Giao quyền trong giải quyết khiếu nại theo pháp luật hiện hành
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
GIAO QUYỀN TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Bùi Thị Đào*
* PGS.TS. Trường Đại học Luật Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Giao quyền, giải quyết
khiếu nại, vi phạm pháp luật,
tổ chức đối thoại, xác minh nội
dung khiếu nại.
Trong giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có
thể giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số thẩm quyền
được pháp luật quy định giao cho mình. Điều này là cần thiết nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết khiếu nại. Luật Khiếu nại năm 2011
và Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy
định về một số quyền mà người giải quyết khiếu nại có thể giao cho người
khác thực hiện, đồng thời quy định những hành vi vi phạm pháp luật liên
quan đến giao quyền. Tuy nhiên, một số quy định trong các văn bản này
vẫn còn bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 29/3/2021
: 09/4/2021
: 23/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Assignation of rights;
complaint settlements; violation
of the law, dialogues arrangment,
verification of complaints.
For settlement of complaints, the person authorized to settle complaints
may assign other agencies, organizations or individuals to exercise
certain rights assigned to him/her by law. This assignation is necessary
to facilitate the settlement of complaints. The Law on Complaints of
2011 and Decree No. 124/2020/ND-CP dated October 19, 2020 of the
Government stipulate a number of rights that the authorized persons of
complaint settlement can assign to others to exercise, and at the same
time stipulate violations of the law related to the assignment of rights.
However, a number of provisions in these documents are still inadequate
and need to be further improved.
Article History:
Received
Edited
: 29 Mar. 2021
: 09 Apr. 2021
: 23 Apr. 2021
Approved
1. Quan niệm về giao quyền
cá nhân đó. Hiệu lực, hiệu quả của việc sử
dụng thẩm quyền không chỉ phụ thuộc vào
Một trong những vấn đề quan trọng nhất
của bộ máy nhà nước là vấn đề thẩm quyền
của các cơ quan, cá nhân trong bộ máy đó.
Nói đến thẩm quyền là nói đến việc ai (cơ
quan, cá nhân nào) được sử dụng quyền lực
nhà nước khi nào, đối với ai, sử dụng đến
giới hạn nào, sử dụng để làm gì... Để quyền
lực nhà nước được sử dụng hiệu quả thì
thẩm quyền của mỗi cơ quan, cá nhân phải
hoàn toàn phù hợp với khả năng thực hiện
thẩm quyền được quy định của cơ quan,
sự hợp lý, rõ ràng, cụ thể của các quy định
về thẩm quyền của từng cơ quan, cá nhân
mà còn phụ thuộc vào bộ máy, con người,
các nguồn lực phù hợp cho việc thực hiện
thẩm quyền đó. Mỗi cơ quan, cá nhân trong
bộ máy nhà nước không tồn tại, hoạt động
độc lập mà có mối liên hệ với nhiều cơ
quan, cá nhân khác ở những mức độ khác
nhau để đảm bảo quyền lực được sử dụng
thống nhất, hài hòa, đúng đắn. Điều đó cũng
có nghĩa là, khi quy định thẩm quyền cho
Số 13(437) - T7/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
một cơ quan, cá nhân nhất định thì không
chỉ cần quan tâm đến cơ quan, cá nhân đó
có thể sử dụng thẩm quyền được trao một
cách tốt nhất hay không mà còn phải xem
xét thẩm quyền của mỗi cơ quan, cá nhân
trong mối tương quan với thẩm quyền của
cơ quan, cá nhân khác. Vì vậy, một cách
khái quát có thể nói, khi pháp luật quy định
thẩm quyền của một cơ quan, cá nhân nhất
định thì có nghĩa đó là chủ thể có khả năng
tốt nhất trong việc thực hiện thẩm quyền
được trao. Tuy nhiên, ở mức độ chi tiết hơn,
pháp luật có tính khái quát nên không phải
luôn luôn phù hợp với mọi điều kiện, hoàn
cảnh, tình huống cụ thể. Cho nên, pháp
luật cũng cho phép các cơ quan, cá nhân
có thẩm quyền được phép chuyển giao một
phần thẩm quyền của mình cho chủ thể khác
trong trường hợp thích hợp khi đủ điều kiện
nhằm đảm bảo thực hiện quyền lực hiệu quả
hơn. Việc chuyển giao thẩm quyền thường
được thực hiện thông qua một số phương
thức sau:
- Giao quyền là trường hợp người có
thẩm quyền chuyển một phần quyền hạn
của mình cho người khác thực hiện khi
được pháp luật quy định. Người được giao
quyền không được giao quyền tiếp3.
Như vậy, giao quyền rất giống với ủy
quyền. Trong các quy định của pháp luật
thì ủy quyền được nhắc đến nhiều hơn giao
quyền. Giao quyền (cũng như phân cấp, ủy
quyền nói chung) là cần thiết trong quản
lý. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng, giao
quyền là kỹ năng cần thiết để quản lý hiệu
quả vì quản lý được hiểu là tạo thành quả
thông qua người khác. Nếu giao quyền
được thực hiện tốt thì không chỉ tạo điều
kiện cho người giao quyền có thể tập trung
vào những công việc quan trọng hơn mà
còn có thể phát huy tốt hơn năng lực của
người được giao quyền; vấn đề cần quan
tâm chỉ là giao quyền cho ai, giao quyền
gì và kiểm soát việc thực hiện quyền được
giao thế nào để đảm bảo việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn được giao tốt hơn so
với trường hợp không giao quyền4.
- Phân cấp là trường hợp cơ quan cấp
trên chuyển giao cho cơ quan cấp dưới thực
hiện liên tục, thường xuyên một hoặc một
số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền
của mình. Cơ quan được phân cấp có thể
phân cấp tiếp với sự đồng ý của cơ quan
phân cấp cho mình1.
“Giao quyền” (theo nghĩa chuyển giao
quyền hạn của mình cho người khác) được
quy định cụ thể trong Luật Xử lý vi phạm
hành chính năm 2012. Trong khi đó, Luật
Khiếu nại năm 2011 thì chỉ đơn giản gọi là
“giao” nhưng thực chất chính là giao quyền,
tức là người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại chuyển giao cho chủ thể khác thực hiện
một số thẩm quyền được pháp luật quy định
giao cho mình.
- Ủy quyền là trường hợp cơ quan cấp
trên chuyển giao cho cơ quan cấp dưới hoặc
cơ quan, tổ chức khác thực hiện một, một số
nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng
thời gian nhất định kèm theo điều kiện cụ
thể. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền không
được ủy quyền tiếp2.
1 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
2 Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
3 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020.
4
SprinGO Consultant, Bài hꢀc vꢁ giao viꢂc, ꢃy quyꢁn hiꢂu quꢄ, https://springo.vn/bai-hoc-ve-giao-viec-va-
uy-quyen-hieu-qua.
16
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Các trường hợp giao quyền trong giải
quyết khiếu nại
quan được thực hiện khi yêu cầu của người
khiếu nại khác với kết quả xác minh nội
dung khiếu nại. Đối với thủ tục giải quyết
khiếu nại lần hai thì tổ chức đối thoại là
khâu bắt buộc. Mục đích đối thoại là để làm
rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người
khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại. Tổ
chức đối thoại tạo cơ hội để người khiếu
nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức
cá nhân có liên quan cung cấp thông tin,
tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung
khiếu nại, bày tỏ nguyện vọng, lập luận bảo
vệ quan điểm, ý kiến, quyết định, hành vi
của mình. Đây cũng là cơ hội để người giải
quyết khiếu nại hiểu rõ hơn, khách quan
hơn về nội dung khiếu nại.
- Xác minh, kết luận nội dung khiếu nại
Việc xác minh nội dung khiếu nại được
thực hiện nếu sau khi kiểm tra hành vi hành
chính, quyết định hành chính, quyết định kỷ
luật bị khiếu nại mà vẫn không đủ cơ sở để
kết luận nội dung khiếu nại. Khi đó, việc
xác minh nội dung khiếu nại có mục đích
tìm kiếm, đánh giá đầy đủ, chính xác thông
tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung
khiếu nại, qua đó kết luận nội dung khiếu
nại khách quan, chính xác. Người giải quyết
khiếu nại có thể tự mình xác minh, kết luận
nội dung khiếu nại hoặc giao cho cơ quan
thanh tra nhà nước cùng cấp hay cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác xác minh, kết luận nội
dung khiếu nại5. Khi được giao quyền xác
minh, người được giao quyền có thẩm quyền
như người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, gồm: Ban hành Quyết định xác minh nội
dung khiếu nại6; kiểm tra, xác minh tại địa
điểm phát sinh khiếu nại hay thông qua các
tài liệu, chứng cứ; yêu cầu người khiếu nại,
người bị khiếu nại, người có liên quan cung
cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ; yêu cầu
người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có
liên quan giải trình về nội dung liên quan đến
khiếu nại; triệu tập người khiếu nại, người bị
khiếu nại, người có liên quan…7
Luật Khiếu nại năm 2011 không quy
định người giải quyết khiếu nại giao quyền
tổ chức đối thoại cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác8. Tuy nhiên, khoản 1 Điều
28 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày
19/10/2020 (Nghị định số 124) quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
Khiếu nại năm 2011 chia việc tổ chức đối
thoại lại thành hai trường hợp sau:
Thꢅ nhꢆt, trường hợp người giải quyết
khiếu nại phải trực tiếp tổ chức đối thoại gồm:
(1) Người giải quyết khiếu nại lần hai là
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám
đốc sở hoặc tương đương;
- Tổ chức đối thoại
(2) Người giải quyết khiếu nại lần hai là
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với
khiếu nại phức tạp9.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần
đầu, việc tổ chức đối thoại với người khiếu
nại, người bị khiếu nại, người có quyền,
nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức có liên
5 Điều 29, Điều 38 Luật Khiếu nại năm 2011.
6 Điều 18 Nghị định số 124 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại năm 2011.
7 Điều 29 Luật Khiếu nại năm 2011.
8 Điều 30, Điều 39, Điều 53 Luật Khiếu nại năm 2011.
9 Điều 28 Nghị định số 124: Khiếu nại phức tạp là nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung, nhiều ý kiến
khác nhau của các cơ quan có thẩm quyền về biện pháp giải quyết, người khiếu nại có thái độ gay gắt, dư luận
xã hội quan tâm, vụ việc ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Số 13(437) - T7/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Thꢅ hai, đối với các trường hợp khác,
người giải quyết khiếu nại có thể phân công
cấp phó của mình hoặc thủ trưởng cơ quan
chuyên môn cùng cấp hoặc thủ trưởng cơ
quan, đơn vị trực thuộc được giao nhiệm vụ
xác minh đối thoại với người khiếu nại.
người khiếu nại, cho xã hội, làm giảm hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước10. Vì vậy, đôn
đốc, theo dõi, kiểm tra việc thi hành quyết
định giải quyết khiếu nại cần được tiến hành
sát sao nhằm đảm bảo quyết định giải quyết
khiếu nại được thi hành. Luật Khiếu nại năm
2011 không quy định người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại phải tự mình hay có thể
giao quyền cho cơ quan, tổ chức khác đôn
đốc, theo dõi, kiểm tra việc thi hành quyết
định giải quyết khiếu nại có hiệu lực. Trong
khi đó, Nghị định số 124 quy định rõ vấn đề
này tại khoản 2 Điều 21.
Quy định trên đây cho thấy, tất cả các
trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu,
người giải quyết khiếu nại phải trực tiếp tổ
chức đối thoại, không được giao quyền tổ
chức đối thoại cho bất cứ ai. Trường hợp
giải quyết khiếu nại lần hai, tùy thuộc người
giải quyết khiếu nại giữ chức danh nào và
tính chất vụ việc khiếu nại như thế nào mà
người giải quyết khiếu nại phải tự mình
trực tiếp tổ chức đối thoại hay có thể giao
cho chủ thể khác tổ chức đối thoại. Trong
trường hợp được phép giao thì cơ quan, đơn
vị, cá nhân được giao tổ chức đối thoại có
quyền giống như người giải quyết khiếu nại
với vai trò là người chủ trì đối thoại.
3. Trách nhiệm liên quan đến giao quyền
trong giải quyết khiếu nại
Luật Khiếunạikhông trựctiếpquyđịnhvề
trách nhiệm của người giao quyền và người
được giao quyền trong giải quyết khiếu nại.
Tuy nhiên, theo nguyên lý chung, người giao
quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mình
giao và chịu trách nhiệm về kết quả của việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó; người
được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước
người giao quyền về việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn mà mình được giao11. Điều
này cũng được thể hiện gián tiếp thông qua
các quy định về xử lý vi phạm trong Nghị
định số 124. Theo Nghị định này, người được
giao quyền nếu có hành vi vi phạm pháp luật
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có
thể bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm
hình sự, phải bồi thường, bồi hoàn.
- Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thi
hành quyết định giải quyết khiếu nại có
hiệu lực pháp luật
Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại
có hiệu lực pháp luật là khâu quan trọng, có
ý nghĩa quyết định giá trị thực tế của toàn
bộ quá trình giải quyết khiếu nại; đặc biệt,
trong trường hợp khiếu nại đúng và theo
quyết định giải quyết khiếu nại thì người
khiếu nại được khôi phục quyền, lợi ích đã
bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành
vi hành chính bị khiếu nại, nếu quyết định
giải quyết khiếu nại không được thi hành thì
các quyền, lợi ích đã bị xâm hại đó không có
cơ hội để khôi phục. Trên thực tế, cũng có
nhiều trường hợp quyết định giải quyết khiếu
nại không được thi hành đã gây bức xúc cho
Nghị định số 124 trực tiếp quy định một
số hành vi vi phạm kỷ luật và hình thức kỷ
luật đối với người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại và người được giao nhiệm vụ xác
minh nội dung khiếu nại.
10 Nguyễn Thị Thúy Hồng, luận án tiến sĩ luật học “Thi hành quyết định giꢄi quyết khiếu nꢇi hành chꢈnh từ
thꢉc tiễn tỉnh Phú Yên”, Học viện Khoa học xã hội, 2019, tr.117-120.
11 Xem thêm Điều 13, Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
18
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Các hành vi vi phạm kỷ luật của người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại gồm12:
- Bao che cho người bị khiếu nại;
- Đe dọa trả thù, trù dập người khiếu nại,
người được ủy quyền khiếu nại, người bị
khiếu nại;
- Sách nhiễu, cản trở, gây khó khăn,
phiền hà cho người khiếu nại, người được
ủy quyền khiếu nại, người bị khiếu nại;
- Cố ý bỏ qua bằng chứng, bỏ lọt thông
tin, tài liệu hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ việc
trong quá trình xác minh nội dung khiếu nại;
- Bao che cho người bị khiếu nại;
- Đe dọa trả thù, trù dập người khiếu nại,
người được ủy quyền khiếu nại, người bị
khiếu nại;
- Cố ý báo cáo sai lệch kết quả xác minh
nội dung khiếu nại dẫn đến quyết định giải
quyết khiếu nại sai gây mất ổn định nghiêm
trọng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc
gây hậu quả chết người.
- Cố ý không thụ lý đối với vụ việc thuộc
thẩm quyền của mình khi đủ điều kiện thụ lý;
- Cố ý bỏ qua bằng chứng, bỏ lọt thông
tin, tài liệu hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ việc;
Các hành vi nêu trên là những vi phạm
được thực hiện trong quá trình người được
giao quyền thực hiện thẩm quyền được giao.
- Cố ý không ban hành quyết định giải
quyết khiếu nại hoặc cố ý ban hành quyết
định giải quyết khiếu nại trái pháp luật gây
mất ổn định nghiêm trọng về trật tự, an toàn
xã hội hoặc gây hậu quả chết người;
Nghị định này không quy định hành vi
vi phạm kỷ luật đối với người được giao
thực hiện việc tổ chức đối thoại và người
được giao theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc
thi hành quyết định giải quyết khiếu nại.
- Vi phạm nghiêm trọng thủ tục giải
quyết khiếu nại gây mất ổn định nghiêm
trọng về an ninh, trật tự xã hội hoặc gây hậu
quả chết người.
4. Nhận xét và kiến nghị
Thꢅ nhꢆt, quy định cꢃa Nghị định sꢊ 124
không thꢊng nhꢆt vꢋi Luꢌt Khiếu nꢇi năm 2011.
Như đã đề cập ở phần trên, theo quy định
của Nghị định số 124, có ba trường hợp,
trong quá trình giải quyết khiếu nại, người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thể
tự mình thực hiện hoặc giao cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác thực hiện. Trong khi đó,
Luật Khiếu nại năm 2011
Tất cả các hành vi nêu trên đều là hành vi
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vi
phạm khi trực tiếp thực hiện thẩm quyền của
mình trong quá trình giải quyết khiếu nại.
Không có hành vi nào trong số đó là hành
vi của người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại với tư cách là người giao quyền cho
người khác thực hiện thẩm quyền của mình.
Không trực tiếp quy định người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại có thẩm quyền
này. Để bảo đảm tính thống nhất của hệ
thống pháp luật, tác giả cho rằng, cần sửa
đổi Nghị định số 124 cho phù hợp với Luật
Khiếu nại năm 2011. Tuy nhiên, trên thực
tế, việc chuyển giao thẩm quyền như quy
định của Nghị định số 124 là hợp lý. Vì vậy,
Các hành vi vi phạm kỷ luật của người
được giao nhiệm vụ xác minh nội dung
khiếu nại gồm13:
- Sách nhiễu, cản trở, gây khó khăn,
phiền hà cho người khiếu nại, người được
ủy quyền khiếu nại, người bị khiếu nại;
12 Điều 40 Nghị định số 124.
13 Điều 41 Nghị định số 124.
Số 13(437) - T7/2021
19
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
cần sửa đổi Luật Khiếu nại năm 2011 theo
hướng cho phép trong ba trường hợp nêu
trên thì người có thẩm quyền được giao cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện
như quy định của Nghi định số 124.
Hai là, thiếu mꢏt sꢊ nhóm chꢃ thꢑ thꢉc
hiꢂn hành vi vi phꢇm kỷ luꢌt. Nghị định số
124 hoàn toàn không quy định hành vi vi
phạm kỷ luật của người được giao quyền
tổ chức đối thoại, người được giao quyền
đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thi hành
quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực
pháp luật.
Thꢅ hai, hành vi vi phꢇm kỷ luꢌt liên
quan đến giao quyꢁn trong giꢄi quyết khiếu
nꢇi chưa đưꢍc quy định đꢎy đꢃ.
Ba là, thiếu mꢏt sꢊ hành vi vi phꢇm cꢃa
ngưꢐi đưꢍc giao quyꢁn. Nghị định số 124
không chỉ không quy định hành vi vi phạm
kỷ luật của người được giao quyền tổ chức
đối thoại, đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc
thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có
hiệu lực pháp luật mà quy định về hành vi
của người được giao quyền xác minh nội
dung khiếu nại cũng không đầy đủ. Chẳng
hạn, hành vi thực hiện không đúng giới
hạn thẩm quyền hay không thực hiện thẩm
quyền được giao (đặc biệt là khi gây hậu
quả nghiêm trọng), hành vi làm sai lệch hồ
sơ gây hậu quả nghiêm trọng…
Trong nhiều trường hợp, giao quyền là
cần thiết nhưng giao quyền luôn phải đi kèm
với kiểm soát việc giao quyền và thực hiện
quyền được giao. Một trong những nội dung
bảo đảm giao quyền và thực hiện quyền
được giao đúng đắn, hiệu quả là quy định các
hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến giao
quyền. Nghị định số 124 dành Chương VI
quy định về xử lý vi phạm pháp luật. Chương
này có 4 điều: Điều 39. Nguyên tắc xử lý
hành vi vi phạm; Điều 40. Xử lý kỷ luật đối
với người được giao nhiệm vụ xác minh nội
dung khiếu nại; Điều 41. Xử lý kỷ luật đối
với người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại; Điều 42. Xử lý kỷ luật đối với người có
trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định giải
quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Nội
dung những quy định này cho thấy:
Măc dù Nghị định số 124 dẫn chiếu áp
dụng quy định của pháp luật về xử lý kỷ
luật cán bộ, công chức, viên chức đối với
những nội dung về xử lý kỷ luật chưa được
quy định tại Nghị định này14. Tuy nhiên,
việc Nghị định số 124 không quy định
những hành vi nêu trên cũng là sự thiếu
sót của pháp luật. Bởi lẽ, Nghị định số 124
đã dành hẳn một chương quy định về xử
lý vi phạm pháp luật thì cần phải quy định
những hành vi vi phạm mang tính chất
riêng trong giải quyết khiếu nại. Điều này
vừa đảm bảo kỹ thuật xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật, vừa thuận tiện cho
việc xử lý vi phạm pháp luật và quan trọng
hơn là, khi quy định trách nhiệm rõ ràng
thì sẽ góp phần kiểm soát tốt hơn việc giao
quyền và thực hiện quyền được giao trong
Mꢏt là, thiếu hành vi vi phꢇm kỷ luꢌt cꢃa
ngưꢐi giao quyꢁn. Theo quy định của Điều
41 Nghị định số 124, các hành vi vi phạm
kỷ luật của người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại đều là hành vi được thực hiện khi
họ trực tiếp thực hiện thẩm quyền của mình,
không có hành vi nào được thực hiện với
tư cách là người giao quyền; chẳng hạn:
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
giao quyền cho người không đủ điều kiện
thực hiện thực hiện thẩm quyền được giao;
người được giao quyền thực hiện không
đúng thẩm quyền được giao gây hậu quả
nghiêm trọng (trường hợp này người giao
quyền vẫn phải chịu trách nhiệm)….
giải quyết khiếu nại
14 Xem Điều 39 Nghị định số 124.
20
Số 13(437) - T7/2021
Bạn đang xem tài liệu "Giao quyền trong giải quyết khiếu nại theo pháp luật hiện hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_quyen_trong_giai_quyet_khieu_nai_theo_phap_luat_hien_ha.pdf

