Hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
PHÙNG TRỌNG QUẾ*
Dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ nói riêng và giao nhận vận tải hay logistics
nói chung ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Đây là ngành dịch vụ có đối tượng đa dạng, phức tạp và luôn vận động, biến đổi, đòi
hỏi pháp luật cần có những điều chỉnh thích hợp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
thực thi. Bài viết nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp lý về điều kiện kinh
doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo pháp luật Việt Nam dưới góc độ bảo
đảm quyền tự do kinh doanh cũng như các yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế trên
cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta.
Từ khóa: Giao nhận vận tải đường bộ, giao nhận vận tải, logistics, điều kiện kinh doanh.
Ngày nhận bài: 17/5/2021; Biên tập xong: 17/5/2021; Duyệt đăng: 16/6/2021
Road freight forwarding services in particular and freight forwarding services or
logistics in general play an increasingly important role in the economic development
of the country. This is a service industry with diverse and complex subjects and always
changing, requiring the law to make appropriate adjustments to improve and enhance
enforcement efficiency. The article studies some solutions to improve the business
conditions of road freight forwarding services according to Vietnamese law from the
perspective of ensuring business freedom as well as the requirements of the economic
integration process based on suitability with socio-economic conditions in our country.
Keywords: Road freight forwarding services, freight forwarding, logistics, business
conditions.
1. Khái quát về điều kiện kinh doanh Thương mại (LTM) năm 1997, coi đây là
dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ
1.1. Khái quát về dịch vụ giao nhận vận
tải đường bộ
“hành vi thương mại, theo đó người làm
dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ
người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu
kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các
dịch vụ khác có liên quan để giao hàng
cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ
hàng, của người vận tải hoặc của người
Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các
Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA), “dịch
vụ giao nhận được định nghĩa như là bất
kꢀ loại dịch vụ nào liên quan đến vận
chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là
khách hàng)”2. Tuy nhiên, đạo luật thay
thế cho LTM năm 1997 là LTM năm 2005
đã sử dụng thuật ngữ “logistics” để thay
cho thuật ngữ “giao nhận”. Tuy nhiên,
cách tiếp cận của các nhà làm luật Việt
Nam về logistics đang theo nghĩa hẹp.
gói hay phân phối hàng hóa cũng như các
dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các
dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài
chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập
chứng từ liên quan đến hàng hoá”1.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên dịch vụ giao
nhận hàng hoá được quy định trong Luật
* Thạc sĩ, Trường Đại học Mở Hà Nội
1ꢁ Fiata model rules for freight fowarding services, 2.1. 2ꢁ Điều 163 LTM năm 1997.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 21
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...
Logistics được hiểu như là các hoạt động
dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối,
lưu thông hàng hóa và đây là hoạt động
thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể.
Trong khi đó, nhiều tổ chức quốc tế hay
quốc gia khác có cách tiếp cận logistics
theo nghĩa rộng như của Hội đồng quản
trị logistics, Liên hợp quốc hay Ủy ban tiêu
chuẩn hóa châu Âu… Theo đó, logistics
được hiểu là quá trình lập kế hoạch, thực
hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về
mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự
trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và
thành phẩm, cùng những thông tin liên
quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản
xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm
mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của
khách hàng3. Về mối quan hệ giữa giao
nhận với logistics, nhiều tài liệu, ý kiến
đều đồng tình rằng logistics là sự phát
triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải
giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và
nằm trong logistics. Cùng với quá trình
phát triển của mình, logistics đã làm đa
dạng hóa khái niệm vận tải giao nhận
truyền thống4.
Dịch vụ giao nhận vận tải (GNVT)
đường bộ là một trong những phương
thức của dịch vụ giao nhận, được phân loại
dựa trên phương thức vận tải. Đây là dịch
vụ GNVT mà trong đó phương tiện vận tải
chính được người giao nhận sử dụng là các
phương tiện vận tải đường bộ. Các phương
tiện vận chuyển được phân chia theo các
loại hình vận tải, bao gồm từ đường bộ
đến đường biển, đường sắt, đường hàng
không… Trong số đó, phương tiện vận tải
đường bộ và vận tải đường bộ là phương
thức cổ điển nhất, ra đời sớm nhất và hiện
nay vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các
loại hình vận tải.
1.2. Khái quát về điều kiện kinh doanh
dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ
Điều kiện kinh doanh trước hết phải
được hiểu là một trong những công cụ
quản lý được Nhà nước sử dụng để thiết
lập và duy trì trật tự trong hoạt động kinh
doanh. Điều này đặt ra những yêu cầu mà
chủ thể kinh doanh phải đáp ứng như yêu
cầu về nguồn lực con người, tài chính, cơ
sở vật chất, quy trình quản lý, quy trình
kỹ thuật, địa điểm kinh doanh... Do vậy,
điều kiện kinh doanh không chỉ là những
yêu cầu về gia nhập thị trường đối với
doanh nghiệp mà còn là những yêu cầu
mà doanh nghiệp phải duy trì trong suốt
quá trình hoạt động kinh doanh5.
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động
cung ứng dịch vụ GNVT đường bộ có khả
năng gây ra tác động đến những lợi ích mà
Nhà nước cần thiết phải bảo vệ và pháp
luật cần quy định điều kiện kinh doanh
về loại hình dịch vụ này. Nói cách khác,
thương nhân muốn cung ứng dịch vụ này
cần phải đảm bảo được các điều kiện mà
pháp luật đặt ra. Việc Nhà nước ban hành
các quy định của pháp luật điều chỉnh về
điều kiện kinh doanh đối với lĩnh vực này
nhằm mục đích vừa bảo vệ được các lợi ích
công cộng như đáp ứng yêu cầu về quốc
phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, đạo
đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường
sinh thái…; vừa bảo vệ cả những lợi ích tư
như lợi ích của người tiêu dùng được sử
dụng các hàng hóa dịch vụ có chất lượng.
Một vấn đề đặt ra là, vậy với một dịch vụ
gồm nhiều nghiệp vụ thì cách thức xác
định điều kiện kinh doanh sꢂ như thế nào,
áp dụng tùy vào từng nghiệp vụ hay là áp
dụng chung đối với dịch vụ? Bên cạnh đó,
cần nhận thức rằng điều kiện kinh doanh
chỉ là một trong những công cụ quản lý
3ꢁ Hội đồng quản trị Logisitcs (Council of Logisitcs
Management – CLM, 1991).
5ꢁ Trần Thị Quang Hồng, Điều kiện kinh doanh là công
4ꢁ Nguyễn Như Tiến, Logistics - Khả năng ứng dụng và cụ quản lý nhà nước trong quá trình hoàn thiện thể chế
phát triển logistics trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao kinh tế thị trưꢀng định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt
nhận Việt Nam, Nxb Giao thông vận tải (2006), tr. 26.
Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3/2020.
22 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
PHÙNG TRỌNG QUẾ
nhà nước chứ không phải là công cụ duy lực để tiến hành hoạt động kinh doanh của
nhất để đạt được mục tiêu quản lý6.
Trên thế giới, tùy thuộc vào cách tiếp cận
khác nhau mà các quốc gia đều có những
quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo
đối với lĩnh vực GNVT nói chung và cụ thể pháp luật Việt Nam hiện hành
mình; (iv) Có các biện pháp bảo đảm an
toàn cần thiết…
2. Quy định về điều kiện kinh doanh
đối với lĩnh vực GNVT đường bộ nói riêng.
Ví dụ ở Nhật Bản, điều kiện kinh doanh các
loại dịch vụ logistics được quy định theo
từng bộ luật riêng cho các lĩnh vực trong
ngành logistics. Đây cũng là quốc gia có số
lượng chứng chỉ hành nghề đối với nhân
sự làm việc trong lĩnh vực này nhiều nhất,
lên tới 300 loại chứng chỉ chuyên môn – kỹ
năng của người lao động như người lái xe
ngoài bằng lái còn có chứng chỉ Lái xe an
toàn, Lái xe kinh tế, tùy theo năng lực thực
tế và kết quả kiểm tra7. Một số quốc gia
khác lại không đặt nặng vấn đề về điều kiện
kinh doanh như Singapore. Cơ quan chức
năng nước này không quy định “điều kiện
kinh doanh” mà để chính ngành logistics
điều tiết hoạt động của nó. Nguyên tắc này
gọi là “industry self-regulation”. Nội dung
của dịch vụ GNVT đường bộ là tổng hợp
nhiều nghiệp vụ có liên quan để nhằm dịch
chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi
nhận hàng bằng các cơ sở vật chất kỹ thuật
đường bộ. Vì vậy, khi chủ thể muốn kinh
doanh dịch vụ này cần phải tiến hành đăng
ký kinh doanh và đáp ứng được các điều
kiện kinh doanh theo quy định của pháp
luật. Nhìn chung, pháp luật sꢂ ghi nhận
các loại điều kiện (về nội dung) sau đây:
(i) Đảm bảo được các yếu tố về cơ sở vật
chất kỹ thuật trong hoạt động như trang
2.1. Về khái niệm
Hiện nay, cách tiếp cận của LTM năm
2005 về logistics8 đang theo nghĩa hẹp và
không khác biệt với giao nhận hàng hóa.
Trong khi logistics nếu tiếp cận theo nghĩa
rộng được hiểu như là một quá trình có
tác động như lập kế hoạch, thực hiện và
kiểm soát có hiệu quả từ giai đoạn tiền sản
xuất, gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật
liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất,
sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh
lưu thông, phân phối đến tay người tiêu
dùng cuối cùng. Chính vì việc pháp luật
Việt Nam chưa có phân định rõ ràng này
mà nhiều dịch vụ không chỉ riêng GNVT
đường bộ cũng được hưởng các quy chế
pháp lý về dịch vụ logistics.
2.2. Về chủ thể
Theo LTM, để cung ứng dịch vụ
GNVT đường bộ nói riêng hay logistics
nói chung thì thương nhân đó phải là
doanh nghiệp9. Nghĩa là, hình thức pháp lý
đủ điều kiện cung ứng dịch vụ trên phải là
một trong các hình thức doanh nghiệp theo
quy định của Luật doanh nghiệp là: Doanh
nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty
cổ phần, công ty TNHH 01 thành viên và
công ty TNHH từ 02 thành viên trở lên.
Nghị định 163/2017/NĐ-CP ngày
thiết bị, phương tiện, công cụ, năng lực tài 30/12/2017 của Chính phủ quy định về
chính…; (ii) Kế hoạch kinh doanh phải phù kinh doanh dịch vụ logistics (Nghị định
hợp để đảm bảo an toàn, phải thích hợp để 163/2017/NĐ-CP) để thay thế cho Nghị
tiến hành hoạt động kinh doanh, phải phù định 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày
hợp với quan điểm của người vận hành; (iii) 05/9/2007 đã phân loại dịch vụ logistics
Người đăng ký kinh doanh phải có đủ năng thành 17 nhóm ngành dịch vụ cụ thể tại
6ꢁ Trần Thị Quang Hồng, tlđd
8ꢁ Điều 233 LTM năm 2005.
7ꢁ Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam 9ꢁ Khoản 1 Điều 234 LTM năm 2005: “Thương nhân kinh
(VLI), Báo cáo Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh
logistics và đề xuất sửa đổi NĐ 140/2007/NĐ-CP.
doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 23
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...
Điều 3. Sau khi phân loại các dịch vụ, Nghị định pháp luật về dịch vụ hải quan và nếu
định trên đã quy định về điều kiện kinh thực hiện nhiều dịch vụ trong 17 nhóm
doanh của dịch vụ logistics dựa trên sự dịch vụ nói trên thì cũng sꢂ phải đáp ứng
phân loại đó, cụ thể:
(1) Thương nhân kinh doanh các dịch
vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics quy định
tại Điều 3 Nghị định này phải đáp ứng điều kiện kinh doanh đối với các dịch vụ
các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy được phân loại thành 17 nhóm dịch vụ
định của pháp luật đối với dịch vụ đó;
(2) Thương nhân tiến hành một phần
hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh
logistics bằng phương tiện điện tử có kết
nối mạng Internet, mạng viễn thông di
động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc
phải đáp ứng theo quy định của pháp luật
đối với các dịch vụ cụ thể quy định tại Điều
3 Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy
định về thương mại điện tử.
Như vậy, với quy định nêu trên, pháp
luật đã không còn bắt buộc các chủ thể
kinh doanh dịch vụ logistics nói chung
phải đáp ứng các điều kiện mang tính khó
định lượng và thậm chí là mơ hồ, khó áp
dụng trong thực tiễn như ở Nghị định
140/2007/NĐ-CP là “đủ phương tiện, thiết
bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ
thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu
cầu”. Hơn nữa, quy định trên đã phần nào
cởi bỏ bớt các điều kiện kinh doanh cho
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
nói chung cũng như các thương nhân kinh
doanh một hoặc một số các dịch vụ riêng
lꢃ nhưng vẫn phải chịu thêm các điều kiện
kinh doanh riêng rꢂ của từng ngành nghề
cụ thể đó. Như vậy, với các điều kiện kinh
doanh (1), tùy thuộc nội dung, phạm vi của
các dịch vụ mà thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics cung cấp mà thương nhân
đó sꢂ phải đáp ứng các điều kiện kinh
doanh riêng. Chẳng hạn, nếu chỉ kinh
doanh dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa,
được tổng hợp điều kiện kinh doanh của
pháp luật về 17 nhóm dịch vụ đó.
Bên cạnh đó, quy định trên còn bổ sung
nêu trên nếu họ sử dụng một phần hoặc
toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình
bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng
Internet, mạng viễn thông di động hoặc
các mạng mở khác phải đáp ứng thêm các
điều kiện được quy định trong pháp luật
về thương mại điện tử. Các quy định về
điều kiện kinh doanh thương mại điện tử
hiện được quy định chủ yếu tại Luật giao
dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin và
được hướng dẫn chi tiết bởi Nghị định
52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính
phủ về thương mại điện tử và Nghị định
08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 sửa đổi
một số Nghị định liên quan đến điều kiện
đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý
nhà nước của Bộ Công thương.
Ngoài hai điều kiện nêu trên, đối với
thương nhân nước ngoài là thành viên của
WTO, khi kinh doanh dịch vụ logistics tại
Việt Nam thì phải chịu thêm một số ràng
buộc được quy định tại khoản 3 Điều 4 của
Nghị định 163/2017/NĐ-CP. Chẳng hạn
như trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải
hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ,
được thực hiện thông qua hình thức hợp
đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành
lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ
phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp,
trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài không quá 51%. 100% lái xe của
doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.
Bên cạnh điều kiện về tư cách pháp
thương nhân sꢂ chỉ phải đáp ứng được các lý và điều kiện quy định tại Nghị định
điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ đại 163/2017/NĐ-CP thì tùy thuộc vào phạm
lý hàng hóa, nếu kinh doanh dịch vụ đại vi cung ứng dịch vụ của mình mà thương
lý làm thủ tục hải quan thì phải đáp ứng nhân giao nhận vận tải đường bộ sꢂ phải
được các điều kiện kinh doanh theo quy đáp ứng các quy định tại các văn bản
24 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
PHÙNG TRỌNG QUẾ
pháp luật chuyên ngành. Chẳng hạn,
3. Một số hạn chế, bất cập của pháp
nếu có cung ứng dịch vụ vận tải đường luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ
bộ thì phải đáp ứng các điều kiện kinh giao nhận vận tải đường bộ và kiến nghị,
doanh được quy định tại Luật giao thông
đường bộ năm 2008 tại Điều 67, Nghị
định số 10/2020/NĐ-CP ngày 17/01/2020
của Chính phủ quy định về kinh doanh
và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe
ô tô, Thông tư 12/2020/TT-BGTVT ngày
29/5/2020 quy định về tổ chức, quản lý
hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ
hỗ trợ vận tải đường bộ. Nếu cung ứng
dịch vụ kho bãi thuộc nhóm kinh doanh
bất động sản thì phải đáp ứng các quy
định tại Luật kinh doanh bất động sản,
Nghị định 76/2015/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 10/9/2015 quy định chi tiết thi hành
một số điều luật của Luật kinh doanh
bất động sản, các điều kiện về phòng cháy
chữa cháy tại Nghị định 136/2020/NĐ-CP
ngày 24/11/2020 quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành luật phòng
cháy và chữa cháy và luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật phòng cháy và
chữa cháy và Thông tư 149/2020/TT-BCA
ngày 31/12/2020 quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành luật phòng
cháy và chữa cháy và luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của luật phòng cháy và
chữa cháy và Nghị định 136/2020/NĐ-CP
ngày 24/11/2020 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
luật phòng cháy và chữa cháy và luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của luật phòng
cháy và chữa cháy. Nếu cung ứng dịch
vụ đại lý làm thủ tục hải quan thì phải
đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều
20 Luật Hải quan, Thông tư 22/2019/BTC
ngày 16/4/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư 12/2015/
TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính quy định chi tiết thủ tục cấp
chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và
thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục
hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và
hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan…
giải pháp
Thứ nhất, cần làm rõ khái niệm dịch vụ
logistics cũng như bổ sung quy định về
hợp đồng dịch vụ (HĐDV) logistics.
Cách tiếp cận của LTM về logistics theo
nghĩa hẹp, không rõ sự khác biệt với “giao
nhận hàng hóa”, khiến cho các quy chế
pháp lý của giao nhận và logistics đang bị
chồng chéo. Thêm vào đó, cách quy định
về việc chỉ cần thực hiện “một hoặc nhiều
công việc” thì đều được coi là dịch vụ
logistics dẫn tới việc khó phân biệt hoạt
động này với các hoạt động đơn lꢃ khác.
Pháp luật Singapore đã quy định đầy
đủ và làm rõ mối liên hệ giữa GNVT với
logistics. Theo đó, “dịch vụ giao nhận và
logistics” là bất kꢀ loại dịch vụ nào liên
quan đến việc vận chuyển (được thực hiện
bởi một hay nhiều phương thức vận tải),
gom hàng, lưu trữ, xếp dỡ, xử lý, đóng gói
hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn, cố
vấn, bao gồm nhưng không giới hạn về
hải quan và các vấn đề tài chính, kê khai
hàng hóa theo quy định, mua bảo hiểm,
thu hoặc chi các khoản thanh toán hoặc
các chứng từ liên quan đến hàng hóa. Dịch
vụ giao nhận (hiện đại) cũng bao gồm các
dịch vụ logistics với công nghệ thông tin
và truyền thông hiện đại tích hợp với việc
vận chuyển, xử lý hoặc dự trữ hàng hóa
và trên thực tế là quản lý toàn bộ chuỗi
cung ứng. Những dịch vụ này có thể được
thiết kế riêng biệt để đảm bảo các dịch vụ
được cung cấp một cách linh hoạt”10. Còn
theo pháp luật Nhật Bản, họ không đưa
ra khái niệm logistics mà có định nghĩa về
giao nhận hàng hóa (Freight Forwarding)
là dịch vụ nhằm mục đích vận chuyển
hàng hóa, thông qua người vận tải thực tế
10ꢁ Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam
(VLI), Báo cáo Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ logistics
và đề xuất sửa đổi Nghị định 140/2007/NĐ-CP, tr. 6.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 25
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...
đường bộ, đường biển, đường hàng không Hơn nữa, Luật Đầu tư năm 2020 không
và đường sắt. Hoặc Bộ luật Thương mại của
Cộng hòa Liên bang Đức không quy định
về khái niệm giao nhận hàng hóa nhưng
có quy định về thỏa thuận hay hợp đồng
giao nhận hàng hóa, theo đó “Hợp đồng
giao nhận bắt buộc người giao nhận phải
thu xếp để gửi hàng đi; Người gửi có nghĩa
vụ trả thù lao đã thỏa thuận; các quy định
của phần này chỉ áp dụng nếu việc xử lý
lô hàng là một phần hoạt động của doanh
nghiệp thương mại…”11. Theo tác giả,
logistics nên được tiếp cận theo nghĩa rộng,
là “dịch vụ thương mại, theo đó bên cung ứng
dịch vụ thực hiện một hoặc nhiều dịch vụ liên
quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và
kiểm soát việc vận chuyển và lưu trữ hàng hoá
từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối
cꢁng một cách hiệu quả và phꢁ hợp với yêu cầu
của khách hàng”. HĐDV logistics cũng phải
được ghi nhận dựa trên cách tiếp cận của
khái niệm về logistics nêu trên bởi hiện nay
chưa có quy định này, trong khi các hình
thức pháp lý của các hoạt động thương
mại khác lại được LTM ghi nhận. HĐDV
logistics nên được bổ sung dựa trên khái
niệm logistics “là sự thỏa thuận giữa một
bên gọi là bên cung ứng dịch vụ và một bên
quy định logistics là ngành nghề kinh
doanh có điều kiện; các luật chuyên ngành
điều chỉnh các dịch vụ cụ thể trong chuỗi
các dịch vụ giao nhận, logistics như trong
lĩnh vực đường bộ không quy định bắt
buộc thương nhân cung ứng dịch vụ phải
là doanh nghiệp. Vì vậy, để đảm bảo tính
nhất quán và đồng bộ của pháp luật, kiến
nghị sửa đổi quy định tại Điều 234 LTM
năm 2005 theo hướng bỏ khoản 1: “Thương
nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh
nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ
logistics theo quy định của pháp luật”.
Thứ ba, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, cắt
giảm các điều kiện kinh doanh bất hợp lý.
Luật Đầu tư năm 2020 thay thế cho Luật
Đầu tư năm 2014 đã không còn quy định
dịch vụ logistics là ngành nghề kinh doanh
có điều kiện. Đây là một bước tiến trong
quy định pháp lý về điều kiện kinh doanh
đối với ngành nghề này. Tuy nhiên, với tính
chất là một dịch vụ “tổng hợp”, vẫn còn
tồn tại nhiều điều kiện kinh doanh chưa
hợp lý, gây cản trở đến quyền gia nhập
thị trường cũng như các hoạt động kinh
doanh của thương nhân trong các dịch
gọi là bên sử dụng dịch vụ theo đó bên cung vụ cụ thể. Vì vậy, để đảm bảo môi trường
ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện một hoặc
nhiều dịch vụ logistics còn bên sử dụng dịch
vụ có nghĩa vụ thanh toán thꢁ lao dịch vụ đã
thỏa thuận”.
kinh doanh thông thoáng, thể hiện quan
điểm đổi mới về quản lý nhà nước trong
thương mại, vẫn cần tiếp tục rà soát, sửa
đổi và cắt giảm các điều kiện kinh doanh
gây cản trở đó. Ví dụ, cần tiếp tục cắt giảm
các điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ
vận tải đường bộ, các dịch vụ hỗ trợ vận tải
Thứ hai, cần thống nhất về tư cách pháp
lý của bên cung ứng dịch vụ logistics. LTM
quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics phải là doanh nghiệp. Tuy nhiên, đường bộ; các dịch vụ làm thủ tục hải quan.
Nghị định 163/2017/NĐ-CP và một số
văn bản pháp luật điều chỉnh các dịch vụ
cụ thể trong chuỗi các dịch vụ giao nhận,
logistics như trong lĩnh vực đường bộ
không quy định bắt buộc thương nhân
cung ứng dịch vụ phải là doanh nghiệp12.
Nghị định 10/2020/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 17/01/2020 quy định về kinh doanh
và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô
tô thay thế cho Nghị định 86/2014/NĐ-CP
ngày 10/9/2014 đã có nhiều bước tiến trong
doanh dịch vụ Logistics và Điều 59, 60 Thông tư
11ꢁĐiều 453 Bộ luật Thương mại Cộng hòa Liên bang Đức. 12/2020/TT-BGTVT ngày 29/5/2020 quy định về tổ
12ꢁ Xem khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2017/NĐ-CP chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch
của Chính phủ ngày 30/12/2017 quy định về kinh vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.
26 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
PHÙNG TRỌNG QUẾ
quy định về điều kiện kinh doanh vận tải thay cho “tiền kiểm” và áp dụng tổng hợp
đường bộ theo hướng thông thoáng và hợp nhiều công cụ quản lý khác nhau.
lý hơn. Tuy nhiên, vẫn còn đó những quy
định gây thêm gánh nặng hành chính cho
doanh nghiệp như quy định về cấp phép
phù hiệu, biển hiệu; hay trong dự thảo mới
đây Bộ Giao thông vận tải còn đề nghị có
thêm “chứng chỉ hành nghề lái xe kinh
doanh vận tải”… Về đại lý làm thủ tục hải
quan, đã có nhiều ý kiến cho rằng, cần loại
bỏ khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh
có điều kiện tại Luật Đầu tư năm 2014 vì
hoạt động này hầu như không tác động
đến lợi ích công cộng đến mức buộc phải
kiểm soát bằng điều kiện kinh doanh; nếu
phát sinh rủi ro thì chỉ gây ảnh hưởng đối
với chủ hàng, vốn là quan hệ pháp luật tư
và được giải quyết theo pháp luật tư. Tuy
nhiên, theo Luật Đầu tư năm 2020 thì đây
vẫn là một trong những ngành nghề kinh
doanh có điều kiện. Vì vậy, theo ý kiến
của tác giả, Nhà nước phải tiếp tục rà soát
và tiến tới cắt giảm nhiều điều kiện kinh
doanh hơn nữa. Việc rà soát và đánh giá
có thể dựa trên các tiêu chí cốt lõi như: Về
nguyên tắc, các ngành, nghề không liên
quan trực tiếp hoặc không chứng minh
được có ảnh hưởng trực tiếp tới các nội
dung quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của
cộng đồng (gọi chung là lợi ích công cộng)
hoặc đã được quản lý bằng quy chuẩn, tiêu
chuẩn hoặc chất lượng đầu ra của ngành
nghề đó do thị trường, khách hàng lựa
chọn, sàng lọc và quyết định sꢂ không được
xác định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện, Nhà nước sꢂ quản lý bằng
phương thức khác thay vì áp đặt điều kiện
kinh doanh13. Cần lưu ý, điều kiện kinh
doanh không phải là công cụ quản lý duy
nhất của Nhà nước để đạt được mục tiêu
quản lý. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay,
Pháp luật của Singapore không quy
định về điều kiện kinh doanh mà để
chính ngành logistics điều tiết hoạt động
của nó theo nguyên tắc “industry self-
regulation”. Còn theo pháp luật Nhật
Bản, điều kiện kinh doanh các loại dịch vụ
logistics được quy định theo từng bộ luật
riêng cho các lĩnh vực trong ngành logistics
(Tatsuyuki Kose, 2013)14.
Thứ tư, bổ sung các cơ chế, chính sách
khuyến khích, đặc biệt có cơ chế đặc thù
đối với hợp tác xã kinh doanh vận tải.
Bên cạnh các quy định về điều kiện kinh
doanh đối với chủ thể cung ứng dịch vụ,
pháp luật cũng cần phải có các chính sách
hỗ trợ, khuyến khích đặc thù đối với các
chủ thể cung ứng dịch vụ GNVT, logistics
nói chung hay GNVT đường bộ nói riêng.
Điều này xuất phát từ vai trò quan trọng
của dịch vụ này và thực trạng manh mún,
quy mô nhỏ lꢃ mà các doanh nghiệp cung
ứng dịch vụ ở Việt Nam phần đông là các
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vì vậy, cùng
với chính sách hỗ trợ chung đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa thì pháp luật cũng cần
có những quy định cụ thể về chính sách đặc
thù đối với các công ty GNVT, logistics.
Trong lĩnh vực vận tải đường bộ, Nghị
định 163/2017/NĐ-CP và các văn bản
pháp luật về hướng dẫn thành lập doanh
nghiệp, hợp tác xã tại Việt Nam cần xem
xét xác định mô hình hợp tác xã là một
chủ thể kinh doanh riêng biệt, kèm hướng
dẫn cụ thể rõ ràng về hoạt động kinh
doanh. Qua đó, thúc đẩy việc thành lập
các hợp tác xã vận tải đường bộ thông
qua các hoạt động tạo điều kiện cấp tín
dụng cho thiết lập ban đầu; giảm thuế
những năm đầu; hỗ trợ chuyển giao công
cần đẩy mạnh hơn nữa việc thay đổi tư duy nghệ; công tác đào tạo… Có thể tham khảo
quản lý nhà nước theo hướng “hậu kiểm” những kinh nghiệm của một số quốc gia
13ꢁ VCCI, Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh 14ꢁ VLI, Báo cáo Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ
2020, tr. 32
logistics và đề xuất sửa đổi NĐ 140/2007/NĐ-CP, tr. 23
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 27
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH...
như Phillipines với Văn phòng hợp tác Kꢀ, Singapore hay Thái Lan là những minh
xã vận tải (OTC, the Office of Transport chứng cụ thể để thúc đẩy các công ty môi
giới. Hoa Kꢀ có một trong những mạng lưới
dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa đường
bộ mạnh nhất trên thế giới. Theo doanh thu
bằng USD năm 2018, 05 công ty môi giới
lớn nhất thế giới đều có trụ sở ở Hoa Kꢀ.
Việc đăng ký công ty môi giới thuộc phạm
vi quản lý của Cục An toàn Vận tải Cơ giới
Liên bang (FMCSA)16.
Dịch vụ GNVT đường bộ nói riêng và
GNVT hay logistics nói chung ngày càng
giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế của bất kꢀ quốc gia nào. Việc hoàn
thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh
dịch vụ GNVT đường bộ cần phải dựa trên
các cơ sở về điều kiện kinh tế - xã hội, giai
đoạn phát triển của ngành, chế độ pháp lý
cũng như các chính sách của từng quốc gia./.
Cooperatives) là cơ quan chính phủ của
Philippines chịu trách nhiệm thực hiện các
quy tắc và quy định điều chỉnh hoạt động
thúc đẩy, tổ chức, đưa ra các quy định, giám
sát, đăng ký và phát triển các hợp tác xã
vận tải được Sở Giao thông phê duyệt. Ở
Malaysia, năm 2008 đã thành lập Ủy ban
Hợp tác xã Malaysia (SKM). Đây là cơ quan
chủ quản có nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển
ổn định của lĩnh vực hợp tác xã. SKM cung
cấp 05 dịch vụ chính, bao gồm: Đăng ký
thành lập hợp tác xã, hỗ trợ nguồn vốn đầu
tư, hỗ trợ không hoàn lại, kiểm soát dịch vụ,
dịch vụ tư vấn kiểm toán và pháp lý15.
Với các công ty môi giới, để thúc đẩy
hoạt động kết nối cung – cầu tốt hơn, cũng
cần phải có các chính sách khuyến khích. Cụ
thể, các quy định đề xuất: Giấy phép kinh
doanh truyền thống do cơ quan có thẩm
quyền cấp nên được hỗ trợ bởi giấy phép
môi giới, cấp mới về thanh toán phí hàng
năm; để đảm bảo tin cậy, bên môi giới phải
ký gửi một khoản tiền vào quỹ bảo lãnh/
quỹ tín thác, phòng trường hợp một trong
hai bên (ví dụ: Chủ hàng hoặc tài xế xe tải)
vỡ nợ; người môi giới phải có không gian
văn phòng đã được đăng ký. Các yêu cầu
ký gửi tiền bảo lãnh và đăng ký văn phòng
làm việc sꢂ giúp lọc bớt các doanh nghiệp
quy mô nhỏ và đơn vị dịch vụ môi giới một
người, vốn rất phổ biến tại Việt Nam nhưng
không có đủ tiềm lực về kinh tế. Các giải
pháp hỗ trợ: Cung cấp chính sách ưu đãi
thuế doanh nghiệp cho các công ty môi giới;
cho phép các công ty 100% vốn nước ngoài
tham gia lĩnh vực môi giới vận chuyển hàng
hóa để khuyến khích đầu tư từ các công ty
con hoặc chi nhánh của các công ty toàn
cầu; khuyến khích các nhà môi giới nhỏ tập
hợp thành hợp tác xã để đạt được hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển,
Logistics những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,
Đại học Kinh tế quốc dân (2011);
2. Đỗ Quốc Dũng, Giao nhận vận tải và bảo hiểm,
Nxb Tài chính (2015);
3. Harald Gleissner, J. Christian Femerling,
Logistics- Basic – Exercise – Case study, (2013);
4. Nguyễn Như Tiến, Logistics - Khả năng ứng
dụng và phát triển logistics trong kinh doanh dịch vụ vận
tải giao nhận Việt Nam, Nxb Giao thông vận tải (2006);
5. Joan Jane and Alfonso de Ochoa, The handbook
of Logistics Contract: A practical Guide to a Growing
Field, Palgrave Macmillan, (2006);
6. Đào Thị Cấm, Hợp đồng dịch vụ logistics theo
pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ (2020);
7. Viện nghiên cứu phát triển logistics Việt Nam
(VLI), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ
logistics và đề xuất sửa đổi NĐ 140/2007/NĐ-CP, (2016);
8. World Bank, Tăng cưꢀng ngành vận tải hàng hóa
đưꢀng bộ hướng tới giảm chi phí logistics và phát thải khí
nhà kính, (2019);
9. Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
(VCCI), Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh, (2020);
10. Cộng hòa Liên bang Đức, Bộ luật Thương
từ quy mô. Các bài học kinh nghiệm từ Hoa mại, quyển thứ 4.
15ꢁ Ngân hàng thế giới (World Bank - WB), Tăng cưꢀng 16ꢁ Ngân hàng thế giới (World Bank - WB), Tăng cưꢀng
ngành vận tải hàng hóa đưꢀng bộ, tr. 130.
ngành vận tải hàng hóa đưꢀng bộ, tr. 132.
28 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_phap_luat_ve_dieu_kien_kinh_doanh_dich_vu_giao_nh.pdf

