liên  
quan đến việc vận chuyển (được thực hiện  
bởi một hay nhiều phương thức vận tải),  
gom hàng, lưu trữ, xếp dỡ, xử lý, đóng gói  
hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn, cố  
vấn, bao gồm nhưng không giới hạn về  
hải quan và các vấn đề tài chính, kê khai  
hàng hóa theo quy định, mua bảo hiểm,  
thu hoặc chi các khoản thanh toán hoặc  
các chứng từ liên quan đến hàng hóa. Dịch  
vụ giao nhận (hiện đại) cũng bao gồm các  
dịch vụ logistics với công nghệ thông tin  
và truyền thông hiện đại tích hợp với việc  
vận chuyển, xử lý hoặc dự trữ hàng hóa  
và trên thực tế là quản lý toàn bộ chuỗi  
cung ứng. Những dịch vụ này có thể được  
thiết kế riêng biệt để đảm bảo các dịch vụ  
được cung cấp một cách linh hoạt”10. Còn  
theo pháp luật Nhật Bản, họ không đưa  
ra khái niệm logistics mà có định nghĩa về  
giao nhận hàng hóa (Freight Forwarding)  
là dịch vụ nhằm mục đích vận chuyển  
hàng hóa, thông qua người vận tải thực tế  
10ꢁ Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam  
(VLI), Báo cáo Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ logistics  
và đề xuất sửa đổi Nghị định 140/2007/NĐ-CP, tr. 6.  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 25  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...  
đường bộ, đường biển, đường hàng không Hơn nữa, Luật Đầu tư năm 2020 không  
và đường sắt. Hoặc Bộ luật Thương mại của  
Cộng hòa Liên bang Đức không quy định  
về khái niệm giao nhận hàng hóa nhưng  
có quy định về thỏa thuận hay hợp đồng  
giao nhận hàng hóa, theo đó “Hợp đồng  
giao nhận bắt buộc người giao nhận phải  
thu xếp để gửi hàng đi; Người gửi có nghĩa  
vụ trả thù lao đã thỏa thuận; các quy định  
của phần này chỉ áp dụng nếu việc xử lý  
lô hàng là một phần hoạt động của doanh  
nghiệp thương mại…”11. Theo tác giả,  
logistics nên được tiếp cận theo nghĩa rộng,  
là “dịch vụ thương mại, theo đó bên cung ứng  
dịch vụ thực hiện một hoặc nhiều dịch vụ liên  
quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và  
kiểm soát việc vận chuyển và lưu trữ hàng hoá  
từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối  
cꢁng một cách hiệu quả và phꢁ hợp với yêu cầu  
của khách hàng”. HĐDV logistics cũng phải  
được ghi nhận dựa trên cách tiếp cận của  
khái niệm về logistics nêu trên bởi hiện nay  
chưa có quy định này, trong khi các hình  
thức pháp lý của các hoạt động thương  
mại khác lại được LTM ghi nhận. HĐDV  
logistics nên được bổ sung dựa trên khái  
niệm logistics “là sự thỏa thuận giữa một  
bên gọi là bên cung ứng dịch vụ và một bên  
quy định logistics là ngành nghề kinh  
doanh có điều kiện; các luật chuyên ngành  
điều chỉnh các dịch vụ cụ thể trong chuỗi  
các dịch vụ giao nhận, logistics như trong  
lĩnh vực đường bộ không quy định bắt  
buộc thương nhân cung ứng dịch vụ phải  
là doanh nghiệp. Vì vậy, để đảm bảo tính  
nhất quán và đồng bộ của pháp luật, kiến  
nghị sửa đổi quy định tại Điều 234 LTM  
năm 2005 theo hướng bỏ khoản 1: “Thương  
nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh  
nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ  
logistics theo quy định của pháp luật”.  
Thứ ba, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, cắt  
giảm các điều kiện kinh doanh bất hợp lý.  
Luật Đầu tư năm 2020 thay thế cho Luật  
Đầu tư năm 2014 đã không còn quy định  
dịch vụ logistics là ngành nghề kinh doanh  
có điều kiện. Đây là một bước tiến trong  
quy định pháp lý về điều kiện kinh doanh  
đối với ngành nghề này. Tuy nhiên, với tính  
chất là một dịch vụ “tổng hợp”, vẫn còn  
tồn tại nhiều điều kiện kinh doanh chưa  
hợp lý, gây cản trở đến quyền gia nhập  
thị trường cũng như các hoạt động kinh  
doanh của thương nhân trong các dịch  
gọi là bên sử dụng dịch vụ theo đó bên cung vụ cụ thể. Vì vậy, để đảm bảo môi trường  
ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện một hoặc  
nhiều dịch vụ logistics còn bên sử dụng dịch  
vụ có nghĩa vụ thanh toán thꢁ lao dịch vụ đã  
thỏa thuận”.  
kinh doanh thông thoáng, thể hiện quan  
điểm đổi mới về quản lý nhà nước trong  
thương mại, vẫn cần tiếp tục rà soát, sửa  
đổi và cắt giảm các điều kiện kinh doanh  
gây cản trở đó. Ví dụ, cần tiếp tục cắt giảm  
các điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ  
vận tải đường bộ, các dịch vụ hỗ trợ vận tải  
Thứ hai, cần thống nhất về tư cách pháp  
lý của bên cung ứng dịch vụ logistics. LTM  
quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ  
logistics phải là doanh nghiệp. Tuy nhiên, đường bộ; các dịch vụ làm thủ tục hải quan.  
Nghị định 163/2017/NĐ-CP và một số  
văn bản pháp luật điều chỉnh các dịch vụ  
cụ thể trong chuỗi các dịch vụ giao nhận,  
logistics như trong lĩnh vực đường bộ  
không quy định bắt buộc thương nhân  
cung ứng dịch vụ phải là doanh nghiệp12.  
Nghị định 10/2020/NĐ-CP của Chính phủ  
ngày 17/01/2020 quy định về kinh doanh  
và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô  
tô thay thế cho Nghị định 86/2014/NĐ-CP  
ngày 10/9/2014 đã có nhiều bước tiến trong  
doanh dịch vụ Logistics và Điều 59, 60 Thông tư  
11ꢁĐiều 453 Bộ luật Thương mại Cộng hòa Liên bang Đức. 12/2020/TT-BGTVT ngày 29/5/2020 quy định về tổ  
12ꢁ Xem khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2017/NĐ-CP chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch  
của Chính phủ ngày 30/12/2017 quy định về kinh vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.  
26 Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
PHÙNG TRỌNG QUẾ  
quy định về điều kiện kinh doanh vận tải thay cho “tiền kiểm” và áp dụng tổng hợp  
đường bộ theo hướng thông thoáng và hợp nhiều công cụ quản lý khác nhau.  
lý hơn. Tuy nhiên, vẫn còn đó những quy  
định gây thêm gánh nặng hành chính cho  
doanh nghiệp như quy định về cấp phép  
phù hiệu, biển hiệu; hay trong dự thảo mới  
đây Bộ Giao thông vận tải còn đề nghị có  
thêm “chứng chỉ hành nghề lái xe kinh  
doanh vận tải”… Về đại lý làm thủ tục hải  
quan, đã có nhiều ý kiến cho rằng, cần loại  
bỏ khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh  
có điều kiện tại Luật Đầu tư năm 2014 vì  
hoạt động này hầu như không tác động  
đến lợi ích công cộng đến mức buộc phải  
kiểm soát bằng điều kiện kinh doanh; nếu  
phát sinh rủi ro thì chỉ gây ảnh hưởng đối  
với chủ hàng, vốn là quan hệ pháp luật tư  
và được giải quyết theo pháp luật tư. Tuy  
nhiên, theo Luật Đầu tư năm 2020 thì đây  
vẫn là một trong những ngành nghề kinh  
doanh có điều kiện. Vì vậy, theo ý kiến  
của tác giả, Nhà nước phải tiếp tục rà soát  
và tiến tới cắt giảm nhiều điều kiện kinh  
doanh hơn nữa. Việc rà soát và đánh giá  
có thể dựa trên các tiêu chí cốt lõi như: Về  
nguyên tắc, các ngành, nghề không liên  
quan trực tiếp hoặc không chứng minh  
được có ảnh hưởng trực tiếp tới các nội  
dung quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự  
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của  
cộng đồng (gọi chung là lợi ích công cộng)  
hoặc đã được quản lý bằng quy chuẩn, tiêu  
chuẩn hoặc chất lượng đầu ra của ngành  
nghề đó do thị trường, khách hàng lựa  
chọn, sàng lọc và quyết định sꢂ không được  
xác định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh  
có điều kiện, Nhà nước sꢂ quản lý bằng  
phương thức khác thay vì áp đặt điều kiện  
kinh doanh13. Cần lưu ý, điều kiện kinh  
doanh không phải là công cụ quản lý duy  
nhất của Nhà nước để đạt được mục tiêu  
quản lý. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay,  
Pháp luật của Singapore không quy  
định về điều kiện kinh doanh mà để  
chính ngành logistics điều tiết hoạt động  
của nó theo nguyên tắc “industry self-  
regulation”. Còn theo pháp luật Nhật  
Bản, điều kiện kinh doanh các loại dịch vụ  
logistics được quy định theo từng bộ luật  
riêng cho các lĩnh vực trong ngành logistics  
(Tatsuyuki Kose, 2013)14.  
Thứ tư, bổ sung các cơ chế, chính sách  
khuyến khích, đặc biệt có cơ chế đặc thù  
đối với hợp tác xã kinh doanh vận tải.  
Bên cạnh các quy định về điều kiện kinh  
doanh đối với chủ thể cung ứng dịch vụ,  
pháp luật cũng cần phải có các chính sách  
hỗ trợ, khuyến khích đặc thù đối với các  
chủ thể cung ứng dịch vụ GNVT, logistics  
nói chung hay GNVT đường bộ nói riêng.  
Điều này xuất phát từ vai trò quan trọng  
của dịch vụ này và thực trạng manh mún,  
quy mô nhỏ lꢃ mà các doanh nghiệp cung  
ứng dịch vụ ở Việt Nam phần đông là các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vì vậy, cùng  
với chính sách hỗ trợ chung đối với doanh  
nghiệp nhỏ và vừa thì pháp luật cũng cần  
có những quy định cụ thể về chính sách đặc  
thù đối với các công ty GNVT, logistics.  
Trong lĩnh vực vận tải đường bộ, Nghị  
định 163/2017/NĐ-CP và các văn bản  
pháp luật về hướng dẫn thành lập doanh  
nghiệp, hợp tác xã tại Việt Nam cần xem  
xét xác định mô hình hợp tác xã là một  
chủ thể kinh doanh riêng biệt, kèm hướng  
dẫn cụ thể rõ ràng về hoạt động kinh  
doanh. Qua đó, thúc đẩy việc thành lập  
các hợp tác xã vận tải đường bộ thông  
qua các hoạt động tạo điều kiện cấp tín  
dụng cho thiết lập ban đầu; giảm thuế  
những năm đầu; hỗ trợ chuyển giao công  
cần đẩy mạnh hơn nữa việc thay đổi tư duy nghệ; công tác đào tạo… Có thể tham khảo  
quản lý nhà nước theo hướng “hậu kiểm” những kinh nghiệm của một số quốc gia  
13ꢁ VCCI, Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh 14ꢁ VLI, Báo cáo Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ  
2020, tr. 32  
logistics và đề xuất sửa đổi NĐ 140/2007/NĐ-CP, tr. 23  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 27  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...  
như Phillipines với Văn phòng hợp tác Kꢀ, Singapore hay Thái Lan là những minh  
xã vận tải (OTC, the Office of Transport chứng cụ thể để thúc đẩy các công ty môi  
giới. Hoa Kꢀ có một trong những mạng lưới  
dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa đường  
bộ mạnh nhất trên thế giới. Theo doanh thu  
bằng USD năm 2018, 05 công ty môi giới  
lớn nhất thế giới đều có trụ sở ở Hoa Kꢀ.  
Việc đăng ký công ty môi giới thuộc phạm  
vi quản lý của Cục An toàn Vận tải Cơ giới  
Liên bang (FMCSA)16.  
Dịch vụ GNVT đường bộ nói riêng và  
GNVT hay logistics nói chung ngày càng  
giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển  
kinh tế của bất kꢀ quốc gia nào. Việc hoàn  
thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh  
dịch vụ GNVT đường bộ cần phải dựa trên  
các cơ sở về điều kiện kinh tế - xã hội, giai  
đoạn phát triển của ngành, chế độ pháp lý  
cũng như các chính sách của từng quốc gia./.  
Cooperatives) là cơ quan chính phủ của  
Philippines chịu trách nhiệm thực hiện các  
quy tắc và quy định điều chỉnh hoạt động  
thúc đẩy, tổ chức, đưa ra các quy định, giám  
sát, đăng ký và phát triển các hợp tác xã  
vận tải được Sở Giao thông phê duyệt. Ở  
Malaysia, năm 2008 đã thành lập Ủy ban  
Hợp tác xã Malaysia (SKM). Đây là cơ quan  
chủ quản có nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển  
ổn định của lĩnh vực hợp tác xã. SKM cung  
cấp 05 dịch vụ chính, bao gồm: Đăng ký  
thành lập hợp tác xã, hỗ trợ nguồn vốn đầu  
tư, hỗ trợ không hoàn lại, kiểm soát dịch vụ,  
dịch vụ tư vấn kiểm toán và pháp lý15.  
Với các công ty môi giới, để thúc đẩy  
hoạt động kết nối cung – cầu tốt hơn, cũng  
cần phải có các chính sách khuyến khích. Cụ  
thể, các quy định đề xuất: Giấy phép kinh  
doanh truyền thống do cơ quan có thẩm  
quyền cấp nên được hỗ trợ bởi giấy phép  
môi giới, cấp mới về thanh toán phí hàng  
năm; để đảm bảo tin cậy, bên môi giới phải  
ký gửi một khoản tiền vào quỹ bảo lãnh/  
quỹ tín thác, phòng trường hợp một trong  
hai bên (ví dụ: Chủ hàng hoặc tài xế xe tải)  
vỡ nợ; người môi giới phải có không gian  
văn phòng đã được đăng ký. Các yêu cầu  
ký gửi tiền bảo lãnh và đăng ký văn phòng  
làm việc sꢂ giúp lọc bớt các doanh nghiệp  
quy mô nhỏ và đơn vị dịch vụ môi giới một  
người, vốn rất phổ biến tại Việt Nam nhưng  
không có đủ tiềm lực về kinh tế. Các giải  
pháp hỗ trợ: Cung cấp chính sách ưu đãi  
thuế doanh nghiệp cho các công ty môi giới;  
cho phép các công ty 100% vốn nước ngoài  
tham gia lĩnh vực môi giới vận chuyển hàng  
hóa để khuyến khích đầu tư từ các công ty  
con hoặc chi nhánh của các công ty toàn  
cầu; khuyến khích các nhà môi giới nhỏ tập  
hợp thành hợp tác xã để đạt được hiệu quả  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển,  
Logistics những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,  
Đại học Kinh tế quốc dân (2011);  
2. Đỗ Quốc Dũng, Giao nhận vận tải và bảo hiểm,  
Nxb Tài chính (2015);  
3. Harald Gleissner, J. Christian Femerling,  
Logistics- Basic – Exercise – Case study, (2013);  
4. Nguyễn Như Tiến, Logistics - Khả năng ứng  
dụng và phát triển logistics trong kinh doanh dịch vụ vận  
tải giao nhận Việt Nam, Nxb Giao thông vận tải (2006);  
5. Joan Jane and Alfonso de Ochoa, The handbook  
of Logistics Contract: A practical Guide to a Growing  
Field, Palgrave Macmillan, (2006);  
6. Đào Thị Cấm, Hợp đồng dịch vụ logistics theo  
pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ (2020);  
7. Viện nghiên cứu phát triển logistics Việt Nam  
(VLI), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ  
logistics và đề xuất sửa đổi NĐ 140/2007/NĐ-CP, (2016);  
8. World Bank, Tăng cưꢀng ngành vận tải hàng hóa  
đưꢀng bộ hướng tới giảm chi phí logistics và phát thải khí  
nhà kính, (2019);  
9. Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam  
(VCCI), Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh, (2020);  
10. Cộng hòa Liên bang Đức, Bộ luật Thương  
từ quy mô. Các bài học kinh nghiệm từ Hoa mại, quyển thứ 4.  
15ꢁ Ngân hàng thế giới (World Bank - WB), Tăng cưꢀng 16ꢁ Ngân hàng thế giới (World Bank - WB), Tăng cưꢀng  
ngành vận tải hàng hóa đưꢀng bộ, tr. 130.  
ngành vận tải hàng hóa đưꢀng bộ, tr. 132.  
28 Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 13180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_ve_dieu_kien_kinh_doanh_dich_vu_giao_nh.pdf