Hoàn thiện các quy định của pháp luật về các chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
HOꢀN THIꢁN CꢂC QUY ĐỊNH CꢃA PHꢂP LUẬT  
VỀ CꢂC CHẾ Đꢄ BẢO HIꢅM THẤT NGHIꢁP Ở NƯỚC TA HIꢁN NAY  
Trương Thị Thu Hiền*  
* TS. Trường Đai học Kinh tế - Đai học Đà Nẵng  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Bảo hiểm thất nghiệp,  
chế độ bảo hiểm thất nghiệp.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích tình hình thực hiện các chế  
độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm năm 2013,  
chỉ ra những bất cập trong thực hiện quy định của pháp luật và đề xuất  
kiến nghị hoàn thiện nhằm phát huy vai trò của các chế độ bảo hiểm thất  
nghiệp trong điều kiện Việt Nam hiện nay.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/4/2021  
: 12/5/2021  
: 16/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Withinthescopeofthisarticle,theauthorprovidesanalysisofthepractical  
performance of unemployment insurance under the provisions of the  
Law on Employment of 2013, also points out the shortcomings in the  
enforcement of the provisions of the law and proposes recommendations  
in order to promote the role of unemployment insurance policy in  
Vietnam's current conditions.  
Keywords:  
insurance;  
insurance policy.  
Unemployment  
unemployment  
Article History:  
Received  
Edited  
: 20 Apr. 2021  
: 12 May. 2021  
: 16 May. 2021  
Approved  
Theo quy định của Luật Việc làm năm  
2013 (Luật Việc làm), có bốn chế độ mà  
người lao động tham gia bảo hiểm thất  
nghiệp được hưởng khi đủ điều kiện, gồm:  
trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu  
việc làm; hỗ trợ học nghề và hỗ trợ đào  
tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề cho  
người lao động1. Ngoài bốn chế độ trên,  
người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được  
hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định  
của pháp luật về bảo hiểm y tế do tổ chức  
bảo hiểm xã hội đóng. Các chế độ này không  
những trực tiếp hỗ trợ người lao động khắc  
phục rủi ro do tình trạng thất nghiệp mang  
lại mà còn thể hiện được vai trò phòng ngừa  
thông qua chế độ hỗ trợ người sử dụng lao  
động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng  
nghề để gián tiếp duy trì việc làm cho người  
lao động. Ngoài ra, việc tư vấn, giới thiệu  
việc làm, hỗ trợ học nghề còn được thực  
hiện cho cả đối tượng không đủ điều kiện  
hưởng trợ cấp thất nghiệp, đóng bảo hiểm  
thất nghiệp một khoảng thời gian nhất định  
và có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ học nghề.  
1 Điều 42 Luật Việc làm năm 2013.  
26  
Số 12(436) - T6/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
1. Tình hình thực hiện quy định của  
Luật Việc làm về các chế độ bảo hiểm  
thất nghiệp  
Số người đề nghị hưởng trợ cấp thất  
nghiệp hàng năm đều tăng, năm sau cao hơn  
năm trước do số lượng người tham gia bảo  
hiểm thất nghiệp tăng dần. Riêng 10 tháng  
đầu năm 2020, do ảnh hưởng bởi tình hình  
dịch bệnh, số người đề nghị hưởng trợ cấp  
thất nghiệp tăng cao nhất từ trước đến nay  
với 983.241 người, chiếm tỷ lệ 7,56% tổng  
số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và  
1,85% lực lượng lao động (Bảng 1).  
Luật Việc làm có hiệu lực từ ngày  
1/1/2015. Từ khi Luật có hiệu lực cho đến  
nay, việc thực hiện các chế độ bảo hiểm thất  
nghiệp trên thực tế đã đạt được nhiều kết quả  
đáng khích lệ, thể hiện ở những mặt sau đây:  
- Về thực hiện chế độ trợ cấp thất nghiệp  
Bảng 1. Số người, lượt người được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp  
giai đoạn 2015-2020  
Đơn vị tính: Người, lượt người  
Số đơn vị sử dụng  
lao động được hỗ trợ  
đào tạo, nâng cao kỹ  
năng nghề cho người  
lao động  
Số lượt  
người được  
tư vấn, giới  
thiệu việc  
làm  
Số người  
có quyết  
định hưởng  
trợ cấp thất  
nghiệp  
Số người  
được giới  
thiệu việc  
làm  
Số người nộp  
hồ sơ hưởng  
trợ cấp thất  
nghiệp  
Chỉ tiêu  
Số người  
được hỗ trợ  
học nghề  
Năm  
-
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
125.562  
215.498  
342.145  
397.338  
471.206  
473.791  
910.448  
1.113.933  
1.390.429  
1.662.827  
-
270  
1.036  
162.711  
295.416  
432.356  
464.573  
516.483  
527.332  
592.440  
680.310  
773.387  
849.702  
156.765  
289.085  
421.067  
454.839  
530.134  
526.279  
585.669  
671.789  
763.573  
835.922  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
17.240  
70.656  
4.763  
106.600  
128.894  
119.590  
147.278  
168.719  
179.092  
187.796  
10.610  
20.393  
24.378  
28.537  
34.723  
37.977  
41.906  
10 tháng đầu  
năm 2020  
1.842.518  
183.421  
22.149  
983.241  
935.739  
-
Tổng cộng  
8.945.695 1.309.286  
226.742  
6.277.951  
6.170.861  
(Nguồn: Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm  
và tình hình thực hiện” của Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội  
tại Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tổ chức  
tại Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 18/11/2020)  
Tính đến 31/10/2020, tổng số người có nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp,  
quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là chiếm tỷ lệ 47,4% tổng số người tham gia  
6.170.861 người, chiếm 98,3% số người bảo hiểm thất nghiệp và chiếm tỷ lệ 11,6%  
Số 12(436) - T6/2021  
27  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó, tỷ lệ người hưởng trợ cấp thất nghiệp trong tổng  
số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và tỷ lệ người hưởng trợ cấp thất nghiệp trong lực  
lượng lao động có xu hướng tăng lên hàng năm (Biểu đồ 1).  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ người được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong tổng số người thất nghiệp  
và người tham gia bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2020  
(Nguồn: Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm  
và tình hình thực hiện” của Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội  
tại Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tổ chức tại Bà  
Rịa - Vũng Tàu ngày 18/11/2020; Niên giám Thống kê từ năm 2010 đến tháng 10 năm 2020  
của Tổng cục Thống kê)  
- Về thực hiện chế độ tư vấn, giới thiệu  
việc làm  
chiếm 11% so với tổng số người được  
tư vấn, giới thiệu việc làm và tăng hơn  
13 lần so với số người được tư vấn, giới  
thiệu việc làm năm 2010.  
Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm  
ngày càng được các Trung tâm dịch vụ  
việc làm chú trọng với số lượng người  
được hỗ trợ ngày càng tăng. Năm 2010,  
chỉ có 125.562 người được tư vấn, giới  
thiệu việc làm, đến năm 2015 là 463.859  
người (tăng 3,6 lần so với năm 2010),  
trong đó số người được giới thiệu việc  
làm năm 2015 là 115.199 người; năm  
2019, số người được giới thiệu việc làm  
Tính đến 31/10/2020 có tổng cộng  
8.945.695 người được tư vấn, giới thiệu  
việc làm. Trong số này có 1.309.286  
người được giới thiệu việc làm, chiếm tỷ  
lệ 15%. Số lượng người thất nghiệp tham  
gia bảo hiểm thất nghiệp được tư vấn,  
giới thiệu việc làm đều tăng qua các năm  
(Biểu đồ 2).  
28  
Số 12(436) - T6/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Biểu đồ 2. Số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm giai đoạn 2010-2020  
(Nguồn: Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm  
và tình hình thực hiện” của Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại  
Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tổ chức tại  
Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 18/11/2020)  
Biểu đồ 2 cho thấy, từ năm 2016 đến nay,  
số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc  
làm tăng đáng kể so với các năm trước  
(năm 2016: số lượt người được tư vấn,  
giới thiệu việc làm gấp hơn 1,53 lần so với  
số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất  
nghiệp và gấp hơn 1,55 lần tổng số người  
được hưởng trợ cấp thất nghiệp; năm 2017:  
số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc  
làm gấp hơn 1,64 lần so với số người nộp  
hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp và gấp  
hơn 1,66 lần tổng số người được hưởng trợ  
cấp thất nghiệp,…). Nguyên nhân là do quy  
định mới của Luật Việc làm cho phép bất  
kỳ người lao động đang tham gia bảo hiểm  
thất nghiệp nào cũng được tư vấn, giới thiệu  
việc làm trong mọi trường hợp bị chấm dứt  
hợp đồng lao động/ hợp đồng làm việc và  
có nhu cầu tìm kiếm việc làm, thay cho quy  
định cũ chỉ áp dụng việc hỗ trợ tư vấn, giới  
thiệu việc làm đối với những người lao động  
đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.  
Hiện nay, các Trung tâm Dịch vụ việc  
làm, đặc biệt là ở Hà Nội và Thành phố Hồ  
Chí Minh đã sử dụng nhiều hình thức tư vấn  
phù hợp với người lao động: tư vấn trực  
tiếp, tư vấn trực tuyến qua mạng internet,  
thư điện tử, các công cụ giao tiếp trên mạng  
máy tính (Yahoo, Sskype,…), tổng đài tư  
vấn... Nguồn dữ liệu việc làm được Trung  
tâm Dịch vụ việc làm lấy từ các doanh  
nghiệp, người sử dụng lao động đến đăng  
ký tuyển dụng tại trung tâm, sàn giao dịch  
việc làm, đăng ký trực tuyến trên website,  
sau đó thống kê và lập bảng danh sách việc  
làm trống để giới thiệu đến người lao động.  
- Về thực hiện chế độ bảo hiểm y tế được  
trả cho người lao động trong thời gian hưởng  
trợ cấp thất nghiệp hỗ trợ người lao động  
gặp rủi ro ốm đau trong quá trình mất việc  
để sớm quay trở lại với thị trường lao động  
Trong giai đoạn 2010-2020, 100% người  
lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp đều  
Số 12(436) - T6/2021  
29  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
được cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp thẻ Bảo  
hiểm y tế theo đúng quy định hiện hành với  
tổng số tiền 2.893,54 tỷ đồng, chiếm 4,45%  
tổng chi bảo hiểm thất nghiệp. Trong đó, 10  
tháng đầu năm 2020, số tiền chi bảo hiểm y  
tế cho người lao động mất việc lên đến 545  
tỷ đồng, cao nhất trong vòng 12 năm thực  
hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp2.  
hỗ trợ học nghề chưa nhiều như Tây Bắc,  
Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ.  
Theo Báo cáo của các Trung tâm Dịch  
vụ việc làm được Bộ Lao động - Thương  
binh và Xã hội tổng hợp4, tất cả những  
người thất nghiệp có nguyện vọng học nghề  
đều được tổ chức để hỗ trợ học nghề theo  
đúng quy định của pháp luật. Những ngành  
nghề người lao động đăng ký học nhiều là  
tin học văn phòng, ẩm thực và thẩm mỹ, sửa  
chữa máy vi tính, điện dân dụng, điện công  
nghiệp, thiết kế quảng cáo, lái xe,... Tuy  
nhiên, số người được hỗ trợ học nghề vẫn  
còn thấp do những nguyên nhân sau:  
(1) Đa số lao động thất nghiệp là lao động  
phổ thông, đời sống khó khăn không có nguồn  
dự trữ hoặc hỗ trợ khác nên khi bị mất việc,  
người lao động chỉ quan tâm đến việc hưởng  
trợ cấp thất nghiệp, họ dành thời gian tìm các  
công việc khác để duy trì cuộc sống rồi mới  
tính đến việc học nghề. Một số công ty ở các  
khu công nghiệp khi tuyển dụng chủ yếu là  
tuyển lao động phổ thông nên người lao động  
có thể kiếm được việc làm mới ngay sau khi  
mất việc mà không cần học nghề khác;  
(2) Người lao động nghỉ việc có xu hướng  
chuyển về địa phương mình để tìm việc làm  
mới nhằm giảm chi phí sinh hoạt, hợp lý hóa  
gia đình nên không có nhu cầu học nghề;  
(3) Xu hướng nghỉ việc về làm nông  
nghiệp hoặc tự tạo việc làm (mở tạp hóa,  
buôn bán nhỏ,...);  
(4) Một bộ phận lao động lớn tuổi, vì lý  
do sức khỏe hay trở về quê làm nông nghiệp  
hoặc nội trợ nên không có nhu cầu học nghề;  
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên,  
việc thực hiện quy định của Luật Việc làm về  
các chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta  
trong thời gian qua còn một số bất cập sau đây:  
Một là, chưa phát huy vai trò chủ đạo  
của chế độ học nghề - giải pháp lâu dài, căn  
bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.  
Tính đến 31/10/2020, có tổng số 226.742  
người được hỗ trợ học nghề trong tổng số  
13.012.000 người tham gia bảo hiểm thất  
nghiệp (chiếm tỷ lệ 1,74%). Số người được  
hỗ trợ học nghề tăng lên hàng năm (biểu đồ  
4). Năm 2010 - năm đầu tiên tổ chức hỗ trợ  
học nghề từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chỉ  
có 270 người được hỗ trợ. Năm 2015, có  
24.363 người được hỗ trợ học nghề (gấp 90  
lần so với năm 2010); Năm 2019, số người  
có quyết định hỗ trợ học nghề cao nhất cả  
giai đoạn với số người được hỗ trợ lên đến  
41.906 người, gấp 155 lần so với năm 2010.  
Công tác hỗ trợ học nghề đã có những  
chuyển biến tích cực sau khi Quyết định số  
77/2014/QĐ-TTg được ban hành3, đặc biệt  
số người được hỗ trợ học nghề tăng nhanh  
tại một số địa phương như Thành phố Hồ  
Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai.  
Bên cạnh đó, một số vùng có số người được  
2 Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm và tình hình thực hiện” của Cục Việc  
làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội  
tổ chức tại Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 18/11/2020.  
3 Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao  
động tham gia bảo hiểm thất nghiệp ban hành ngày 24 tháng 12 năm 2014.  
4 Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm và tình hình thực hiện” của Cục Việc  
làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội  
tổ chức tại Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 18 tháng 11 năm 2020.  
30  
Số 12(436) - T6/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
(5) Người lao động ít có cơ hội lựa chọn  
nghề vì các danh mục nghề đào tạo của cơ  
sở dạy nghề chưa phong phú, nghề đào tạo  
lạc hậu, mức phí đào tạo cao. Cơ sở dạy  
nghề không tiếp nhận do chiêu sinh không  
đủ, người lao động đăng ký học nghề nhưng  
không đi học.  
nghề chỉ có 226.742 người trong tổng số  
6.170.861 người được hưởng trợ cấp thất  
nghiệp, chiếm tỷ lệ rất thấp (3,67%). Số  
người được hỗ trợ học nghề này được thống  
kê trên cơ sở Quyết định của Giám đốc Sở  
Lao động - Thương binh và Xã hội, còn  
trên thực tế, con số này còn ít hơn do không  
phải tất cả các trường hợp có quyết định đều  
tham gia học5.  
Hai là, cơ cấu chi trả các chế độ bảo  
hiểm thất nghiệp còn bất hợp lý.  
Ba là, chưa phát huy được vai trò của  
chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao  
trình độ kỹ năng nghề cho người lao động.  
Trong giai đoạn 2010-2020, chi hỗ trợ  
học nghề chiếm tỷ lệ rất thấp trong cơ cấu  
chi bảo hiểm thất nghiệp (Bảng 3). Theo  
đó, số người lao động mất việc làm tham  
gia bảo hiểm thất nghiệp được hỗ trợ học  
Chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng  
cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao  
Bảng 3. Cơ cấu chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010-2020  
Cơ cấu chi bảo hiểm thất nghiệp  
Tổng  
cộng  
Tư vấn,  
giới thiệu dưỡng, nâng cao trình  
việc làm độ kỹ năng nghề  
Hỗ trợ đào tạo, bồi  
Năm  
Trợ cấp Hỗ trợ học Đóng bảo  
thất nghiệp  
nghề  
hiểm y tế  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
96,15  
95,01  
95,40  
95,47  
95,21  
94,97  
93,10  
94,69  
94,97  
94,47  
0,04  
0,06  
0,01  
0,11  
0,29  
0,70  
0,83  
0,86  
0,81  
1,33  
3,81  
4,93  
4,59  
4,41  
4,51  
4,33  
6,07  
4,45  
4,22  
4,20  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
10 tháng đầu  
năm 2020  
94,47  
94,66  
1,33  
0,89  
4,20  
4,45  
-
-
-
-
100  
100  
Tổng cộng  
(Nguồn: Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)  
5 Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm và tình hình thực hiện” của Cục Việc  
làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội  
tổ chức tại Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 18/11/2020.  
Số 12(436) - T6/2021  
31  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
động mới được bổ sung theo Điều 42 Luật  
Việc làm, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.  
Chế độ này gián tiếp hỗ trợ người lao động  
thông qua người sử dụng lao động để phòng  
ngừa nguy cơ thất nghiệp cho người lao  
động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong  
trường hợp người sử dụng lao động gặp  
khó khăn có nguy cơ cắt giảm lao động.  
Theo báo cáo của các địa phương, từ khi  
triển khai đến nay, không có người sử dụng  
lao động hưởng chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi  
dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để  
duy trì việc làm cho người lao động6.  
Những hạn chế trong thực hiện các chế  
độ bảo hiểm thất nghiệp nêu trên xuất phát  
từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên  
nhân do bất cập trong các quy định của pháp  
luật nước ta hiện nay, cụ thể:  
- Pháp luật hiện nay của nước ta chưa có  
quy định về sự hỗ trợ tài chính trực tiếp cho  
người lao động mất việc từ Quỹ bảo hiểm  
thất nghiệp trong trường hợp họ cần vốn để  
phục vụ cho nỗ lực tái gia nhập thị trường  
lao động, mặc dù kết dư Quỹ bảo hiểm thất  
nghiệp còn tương đối lớn hiện nay.  
- Quy định về mức hỗ trợ học nghề cho  
người lao động mất việc trong tham gia học  
nghề còn thấp. Theo quy định của khoản 2  
Điều 56 Luật Việc làm, người lao động  
tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị mất việc  
làm, khi đủ điều kiện nhất định, được tham  
gia học nghề và được hưởng mức hỗ trợ học  
nghề theo quy định của Thủ tướng Chính  
phủ. Mức hỗ trợ này hiện nay là tối đa một  
triệu đồng/người/tháng; mức hỗ trợ cụ thể  
được tính theo tháng, tùy theo từng nghề,  
mức thu học phí và thời gian học nghề thực  
tế theo quy định của cơ sở dạy nghề; trường  
hợp người lao động tham gia khóa học nghề  
có những ngày lẻ không đủ tháng theo quy  
định của cơ sở dạy nghề thì số ngày lẻ đó  
được tính tròn là một tháng để xác định  
mức hỗ trợ học nghề; đối với người lao  
động tham gia bảo hiểm thất nghiệp tham  
gia khóa học nghề có mức chi phí học nghề  
cao hơn mức hỗ trợ học nghề thì phần vượt  
quá mức hỗ trợ học nghề do người lao động  
tự chi trả (Điều 3, Quyết định số 77/2014/  
QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày  
24/12/2014 về quy định mức hỗ trợ học  
nghề đối với người lao động tham gia bảo  
hiểm thất nghiệp).  
- Quy định về điều kiện, thủ tục hồ sơ  
thực hiện chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng,  
nâng cao trình độ, kỹ năng nghề để duy trì  
việc làm cho người lao động chưa hợp lý.  
Theo quy định của khoản 1 Điều 47 Luật  
Việc làm, để được hưởng chế độ hỗ trợ đào  
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng  
nghề nhằm duy trì việc, người sử dụng lao  
động phải đáp ứng đủ bốn điều kiện:  
(1) Đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho  
người lao động thuộc đối tượng tham gia  
bảo hiểm thất nghiệp liên tục từ đủ 12 tháng  
trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ;  
(2) Gặp khó khăn do suy giảm kinh tế  
hoặc vì lý do bất khả kháng khác buộc phải  
thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất,  
kinh doanh;  
(3) Không đủ kinh phí để tổ chức đào  
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng  
nghề cho người lao động;  
(4) Có phương án đào tạo, bồi dưỡng,  
nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì  
việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền phê duyệt.  
Tuy nhiên, do các điều kiện trên quá chặt  
chẽ nêu trên nên cho đến nay, chưa có người  
sử dụng lao động nào được hưởng chế độ  
hỗ trợ này.  
6 Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm và tình hình thực hiện” của Cục  
Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp,  
bảo hiểm xã hội tổ chức tại Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 18 tháng 11 năm 2020.  
32  
Số 12(436) - T6/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của  
pháp luật về các chế độ bảo hiểm thất nghiệp  
Để bảo đảm cho người lao động được  
hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, tác  
giả kiến nghị như sau:  
Thứ nhất, bổ sung quy định về hỗ trợ cho  
người lao động mất việc làm vay ưu đãi từ  
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.  
gia học nghề trong thời gian mất việc và phải  
chi trả toàn bộ chi phí ăn ở, đi lại… trong quá  
trình học nghề làm cho quyết định học nghề  
của họ trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, cần có  
hỗ trợ nhiều hơn cho người lao động đang  
hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia học nghề  
như hỗ trợ một phần chi phí ăn ở, sinh hoạt  
phí... để họ yên tâm tham gia khóa học.  
Trong bốn chế độ bảo hiểm thất nghiệp  
hiện hành, người lao động khi mất việc làm  
đã bước đầu có sự hỗ trợ về tài chính, một  
phần trong số đó được đào tạo nghề nhưng  
rất ít, số lao động được hưởng bảo hiểm  
thất nghiệp tái gia nhập thị trường lao động  
chưa được thống kê cụ thể. Trong số đó, có  
các trường hợp không hoặc không thể tìm  
kiếm việc làm mới mà tự tạo việc làm thông  
qua việc tự sản xuất, buôn bán, kinh doanh.  
Một số khác, nỗ lực học một nghề mới, sau  
đó tự kinh doanh, làm ăn, trang trải cuộc  
sống. Do đó, để tạo điều kiện hơn nữa cho  
người lao động mất việc làm, cần có sự hỗ  
trợ về nguồn vốn ban đầu cho những người  
thực sự cần vốn để tự sản xuất, kinh doanh  
thông qua việc cho vay vốn từ nguồn Quỹ  
bảo hiểm thất nghiệp còn kết dư.  
Thứ hai, bổ sung quy định việc hỗ trợ  
đột xuất cho người đang hưởng trợ cấp thất  
nghiệp trong các trường hợp gặp rủi ro.  
Cần có hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng  
này trong các trường hợp: bị tai nạn, bị suy  
giảm khả năng lao động trong quá trình  
hưởng bảo hiểm thất nghiệp, không thể tái  
tham gia thị trường lao động.  
Thứ tư, quy định hợp lý điều kiện, thủ  
tục hồ sơ mà người sử dụng lao động được  
hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp để đào  
tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề cho  
người lao động.  
Theo báo cáo của các địa phương được Bộ  
Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp,  
nguyên nhân của việc không có người sử dụng  
lao động nào được hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm thất  
nghiệp để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng  
nghề cho người lao động là do: Hoạt động sản  
xuất kinh doanh của doanh nghiệp không gặp  
khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc vì lý do bất  
khả kháng khác theo quy định để được hưởng  
chế độ. Mặt khác, đây là một chế độ mới, quy  
định về điều kiện hưởng chế độ này khá chặt  
chẽ và hiếm khi xảy ra cũng là lý do người sử  
dụng lao động khó tiếp cận và đáp ứng đủ điều  
kiện hưởng chế độ này7.  
Hiện nay ở Việt Nam, trong điều kiện dịch  
bệnh Covid-19 được kiểm soát chặt nhưng vẫn  
tiềm ẩn nguy cơ do tình hình vẫn còn diễn biến  
phức tạp ở các nước, nhiều đơn vị sử dụng lao  
động đang thuê mướn lao động nhưng không  
bố trí đủ việc làm, họ chọn phương án bố trí  
người lao động làm luân phiên, thay nhau nghỉ,  
bố trí làm ít giờ hơn… hoặc có mong muốn thu  
hẹp quy mô sản xuất. Do đó, cần nghiên cứu  
tính toán hợp lý hơn các điều kiện, quy trình,  
thủ tục để hỗ trợ người lao động thông qua  
Thứ ba, tăng mức hỗ trợ học nghề cho  
người lao động mất việc làm.  
Người lao động mất việc làm đa phần là  
lao động chính trong gia đình. Mất việc làm  
đồng nghĩa với việc mất đi nguồn thu nhập  
chính cho gia đình họ. Do đó, việc họ tham  
người sử dụng lao động  
7 Báo cáo “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm và tình hình thực hiện” của Cục Việc  
làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội  
tổ chức tại Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 18 tháng 11 năm 2020.  
Số 12(436) - T6/2021  
33  
pdf 8 trang Thùy Anh 10320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định của pháp luật về các chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_cac_quy_dinh_cua_phap_luat_ve_cac_che_do_bao_hiem.pdf