Bài giảng Pháp luật cạnh tranh - Bài 4: Các biện pháp nhằm điều chỉnh và kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh xuyên biên giới - Trần Thăng Long
9/5/2018
Nội dung
Chính sách cạnh tranh và mục tiêu của luật cạnh tranh
CÁC BIỆN PHÁP NHẰM ĐIỀU CHỈNH VÀ KIỂM
SOÁT CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH
Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh
Xác định sức mạnh thị trường
Kiểm soát tập trung kinh tế
Cơ quan cạnh tranh
XUYÊN BIÊN GIỚI
TS. Trần Thăng Long
Chế tài và các biện pháp miễn trừ
1.1. Chính sách cạnh tranh
• Hệ thống các biện pháp nhằm thúc đẩy khả
năng cạnh tranh của thị trường tại quốc gia đó,
• Nhằm hướng đến việc:
– tạo lập, duy trì một môi trường cạnh tranh bình
đẳng phù hợp với lợi ích chung của xã hội, và
Chính sách cạnh tranh và mục tiêu
của luật cạnh tranh
– đảm bảo tự do cạnh tranh, đồng thời điều tiết cạnh
tranh trong nền kinh tế
1.1. Chính sách cạnh tranh
1.1. Chính sách cạnh tranh
•
Là tập hợp những biện pháp của Nhà nước nhằm điều
tiết hoạt động cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh
tế, phù hợp mục đích của Nhà nước trong việc bảo
đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh;
• Chính sách cạnh tranh bao gồm:
– Pháp luật, cơ chế bảo đảm thực hiện và
•
Bao gồm:
– Những biện pháp kinh tế nhằm kích thích cạnh
tranh như:
– chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
– chống các hành vi hạn chế cạnh tranh;
•
•
•
•
chính sách thương mại, đầu tư,
– chống việc lạm dụng vị thế độc quyền hoặc khống chế thị
trường của một (hoặc một nhóm) doanh nghiệp có vị thế
độc quyền;
– tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập và rút lui khỏi thị
trường của các chủ thể kinh doanh ở mọi lĩnh vực của nền
kinh tế...
quyền sở hữu trí tuệ,
chính sách về dịch vụ, phân phối,
pháp luật về phá sản doanh nghiệp, trợ cấp...
1
9/5/2018
1.1. Chính sách cạnh tranh
1.1. Chính sách cạnh tranh
•
Chính sách cạnh tranh quốc gia trong xu thế toàn
cầu hóa?
• Chính sách cạnh tranh tác động đến việc thực
thi pháp luật cạnh tranh?
–
–
–
–
Hạn chế các hành vi HCCT xuyên biên giới
Phát huy thế mạnh và lợi thế của toàn cầu hóa đem lại
Bảo vệ các DN và nền sản xuất nội địa
– Quyết định đến mức độ kiểm soát, điều chỉnh các
hành vi cạnh tranh
– Là cơ sở để thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm
thực hiện mục tiêu của luật cạnh tranh (thông qua
cơ chế miễn trừ, đánh giá tác động kinh tế...)
Hỗ trợ và phát huy thế mạnh của các doanh nghiệp quốc
gia
–
Hài hòa hóa pháp luật cạnh tranh với khu vực và thế giới
1.2. Mục tiêu của luật cạnh tranh
1.2. Mục tiêu của luật cạnh tranh
• Luật cạnh tranh Hoa Kỳ:
• Là những gì mà việc áp dụng luật cạnh tranh hướng
đến và phải đạt được
• Những mục tiêu cơ bản của luật cạnh tranh:
– Thúc đẩy lợi ích của người tiêu dùng, và
•
•
•
•
(i) Bảo vệ và duy trì cạnh tranh là mục tiêu trọng tâm bằng
cách không cho phép độc quyền, cấm cạnh tranh không lành
mạnh và loại bỏ hành động phân biệt và câu kết về giá;
(ii) Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bằng cách cấm
những hình thức kinh doanh, cạnh tranh thiếu công bằng,
mang tính lừa dối;
(iii) Bảo vệ những hãng kinh doanh với quy mô nhỏ và hoạt
động độc lập, tránh khỏi sức ép kinh tế do sự cạnh tranh của
các hãng lớn gây ra;
– Tối ưu hóa hiệu quả kinh tế (tăng cường hiệu quả kinh tế)
• Những mục tiêu khác
– Bảo vệ tự do kinh tế
– Bảo vệ đối thủ cạnh tranh và cạnh tranh bình đẳng
– Các vấn đề xã hội, chính trị
(iv) Điều chỉnh nhiều hơn tới các yếu tố chính trị và xã hội có
liên quan so với vấn đề kinh doanh và kinh tế.
1.2. Mục tiêu của luật cạnh tranh
1.2. Mục tiêu của luật cạnh tranh
• Luật cạnh tranh Liên minh Châu Âu
• Luật cạnh tranh Singapore
– Mục tiêu hội nhập châu Âu: Phục vụ cho các mục tiêu
của Liên minh châu Âu là thúc đẩy sự phát triển hài
hòa và cân đối giữa các nền kinh tế, tạo lập thị
trường chung thống nhất trong toàn liên minh,
hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
– Yêu cầu chính phủ các quốc gia thành viên không
được đặt ra hoặc duy trì các biện pháp nhằm hạn chế
một trong ba nguyên tắc tự do cơ bản của liên minh:
tự do lưu thông hàng hóa, tự do di chuyển và tự do
cung cấp dịch vụ.
–
–
–
Đặt các doanh nghiệp tại Singapore (không phân biệt trong
nước, ngoài nước, sở hữu) trong môi trường cạnh tranh quốc
gia bình đẳng, theo kiểu chọn lọc tự nhiên.
Nhà nước không bảo hộ, nhưng Nhà nước ưu tiên đầu tư cho
doanh nghiệp ở các ngành quan trọng phát triển bằng cổ phần
lớn của Nhà nước,
Khi các doanh nghiệp này đủ mạnh trong cạnh tranh xuất khẩu
trên thị trường quốc tế, thì Nhà nước bán cổ phiếu cho
người dân.
2
9/5/2018
1.2. Mục tiêu của luật cạnh tranh
1.2. Mục tiêu của luật cạnh tranh
• Luật Cạnh tranh 2004 không có một điều khoản
cụ thể nêu rõ mục tiêu của luật cạnh tranh mà
chỉ có thể suy ra từ Điều 4(2):
• Việc xác định mục tiêu của Luật Cạnh tranh nói
chung sẽ quyết định cách thức, biện pháp và cơ
chế kiểm soát và xử lý đối với các hành vi hạn
chế cạnh tranh xuyên biên giới
– “2. Việc cạnh tranh phải … không xâm phạm đến lợi
ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng…”
1.2. Mục tiêu của luật cạnh tranh
Thảo luận
• Luật Cạnh tranh có thể được sử dụng để hướng
tới những mục tiêu có tính quốc tế nằm trong
chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, bên cạnh
những mục tiêu cần phải đạt được có tính đối
nội (như mục tiêu tạo lập môi trường cạnh tranh
bình đẳng, lành mạnh trong phạm vi quốc gia).
1. Hãy phân tích tác động của chính sách cạnh
tranh đối với việc kiểm soát và điều chỉnh các
hành vi cạnh tranh xuyên biên giới?
2. Hãy phân tích tác động của mục tiêu của luật
cạnh tranh đối với việc kiểm soát và điều chỉnh
các hành vi cạnh tranh xuyên biên giới?
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (1)
•
•
Về mặt lãnh thổ, pháp luật cạnh tranh áp dụng chủ yếu
áp dụng đối với những hành vi hạn chế cạnh tranh gây
thiệt hại xảy ra tại thị trường trong nước
Một số quốc gia mở rộng phạm vi áp dụng cho những
hành vi HCCT thực hiện ngoài lãnh thổ nhưng gây hạn
chế cạnh tranh hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh
tranh
Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh
•
Cách tiếp cận này có thể giúp loại trừ những tác động
đối với cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu.
3
9/5/2018
Luật Cạnh tranh 2004
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (2)
•
Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh đối với các hành vi
HCCT xuyên biên giới?
– Mở rộng khả năng áp dụng các quy định của LCT
đối với các hành vi có tác động đáng kể đến cạnh
tranh và thị trường nội địa
– Mở rộng khả năng điều tra và xử lý các hành vi
HCCT được thực hiện bên ngoài lãnh thổ quốc gia
– Cho phép áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với
các hành vi có khả năng gây hại đối với cạnh tranh
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (3)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (4)
•
Nguyên tắc lãnh thổ:
– Coi luật cạnh tranh là luật “trật tự kinh tế công” của
quốc gia
Nguyên tắc
quyền tài phán
ngoài lãnh thổ
Nguyên tắc
lãnh thổ
– Do đó, luật cạnh tranh, về nguyên tắc, chỉ áp dụng
đối với các hành vi được thực hiện và gây tác động
đến thị trường trên lãnh thổ của quốc gia đó.
Nguyên tắc tác
động
– Tuy nhiên, hành vi HCCT có thể được quy là được
thực hiện tại lãnh thổ của QG áp dụng, nếu thỏa
mãn một số điều kiện
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (5)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (6)
•
Nguyên tắc tác động:
•
Nguyên tắc “quyền tài phán ngoài lãnh thổ quốc gia”:
(extra-territorial jurisdiction),
– Luật cạnh tranh điều chỉnh đối với những hành vi
HCCT diễn ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia, nhưng
có tác động hoặc khả năng gây tác động HCCT một
cách đáng kể đối với quốc gia đó.
– Cho phép CQCT có thể mở rộng quyền tài phán của
mình đối với các hành vi HCCT diễn ra ngoài phạm
vi biên giới quốc gia,
– CQCT cần chứng minh được rằng, vụ việc có tác
động tiêu cực đến cạnh tranh và phúc lợi của người
tiêu dùng quốc gia mình có thể bị ảnh hưởng
4
9/5/2018
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (7)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (8)
•
Hoa Kỳ:
• Châu Âu:
– Theo Luật Sherman Act 1890, các “thực thể” hoặc
“các thực thể” được sử dụng trong Luật này sẽ bao
gồm các tập đoàn, hiệp hội thuộc hoặc được ủy
quyền theo pháp luật của Hoa Kỳ, pháp luật của bất
kỳ vùng lãnh thổ nào, pháp luật của bất kỳ quốc gia
nào hoặc pháp luật của bất kỳ đất nước nào.
– Điều 101, 102 Hiệp ước Liên minh châu Âu TFEU
không có đề cập một cách trực tiếp đến quyền tài
phán ngoài lãnh thổ.
– Tuy nhiên, khác với nguyên tắc quyền tài phán
ngoài lãnh thổ như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu đi
theo “cách tiếp cận về thực thi” (implementation
approach).
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (9)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (10)
•
Châu Âu (2)
•
Liên bang Úc:
– Theo đó, các CQCT của châu Âu có quyền điều
chỉnh các hành vi có khả năng gây HCCT tại các thị
trường địa lý thuộc phạm vi tài phán của họ, bất
luận là hành vi đó được thực hiện bởi:
– Phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh và bảo vệ
người tiêu dùng Úc năm 2010 được thể hiện trong
các điều khoản cụ thể về các hành vi HCCT, đặc
biệt là các điều khoản liên quan đến thoả thuận hạn
chế cạnh tranh và tập trung kinh tế.
• các công ty có trụ sở đặt ngoài phạm vi lãnh thổ
của liên minh châu Âu, hoặc
• các công ty có hoạt động kinh doanh tại các thị
trường khác và mang quốc tịch khác..
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (11)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (12)
•
Liên bang Úc (1)
•
Liên bang Úc (2):
– Đối với thoả thuận hạn chế cạnh tranh: Luật Cạnh
tranh và bảo vệ người tiêu dùng Úc năm 2010 (CCA
2010) có phạm vi điều chỉnh bên ngoài lãnh thổ, cụ
thể là:
– Đối với thoả thuận hạn chế cạnh tranh:
(2) Thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa các bên, trong
đó bên tham gia là đại diện của doanh nghiệp nước
ngoài (ví dụ, một công ty con tại Úc chịu sự chỉ đạo của
công ty mẹ ở nước ngoài) tiến hành hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nước ngoài tại Úc).
(1) Thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp thường có mặt hoặc kinh doanh tại Úc
– Trong trường hợp này, hành vi của đại diện này tham gia
vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở nước ngoài trên
danh nghĩa của công ty nước ngoài có thể quy kết là công
ty nước ngoài đó có hành vi diễn ra “trong” lãnh thổ Úc.
5
9/5/2018
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (13)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (14)
•
Liên bang Úc (3):
•
Liên bang Úc (4):
– Đối với thoả thuận hạn chế cạnh tranh:
– Đối với thoả thuận hạn chế cạnh tranh:
(3) Việc một công ty nước ngoài có trao đổi liên lạc với
Úc qua điện thoại hoặc email, ủy quyền cho công ty con
hoạt động tại Úc hoặc chỉ đạo công ty này tham gia vào
thỏa thuận cartel ở nước ngoài, như vậy hành vi này của
doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể được coi là diễn
ra “trong” lãnh thổ Úc).
• Các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thỏa
thuận cartel nước ngoài có ảnh hưởng tới các thị
trường của Úc sẽ không thoát được việc bị kiện ở
Úc mặc dù họ không có đại diện thực tế hay không
tiến hành kinh doanh trên lãnh thổ Úc.
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (15)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (16)
•
CHLB Đức:
•
Liên bang Úc (5):
– Là quốc gia áp dụng nguyên tắc tác động
– Mục 130(2) của Luật Chống hạn chế cạnh tranh của
Đức (GWB) 1957 áp dụng đối với tất cả các hành vi
HCCT có tác động trong phạm vi nước Đức.
– Do vậy, các công ty nước ngoài chịu sự điều chỉnh của
GWB với tư cách là doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi phối hợp có tác động
đến thị trường Đức.
– GWB có thể được áp dụng đối với doanh nghiệp nước
ngoài, thậm chí doanh nghiệp chưa từng hoạt động tích
cực, trực tiếp tại thị trường Đức, mà chỉ duy trì công ty
con, chi nhánh hoặc thành lập hoạt động kinh doanh ở
Đức.
– Đối với tập trung kinh tế:
• Theo mục 50A CCA 2010 thì nếu việc mua lại
quyền kiểm soát một công ty kinh doanh ở Úc
cần phải khai báo lên Tòa án Cạnh tranh Úc nếu:
– có tác động hoặc có khả năng gây tác động
HCCT một cách đáng kể trên một thị trường
tại Úc, và
– việc mua lại sẽ không mang lại lợi ích công
cộng bù đắp cho thiệt hại về cạnh tranh
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (17)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (18)
•
Trung Quốc
•
Hàn Quốc (1)
– Là quốc gia áp dụng nguyên tắc tác động
– Điều 2 Luật chống độc quyền Trung Quốc 2008 quy
định:
– Luật Kiểm soát độc quyền và Thương mại lành
mạnh của Hàn Quốc áp dụng đối với cả các hành vi
diễn ra bên ngoài lãnh thổ Hàn Quốc nếu như có
tác động đến thị trường liên quan tại Hàn Quốc.
– Điều 2.2: Việc áp dụng đối với các hành vi ngoài
lãnh thổ
Luật này áp dụng đối với những hành vi độc quyền
(monopolistic) trong các hoạt động kinh tế trên
lãnh thổ nước CHND Trung Hoa; và sẽ áp dụng đối
với những hành vi độc quyền thực hiện bên ngoài
lãnh thổ của CHND Trung Hoa nếu có tác động
loại bỏ hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường tại
Trung Quốc.
•
Luật này cũng được áp dụng cho dù một hành vi nào được thực
hiện ngoài lãnh thổ, nếu nó có tác động đến thị trường nội địa
6
9/5/2018
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (19)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (20)
•
Hàn Quốc (2)
•
Malaysia
–
Theo quan điểm của Tòa án tối cao Hàn Quốc thì các vụ việc
– (1) Đạo luật này áp dụng cho mọi hoạt động thương mại
trong Malaysia, và việc áp dụng Đạo luật này bên ngoài
Malaysia sẽ tuân theo quy định ở khoản (2) điều này.
– (2) Đạo luật này áp dụng đối với bất kì hoạt động thương
mại nào giao dịch bên ngoài Malaysia mà có ảnh hưởng
đến cạnh tranh trên bất kỳ thị trường nào tại Malaysia.
– (3) Đạo luật này không áp dụng cho các hoạt động
thương mại đã được pháp luật quy định chi tiết trong
Phụ lục Đầu tiên và Bộ trưởng có thể sửa đổi Phụ lục
Đầu tiên bằng lệnh công bố trên Công báo…
có tác động đối với thị trường Hàn Quốc theo điều 2-2 của
Đạo luật chỉ giới hạn cho các vụ việc khi mà hành vi được xem
xét xảy ra ngoài lãnh thổ Hàn Quốc có tác động trực tiếp,
đáng kể và có thể nhận thức một cách hợp lý đối với thị
trường Hàn Quốc.
Tuy nhiên, nếu thị trường Hàn Quốc là thị trường đích đến
trong thỏa thuận hợp tác nhằm hạn chế cạnh tranh giữa các
công ty ngoài lãnh thổ Hàn Quốc thì các thỏa HCCT này thuộc
sự điều chỉnh của điều 19(1) của Đạo luật vì thỏa thuận đó có
tác động đến thị trường Hàn Quốc trừ khi có các trường hợp
đặc biệt khác.
–
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (21)
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (22)
•
Tại Việt Nam trong thời gian qua đã chứng kiến một số
vụ mua bán, sáp nhập có giá trị giao dịch lớn được
thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng lại có tác
động tới thị trường Việt Nam.
•
Singapore:
– Theo Điều 33 của Luật Cạnh tranh Singapore 2006
thì một hành vi xảy ra ngoài lãnh thổ Singapore
cũng sẽ bị cấm nếu có mục đích hoặc tác động
ngăn cản, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh trong
phạm vi lãnh thổ Singapore.
•
Ví dụ:
–
Tập đoàn Abbott mua lại Công ty dược phẩm CFR;
–
Tập đoàn Boehringer Ingelheim International mua lại Sanofi
SA trong lĩnh vực thuốc thú y;
–
Tập đoàn Central Group (Thái Lan) mua lại Hệ thống siêu thị
Big C tại Việt Nam…
2. Phạm vi áp dụng của luật cạnh tranh (23)
Luật Cạnh tranh 2004
•
Hiện tại, Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ quy định điều
chỉnh đối với “hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi
cạnh tranh không lành mạnh…” và áp dụng đối với “tổ
chức, cá nhân kinh doanh… bao gồm cả…doanh nghiệp
nước ngoài hoạt động ở Việt Nam”.
7
9/5/2018
Luật Cạnh tranh 2004
Vấn đề mở rộng phạm vi áp dụng trong LCT 2018
(sửa đổi) (1)
•
•
•
Mục tiêu cơ bản của LCT là bảo vệ các quan hệ cạnh
tranh, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, công
bằng.
Thực tiễn thị trường xuất hiện nhiều hành vi cạnh tranh
được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có
gây ảnh hưởng nhất định đến thị trường Việt Nam
LCT 2004 chưa tạo ra đủ căn cứ pháp lý để xử lý các
hành vi trên. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, chống
lại những tác động của các hành vi có hại đối với cạnh
tranh tại thị trường Việt Nam chưa được thực thi đầy
đủ.
Vấn đề mở rộng phạm vi áp dụng trong LCT 2018
(sửa đổi) (3)
Vấn đề mở rộng phạm vi áp dụng trong LCT 2018
(sửa đổi) (2)
•
Do đó, cần mở rộng phạm vi áp dụng của luật cạnh
tranh nhằm điều chỉnh các hành vi HCCT được thực
hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng có tác động
gây HCCT một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam
•
Một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Úc, New Zealand,
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore gần đây đã điều tra,
xử lý nhiều vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh, tập
trung kinh tế xuyên biên giới
•
Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh giúp:
–
xử lý triệt để các hành vi xâm hại cạnh tranh;
–
góp phần tạo sự ổn định của nền kinh tế nội địa thông qua ổn
định các yếu tố thị trường;
–
tạo điều kiện thực thi các cam kết về cạnh tranh trong các
Hiệp định thương mại song phương và đa phương.
Luật Cạnh tranh (sửa đổi) năm 2018
3. Xác định sức mạnh thị trường (1)
•
•
Về cơ bản, doanh nghiệp thực hiện hành vi HCCT cần
phải có sức mạnh thị trường
Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hoặc trừng phạt các
doanh nghiệp vi phạm cũng phải dựa trên việc tính
toán sức mạnh thị trường
8
9/5/2018
3. Xác định sức mạnh thị trường (2)
3. Xác định sức mạnh thị trường (3)
• Sức mạnh thị trường là sức mạnh của doanh
nghiệp thị trường thể hiện ở một mức độ đủ để
làm doanh nghiệp đó:
• Sức mạnh thị trường có thể được tiếp cận ở hai
góc độ:
– Sức mạnh về giá là khả năng có thể gia tăng lợi
nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mức
giá cạnh tranh hoặc khả năng kiểm soát, hạn chế
sản lượng để tăng giá.
– Không phải đối mặt hay ít phải đối mặt với áp lực
cạnh tranh từ các đối thủ khác trên thị trường, hoặc
– Ít chịu sức ép từ việc gia nhập ngành của các đối thủ
– Sức mạnh loại trừ là khả năng vượt trội trên thị
trường để có thể thực hiện hành vi ngăn cản, kìm
hãm hay loại trừ đối thủ cạnh tranh, xâm hại trực
tiếp đến cấu trúc cạnh tranh và từ đó có thể tăng giá
tiềm năng
3. Xác định sức mạnh thị trường (4)
3. Xác định sức mạnh thị trường (4)
•
Việc xác định sức mạnh thị trường vs chống lại các
hành vi HCCT xuyên biên giới?
• Các vấn đề liên quan để xác định sức mạnh thị
trường:
–
Đảm bảo đánh giá chính xác sức mạnh thị trường, không phụ
thuộc vào tiêu chí thị phần (không có nhiều ý nghĩa đối với
các hành vi HCCT xuyên biên giới)
– Thị trường liên quan
– Thị phần
–
–
Giúp cơ quan cạnh tranh đánh giá tác động tích cực - tiêu
cực của hành vi đối với cạnh tranh
– Các tiêu chí khác
Giúp cơ quan cạnh tranh có thể xác định chính xác các hành
vi thỏa thuận HCCT (cartel), hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường
–
Xác định chính xác tác động của vụ tập trung kinh tế, từ đó
có biện pháp xử lý thích hợp
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (1)
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (2)
•
Có thể có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng , bao
gồm: sức mạnh thị trường đáng kể (Úc, Canada,
Malaysia, Singapore), sức mạnh độc quyền (Hoa Kỳ) hay
vị trí thống lĩnh (Đức, Hàn Quốc),
Tuy nhiên, nội hàm của các thuật ngữ này đều giống
nhau, cùng chỉ khả năng kiểm soát giá và loại bỏ cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Việc xác định thị trường liên quan và sức mạnh thị
trường là tương đối đồng nhất đối với các nhóm hành vi
thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống
lĩnh, độc quyền và tập trung kinh tế.
•
•
•
Thị phần thường được coi là một trong nhiều yếu tố để
xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp.
Ngoài thị phần, các quốc gia còn sử dụng nhiều tiêu chí
đánh giá khác,
Việc xác định sức mạnh thị trường không chỉ nhắm tới vị
trí thị trường của doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh tại một
thời điểm cụ thể, mà còn có thể:
– Đặt trong mối tương quan, so sánh với các đối thủ cạnh
tranh khác trên thị trường, và
– Xem xét sự biến động trong một khoảng thời gian nhất
định.
•
•
9
9/5/2018
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (3)
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (4)
•
•
•
Thị phần thường được coi là một trong nhiều yếu tố để
xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp.
Ngoài thị phần, các quốc gia còn sử dụng nhiều tiêu chí
đánh giá khác,
Việc xác định sức mạnh thị trường không chỉ nhắm tới vị
trí thị trường của doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh tại một
thời điểm cụ thể, mà còn có thể:
•
Ở một số quốc gia, Luật hay các hướng dẫn thực thi đều
không quy định về ngưỡng thị phần giả định về vị trí thống
lĩnh của doanh nghiệp (chẳng hạn, Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản),
•
•
Thay vào đó, vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp được xác
định tùy thuộc vào các dữ kiện trong từng vụ việc cụ thể.
Thực tiễn thi hành cho thấy một doanh nghiệp thường có
sức mạnh thị trường đáng kể khi có thị phần từ 50% trở lên
trên thị trường liên quan.
– Đặt trong mối tương quan, so sánh với các đối thủ cạnh
tranh khác trên thị trường, và
– Xem xét sự biến động trong một khoảng thời gian nhất
định.
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (5)
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (6)
•
Mặc dù vậy, các ngưỡng thị phần được quy định chỉ là
ngưỡng để giả định về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp,
không phải là quy định cứng và giả định đó hoàn toàn có
thể bị bác bỏ nếu doanh nghiệp có thể chứng minh điều
ngược lại (chẳng hạn, rào cản gia nhập thị trường thấp
hoặc hầu như không có…).
•
Thị phần của doanh nghiệp không chỉ được tính toán dựa
trên doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào đối với một
hàng hóa, dịch vụ nhất định, mà còn có thể được tính toán
căn cứ vào số lượng, khối lượng tiêu thụ hoặc mua vào đối
với hàng hóa, dịch vụ đó, năng lực sản xuất dư thừa hay
lượng dự trữ của doanh nghiệp.
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (7)
Hoa Kỳ
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (8)
•
• CHLB Đức (1)
–
Sức mạnh độc quyền được định nghĩa là sức mạnh để kiểm soát
– Các tiêu chí được xem xét để đánh giá sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp bao gồm:
giá hoặc loại bỏ cạnh tranh.
–
Sức mạnh độc quyền có thể được tạo ra từ sự chiếm giữ thị phần
thống lĩnh của một doanh nghiệp trên thị trường liên quan và
được bảo vệ bởi các rào cản gia nhập thị trường.
• Thị phần,
• Sức mạnh tài chính,
• Khả năng tiếp cận nguồn cung hoặc thị trường,
• Mối liên kết với các doanh nghiệp khác,
• Rào cản pháp lý hoặc thực tiễn đối với việc gia nhập
thị trường của các doanh nghiệp khác,
• Sự cạnh tranh thực tế hoặc tiềm năng của các doanh
nghiệp được thành lập bên trong hoặc bên ngoài lãnh
thổ Đức.
–
–
–
Mặc dù không có ranh giới thị phần chính xác, sức mạnh độc
quyền thường được giả định nếu thị phần của một doanh nghiệp
chiếm trên 70%.
Tuy nhiên, công ty có thể bác bỏ giả định sức mạnh độc quyền
bằng cách chứng minh không có bất kỳ rào cản gia nhập thị
trường đáng kể nào.
Mặt khác, nhiều tòa án liên bang đã đưa ra ngưỡng thị phần 50%
là một điều kiện tiên quyết để xác định dấu hiệu độc quyền.
10
9/5/2018
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (9)
trường của doanh nghiệp (10)
•
CHLB Đức (3)
• CHLB Đức (2)
–
–
–
Có những giả định (có thể bác bỏ) về vị trí thống lĩnh của một
doanh nghiệp và một nhóm doanh nghiệp.
– Mức thị phần cao (đặc biệt là khi tiếp cận được hoặc
vượt quá ngưỡng giả định thống lĩnh) được coi là một
chỉ số quan trọng về “vị thế tối cao”, tuy nhiên,
không được kết luận chỉ dựa vào thị phần.
– Toà án liên bang đã nhấn mạnh rằng việc xác định vị
trí thống lĩnh đòi hỏi phải phân tích tổng thể và toàn
diện tất cả các trường hợp thực tế có liên quan.
Theo mục 18(4) ARC, một doanh nghiệp được giả định là có vị
trí thống lĩnh nếu có mức thị phần tối thiểu 40%.
Một số doanh nghiệp được giả định là nhóm doanh nghiệp
thống lĩnh (1) nếu ba doanh nghiệp trở xuống đạt mức thị phần
kết hợp từ 50% trở lên hoặc (2) năm doanh nghiệp trở xuống
đạt mức thị phần kết hợp từ hai phần ba trở lên”.
–
–
Mặc dù có thể áp dụng giả định về vị trí thống lĩnh dựa theo
ngưỡng thị phần, tuy nhiên cơ quan cạnh tranh và toà án phải
điều tra tất cả các yếu tố thực tế khác.
Tuy nhiên, nếu sau khi kết thúc điều tra, việc phân tích thị
trường liên quan không cho được kết quả rõ ràng, cơ quan cạnh
tranh và toà án có thể dựa vào giả định vị trí thống lĩnh.
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (11)
trường của doanh nghiệp (12)
• Liên bang Úc (CCA 2010)
•
Liên bang Úc (CCA 2010)
– Theo mục 4E CCA, “thị trường” được định nghĩa là
“thị trường tại Úc, và khi được sử dụng trong mối
quan hệ với hàng hoá hoặc dịch vụ, nó bao gồm thị
trường của những hàng hoá, dịch vụ đó và những
hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế hoặc cạnh tranh với
hàng hoá, dịch vụ đó”.
–
Như vậy, các chỉ số để xác định thị trường phụ thuộc vào thuộc
tính thay thế và cạnh tranh chặt chẽ.
–
Định nghĩa này cũng được thể hiện trong phép thử SSNIP “tăng
giá nhỏ nhưng đáng kể trong thời gian dài liên tục” để xác định
thị trường,
–
Theo đó khoanh vùng một sản phẩm và khu vực địa lý hẹp nhất
mà trong đó nhà độc quyền giả định có thể tăng giá nhỏ nhưng
đáng kể trong thời gian dài liên tục (Small but significant and
non-transitory increase in price - SSNIP).
Kinh nghiệm các nước về xác định sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp (13)
Một số đề xuất (1)
•
Liên bang Úc (CCA 2010)
•
Thị phần của doanh nghiệp không nên chỉ được tính toán
dựa trên doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào đối với
một hàng hóa, dịch vụ nhất định,
–
Như vậy, các chỉ số để xác định thị trường phụ thuộc vào thuộc
tính thay thế và cạnh tranh chặt chẽ.
–
Định nghĩa này cũng được thể hiện trong phép thử SSNIP “tăng
giá nhỏ nhưng đáng kể trong thời gian dài liên tục” để xác định
thị trường,
•
Thị phần có thể được tính toán căn cứ vào số lượng, khối
lượng tiêu thụ hoặc mua vào đối với hàng hóa, dịch vụ đó,
năng lực sản xuất dư thừa hay lượng dự trữ của doanh
nghiệp.
–
Theo đó khoanh vùng một sản phẩm và khu vực địa lý hẹp nhất
mà trong đó nhà độc quyền giả định có thể tăng giá nhỏ nhưng
đáng kể trong thời gian dài liên tục (Small but significant and
non-transitory increase in price - SSNIP).
11
9/5/2018
Luật Cạnh tranh (sửa đổi) năm 2018
Một số đề xuất (2)
•
•
thống lĩnh thị trường
•
Cần bổ sung một hệ thống các tiêu chí, yếu tố để đánh giá
sức mạnh thị trường, trong đó bao gồm:
–
(i) thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan;
–
(ii) cấu trúc thị trường và tương quan thị phần giữa các doanh
nghiệp trên thị trường;
–
(iii) khả năng tiếp cận, kiểm soát thị trường tiêu thụ sản phẩ
m hoặc thị trường nguồn cung;
–
–
–
–
(iv) năng lực tài chính;
(v) năng lực công nghệ;
(vi) rào cản gia nhập, mở rộng thị trường;
(vii) quy mô mạng lưới phân phối, mạng lưới tiêu thụ…
1. Bản chất của hành vi TTKT (1)
•
•
•
•
TTKT là hiện tượng bình thường trong hoạt động kinh
doanh
TTKT là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật về doanh
nghiệp, đầu tư, chứng khoán…
TTKT cũng không phải là hành vi HCCT, mà mới chỉ
là nguy cơ tiềm năng có thể gây ra hành vi HCCT.
Do đó, Nhà nước chỉ nên can thiệp hoặc cấm đoán
khi có đầy đủ cơ sở khẳng định TTKT gây ra tác động
đáng kể cho cạnh tranh
Kiểm soát tập trung kinh tế
1. Bản chất của hành vi TTKT (2)
1. Bản chất của hành vi TTKT (3)
•
•
TTKT có thể có tác động đối với cạnh tranh ở dạng là
nguy cơ tiềm năng,
Việc xem xét bản chất của hành vi TTKT cần xác định
được sức mạnh thị trường mà TTKT sẽ tạo ra và tác
động của nó.
•
•
Bản chất của TTKT chính là hành vi tập trung quyền lực
thị trường (market power)
Việc tập trung quyền lực được thực hiện dưới các
hình thức khác nhau, nhưng đều có chung dấu hiệu là:
– làm tăng khả năng duy trì giá trên mức giá cạnh
tranh, hoặc
– giảm chất lượng hoặc sản lượng xuống dưới mức
cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận
12
9/5/2018
3. Vì sao cần kiểm soát tập trung kinh tế
2. Đặc điểm của TTKT
•
Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp hoạt động trong
cùng hoặc không cùng thị trường liên quan.
TTKT thực hiện theo các hình thức do pháp luật quy định.
TTKT hình thành nên doanh nghiệp có năng lực cạnh
tranh tổng hợp, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và
tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường
TTKT là một hoạt động bình thường, tất yếu và chính
đáng của doanh nghiệp mong muốn mở rộng thị trường.
Pháp luật chỉ can thiệp khi hoạt động TTKT mang lại
nguy cơ HCCT một cách đáng kể.
•
•
•
Thay đổi cấu trúc, tương quan trên thị trường
Giảm số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Hình thành DN có sức mạnh thị trường hoặc DN độc quyền
Tập trung quyền lực thị trường vào tay một/một số đối
thủ cạnh tranh
Khả năng tiềm tàng thực hiện các hành vi hạn chế cạnh
tranh khác
Chính sách của nhà nước về quản lý kinh tế và các chính
sách khác (bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ doanh nghiệp
trong nước…)
•
•
•
•
•
•
Những tác động tiêu cực của các vụ TTKT xuyên biên giới
4. Kiểm soát TTKT trên thế giới
4. Kiểm soát TTKT trên thế giới
1. Xác định ngưỡng kiểm soát TTKT
2. Đánh giá tác động của vụ TTKT
3. Cho phép và giám sát vụ TTKT
4.1. Xác định ngưỡng kiểm soát TTKT (1)
4.1. Xác định ngưỡng kiểm soát TTKT (2)
• Một là, các quốc gia thường dựa các tiêu chí xác
định khác nhau, trong đó phổ biến nhất bao gồm:
• Là ngưỡng các DN cần phải thông báo cho cơ
quan cạnh tranh trước khi tiến hành vụ TTKT
• Việc xác định ngưỡng thông báo dựa trên sự
kết hợp giữa “tư duy pháp lý” và “tư duy kinh tế”
• Ngưỡng thông báo TTKT có thể được điều chỉnh
theo tùy thuộc vào tỷ lệ lạm phát hàng năm.
– (i) quy mô của bên tham gia TTKT, thể hiện qua
chỉ số về tổng doanh thu, tài sản của mỗi bên tham
gia vụ việc TTKT có tại quốc gia;
– (ii) tổng doanh thu, tổng tài sản toàn cầu của tất cả
các bên tham gia vụ TTKT;
– (iii) thị phần của mỗi bên tham gia tại thị trường
quốc gia đó…;
– (iv) quy mô của giao dịch TTKT, thể hiện qua giá trị
tài sản là đối tượng của giao dịch TTKT hoặc doanh
thu có được từ các tài sản đó…
13
9/5/2018
4.1. Xác định ngưỡng kiểm soát TTKT (3)
4.1. Xác định ngưỡng thông báo TTKT (4)
• Hoa Kỳ:
• Hai là, việc sử dụng các tiêu chí xác định
ngưỡng thông báo TTKT khác nhau giúp cho
các doanh nghiệp khi tham gia các giao dịch
TTKT tăng cường tính chủ động trong việc thực
hiện nghĩa vụ thông báo với CQCT
• Các tiêu chí này có thể xác định cụ thể, chính xác
một cách tương đối và khả thi hơn so với tiêu chí
thị phần
– Ngưỡng thông báo TTKT dựa trên việc đánh giá các
tiêu chí về giá trị giao dịch và tổng tài sản
– Các bên liên quan trong vụ mua bán, sáp nhập phải
thông báo và nọ
pháp (DOJ) truớc khi hoàn tất vụ sáp nhạ
tóm
̂
̛
thẩm tra lên FTC và Bộ Tu
̛
̛
̂
– Chỉ khi được sự chấp thuận của CQCT, giao dịch mua
bán sáp nhập mới được hoàn tất.
4.1. Xác định ngưỡng thông báo TTKT (5)
• Cụ thể:
4.1. Xác định ngưỡng thông báo TTKT (6)
• Liên minh Châu Âu:
– Liên minh châu Âu không xác định ngưỡng thông báo
theo tiêu chí thị phần kết hợp, thay vào đó là tiêu chí
tổng doanh thu của các doanh nghiệp tham gia TTKT
là tiêu chí cơ bản
– Khi một doanh nghiệp có doanh số thuần hàng năm
hoặc tổng tài sản là 152.5 triệu USD mua lại một
doanh nghiệp có doanh số thuần hàng năm hoặc
tổng tài sản trị giá 15.3 triệu USD, hoặc ngược lại.
– Trong khi đó, đối với giá trị giao dịch ngưỡng cơ bản
để thực hiện thông báo là 78.2 triệu USD; các ngưỡng
tiếp theo lần lượt là 156.3 triệu USD; 781.5 triệu USD
4.1. Xác định ngưỡng thông báo TTKT (7)
• Liên minh Châu Âu:
4.1. Xác định ngưỡng thông báo TTKT (8)
• Liên minh Châu Âu:
• (ii) doanh thu toàn cầu gộp lại sau sáp nhập vượt quá
2,5 tỷ euro; doanh thu gộp tại ít nhất một trên ba quốc
gia thành viên bất kỳ vượt ngưỡng 100 triệu euro;
tại một trong số ba quốc gia thành viên này, doanh thu
của một trong số hai doanh nghiệp bất kỳ vượt ngưỡng
25 triệu euro; doanh thu tại EU của một trong số hai
doanh nghiệp bất kỳ vượt ngưỡng 100 triệu euro; trừ
khi một bên nào đó có doanh thu tại một nước thành
viên chiếm trên hai phần ba toàn bộ doanh thu tại EU
của bên đó.
– Một hành vi TTKT thuộc “quy mô cộng đồng”
(community dimension) cần phải được thông báo để
rà soát khi:
• (i) doanh thu gộp trên toàn cầu sau sáp nhập vượt quá
5 tỷ euro và doanh thu tại EU của ít nhất của một trong
hai doanh nghiệp vượt quá 250 triệu euro, trừ khi một
bên nào đó có doanh thu tại một nước thành viên
chiếm trên hai phần ba toàn bộ doanh thu tại EU của
bên đó
14
9/5/2018
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (1)
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (2)
– Từ đó, CQCT có thể kết luận:
• Một là, các giao dịch TTKT chỉ bị cấm khi chúng
có tác động hoặc khả năng gây tác động HCCT
một cách đáng kể, có khả năng tạo ra hoặc củng
cố vị trí thống lĩnh thị trường.
• tác động của vụ TTKT đối với cạnh tranh là như
thế nào?
• ở mức độ nào, và
• liệu có cơ hội để khắc phục chúng hay không.
– Để có thể đi đến kết luận như vậy, CQCT có thẩm
quyền để đánh giá tác động của vụ TTKT dựa trên
việc đánh giá tác động đơn phương hoặc tác động
kết hợp hoặc của cả hai tác động nêu trên.
– Sau đó, CQCT sẽ quyết định xem:
• Có nên chấp nhận hoặc cho phép thực hiện giao dịch
TTKT hay không, hoặc
• nếu những tác động đó có thể khắc phục thì sẽ cho
phép với những điều kiện và biện pháp khắc phục
như thế nào?
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (3)
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (4)
•
Nhìn chung, các tiêu chí được sử dụng phổ biến bao gồm:
• Hai là, để đánh giá chính xác tác động đơn
phương và tác động kết hợp của các giao dịch
TTKT, CQCT thường sử dụng một loạt các tiêu
chí đánh giá, đồng thời việc đánh giá dựa trên
cơ sở của việc xem xét một cách tổng thể trong
mối tương quan của các tiêu chí đó.
–
–
–
–
–
–
Vị thế thị trường của các bên và tình trạng của đối thủ cạnh tranh;
Mức độ tập trung trên thị trường liên quan;
Lượng nhập khẩu;
Rào cản gia nhập thị trường;
Áp lực cạnh tranh từ các thị trường liên quan hoặc lân cận;
Áp lực cạnh tranh từ người sử dụng (hay sức mạnh đối kháng của
người mua);
–
Năng lực kinh doanh, hiệu quả và sức mạnh tài chính của các bên
tham gia;
–
–
Khả năng tăng giá hoặc lợi nhuận đáng kể và bền vững;
Khả năng loại bỏ đối thủ cạnh tranh mạnh và hiệu quả ra khỏi thị
trường; và
–
Các yếu tố khác ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thị trường
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (5)
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (6)
•
•
•
Bốn là, việc đánh giá tác động về kinh tế thông thường sẽ
trải qua ba bước.
Trước hết là việc xác định thị trường liên quan, bao gồm xác
định về thị trường sản phẩm và thị trường địa lý liên quan.
Bước tiếp theo là xác định về cấu trúc thị trường và mức độ
tập trung bằng cách dựa vào các tiêu chí như:
•
•
•
Ba là, việc đánh giá cũng nhằm xác định có cho phép
thực hiện kèm điều kiện hoặc không kèm điều kiện đối
với giao dịch TTKT cụ thể,
Dựa trên việc đánh giá khả năng gây tác động HCCT
và những tác động tích cực của việc TTKT đối với nền
kinh tế.
–
xác định thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường liên
quan (xác định thuần túy dựa vào yếu tố thị phần),
Từ đó, CQCT yêu cầu các bên tham gia thực hiện
những biện pháp khắc phục hậu quả.
–
–
căn cứ theo giá trị hoặc khối lượng giao dịch hoặc
sử dụng các chỉ số HHI và tỷ lệ tập trung thị trường
(Concentration Ratio – CR).
15
9/5/2018
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (7)
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (8)
•
•
•
Bước thứ ba là đánh giá tác động cạnh tranh của vụ
việc TTKT.
TTKT có thể được thực hiện dưới 3 hình thức: TTKT
theo chiều ngang, chiều dọc và hỗn hợp.
Chính vì vậy, việc đánh giá tác động cạnh tranh của vụ
TTKT sẽ được thực hiện căn cứ vào mỗi hình thức
TTKT cụ thể đó.
• Đánh giá tác động cạnh tranh bao gồm:
– Đánh giá tác động đơn phương
– Đánh giá tác động phối hợp
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (9)
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (10)
Đánh giá tác động phối hợp
– Đánh giá xem sau vụ việc TTKT đó có làm gia tăng khả
năng các doanh nghiệp trên thị trường sẽ liên kết với
nhau trong tương lai, hoặc tăng cường sự liên kết hiện tại,
từ đó xem xét liệu những khả năng này có thể gây ra
HCCT một cách đáng kể trên thị trường liên quan.
– Ngoài ra, CQCT cũng đánh giá các hạn chế hiện tại về
năng lực cạnh tranh và các yếu tố khác có tác động kìm
hãm hoặc ngăn cản sự liên kết giữa các doanh nghiệp
trên thị trường sau khi vụ việc TTKT được thực hiện
•
• Đánh giá tác động đơn phương:
– Đánh giá để xác định liệu doanh nghiệp hình thành
sau TTKT có khả năng gây HCCT một cách đáng kể
trên thị trường liên quan thông qua việc tạo lập,
củng cố vị thế trên thị trường và gia tăng khả năng
và động lực của doanh nghiệp đó trong việc lạm
dụng sức mạnh thị trường một cách độc lập hay
không?
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (11)
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (12)
•
•
Mục tiêu của việc phân tích tác động cạnh tranh trong rà
soát các vụ việc TTKT theo chiều ngang là nhằm đánh giá
khả năng gây HCCT một cách đáng kể
•
Đối với vụ việc TTKT theo chiều dọc, là việc đánh giá
tác động phản cạnh tranh đơn phương, trong đó tập
trung vào việc xem xét khả năng và động cơ của
doanh nghiệp sáp nhập trong việc phong tỏa cạnh
tranh trên thị trường và khả năng phối hợp gia tăng.
Khả năng này được xem xét qua khả năng tạo lập hoặc
củng cố khả năng hay động lực của doanh nghiệp trong
việc lạm dụng sức mạnh sau TTKT bằng các hành vi đơn
phương hoặc phối hợp với các đối thủ cạnh tranh hiện hữu
trên thị trường .
•
Do đó, khi đánh giá tác động cạnh tranh, CQCT thường cân
nhắc xem sau vụ việc TTKT có khả năng dẫn đến các hành
vi lạm dụng đơn phương hoặc phối hợp hay không.
16
9/5/2018
4.3. Cho phép và kiểm soát vụ TTKT (1)
4.2. Đánh giá tác động của vụ TTKT (13)
•
Cho phép những vụ TTKT không thuộc ngưỡng thông báo
•
Đối với vụ việc TTKT theo dạng hỗn hợp, là việc đánh
giá xem:
•
Quy định những trường hợp cấm tiến hành TTKT ngay lập
tức (per se) trong những trường hợp cụ thể (ví dụ những vụ
TTKT có liên quan đến an ninh kinh tế)
Không cho phép sau khi CQCT đã phân tích và đánh giá tác
động HCCT của vụ TTKT cụ thể này.
Cấm những vụ TTKT có tác động tiêu cực nhưng không có
biện pháp nào để khắc phục những tác động hoặc khả năng
gây tác động HCCT.
– Liệu vụ TTKT như vậy có gây ra tổn thất về cạnh tranh
trực tiếp giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường
liên quan hay không?
– Có khả năng có hiệu quả khi các sản phẩm của các bên
tham gia là bổ sung cho nhau và không gây tổn hại cho
người tiêu dùng hay không?
•
•
•
•
Cho phép vụ TTKT sau khi đánh giá cho thấy không có/ít có
tác hại đến cạnh tranh
Cho phép TTKT sau khi yêu cầu phải thực hiện các biện pháp
khắc phục
4.3. Cho phép và kiểm soát vụ TTKT (2)
5. Những bất cập của Luật Cạnh tranh 2004 (1)
•
Cơ quan cạnh tranh có thể áp dụng các trường hợp
miễn trừ trên cơ sở từng vụ việc cụ thể (case by case)
Các tiêu chí này được đánh giá dựa trên việc xem xét
các khía cạnh tích cực - tiêu cực của vụ TTKT và căn cứ
vào chính sách cạnh tranh quốc gia.
• Quy định về ngưỡng thông báo kiểm soát hoạt
động TTKT, Điều 18 của LCT 2004 hiện chỉ căn cứ
vào tiêu chí thị phần kết hợp là bất khả thi.
•
– Thực tiễn thi hành LCT 2004 cho thấy, với quy định về
thị phần, việc tự xác định thị phần của mình trên thị
trường liên quan là rất khó thực hiện tại Việt Nam.
– Các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn để biết mình
có thuộc ngưỡng bị cấm hoặc phải thông báo TTKT hay
không.
5. Những bất cập của Luật Cạnh tranh 2004 (3)
5. Những bất cập của Luật Cạnh tranh 2004 (2)
• LCT 2004 mới chỉ xem xét TTKT theo chiều
ngang, tức là TTKT giữa các doanh nghiệp trên
thị trường liên quan cùng một cấp độ kinh
doanh.
• Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại những giao dịch
TTKT theo chiều dọc, giữa các doanh nghiệp
hoạt động trên thị trường thuộc các cấp độ
khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau
• Luật Cạnh tranh 2004 hiện lại chưa có đầy đủ
cơ sở pháp lý vững chắc và đầy đủ nhằm điều
chỉnh các loại hành vi như vậy
• Thực tế một số vụ mua bán, sáp nhập có giá trị
giao dịch lớn được thực hiện bên ngoài lãnh
thổ Việt Nam nhưng lại có tác động tới thị
trường Việt Nam.
17
9/5/2018
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018
(sửa đổi) (1)
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018 (sửa đổi)
• Bản chất TTKT là sự tập trung, tích tụ quyền lực
thị trường.
• Đây là quá trình vận động tự nhiên của doanh
nghiệp, hợp pháp và cần được khuyến khích và
kiểm soát, hạn chế tác động tiêu cực mà không
phải làm nhằm cấm đoán chúng.
• Được quy định tại Chương V Luật Cạnh tranh
2018 (sửa đổi)
• Có nhiều quy định mang tính đột phá.
• Do đó, hành vi TTKT cần phải được xem xét ở cả
khía cạnh tiêu cực và tích cực bằng một hệ thống
các tiêu chí đánh giá tác động khách quan và hiệu
quả.
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018
(sửa đổi) (2)
(sửa đổi) (3)
• Không coi hành vi TTKT là một hành vi hạn
chế cạnh tranh
• Không áp dụng phương thức kiểm soát đối với
các vụ việc TTKT theo nguyên tắc cho phép -
cấm đoán một cách máy móc
• Cần dựa trên cơ sở của những phân tích về tác
động của vụ TTKT đối với cạnh tranh và đối với
nền kinh tế
• Kiểm soát TTKT cần thiết phải dựa trên:
– (i) các luận cứ và mục tiêu của chính sách kiểm
soát TTKT nói riêng, chính sách cạnh tranh nói
chung;
– (ii) nhu cầu thực hiện TTKT của các doanh nghiệp
và
– (iii) vai trò bảo vệ cạnh tranh của Nhà nước.
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018 (sửa đổi)
(sửa đổi) (4)
(5)
• Phạm vi kiểm soát TTKT được mở rộng để có thể
kiểm soát một cách có hiệu quả các hành vi TTKT
xuyên biên giới
• Việc xác định ngưỡng thông báo kiểm soát TTKT
cần phải dựa trên cơ sở các tiêu chí khác vừa khả
thi, vừa có khả năng đảm bảo mục tiêu của kiểm
soát TTKT (Điều 34 khoản 2)
• bổ sung tiêu chí đánh giá tác động của TTKT đối
với cạnh tranh nhằm xem xét tác động hậu TTKT
(Điều 32 và 33).
• Kiểm soát TTKT không chỉ theo chiều ngang,
mà phải kiểm soát các dạng TTKT theo chiều
dọc, TTKT hỗn hợp và các hình thức giành
quyền kiểm soát như việc một cá nhân kiêm
nhiệm chức vụ quản lý ở nhiều doanh nghiệp
khác nhau.
18
9/5/2018
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018 (sửa đổi) (
6)
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018 (sửa đổi) (
7)
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018 (sửa đổi) (
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018 (sửa đổi)
8)
(8)
• Đánh giá tác động tích cực của vụ TTKT
6. Quy định về TTKT trong Luật cạnh tranh 2018 (sửa đổi)
(9)
Cơ quan cạnh tranh
• Vai trò của Cơ quan cạnh tranh (Ủy ban Cạnh
tranh quốc gia) (Chương VII).
19
9/5/2018
Cơ quan cạnh tranh
1. Chức năng của cơ quan cạnh tranh
• Chức năng thực thi chính sách cạnh tranh
(chủ yếu)
• Chức năng đánh giá chính sách về cạnh tranh
(competition assessment)
• Chức năng của cơ quan cạnh tranh
• Các yêu cầu của cơ quan cạnh tranh
• Cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam
• Chức năng bảo vệ người tiêu dùng
• Chức năng điều tiết thị trường
2. Các yêu cầu của cơ quan cạnh tranh
2.1. Tính độc lập
• CQCT có quyền tự quyết về điều tra, xử lý vụ việc;
• Tính độc lập
• Tính thực quyền
• Tính chuyên trách
• Tính trung tâm trong cơ chế thực thi pháp luật
cạnh tranh
• Đảm bảo hành động phù hợp với lợi ích công cộng;
thống nhất trong cách ứng xử với các vụ việc cạnh
tranh
• Giảm thiểu động cơ lobby (vụ việc cạnh tranh có
nhiều lợi ích; là đối tượng can thiệp của doanh
nghiệp và chính giới
• Đảm bảo chất lượng điều tra và xử lý vụ việc, dễ
đạt được mục tiêu của chính sách cạnh tranh
• Giúp CQCT có quyết định nhất quán trong các vấn
đề tương tự; tạo niềm tin công chúng
2.2. Tính thực quyền
2.3. Tính chuyên trách
• CQCT cần phải có thực quyền, nghĩa là được
trao đầy đủ thẩm quyền và có thể thực thi trên
thực tế
• CQCT có thẩm quyền thực sự trong việc điều
chỉnh các hành vi HCCT và kiểm soát TTKT,
bao gồm khả năng áp dụng các biện pháp chế
tài
• Yếu tố thực quyền gắn liền với tính độc lập,
theo đó CQCT không bị chi phối bởi bất cứ tác
động nào khi thực thi nhiệm vụ của mình
• CQCT cần tập trung vào thực thi chức năng
giám sát và điều chỉnh hoạt động cạnh tranh
• Các vụ việc cạnh tranh thường khá phức tạp và
việc đánh giá đúng đắn tác động của nó đối
với cạnh tranh là hoạt động có tính chuyên
môn sâu, đòi hỏi thời gian tập trung để theo
dõi, điều tra, phân tích và đánh giá.
• Nhân lực của cơ quan phải chuyên nghiệp,
không kiêm nhiệm
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Pháp luật cạnh tranh - Bài 4: Các biện pháp nhằm điều chỉnh và kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh xuyên biên giới - Trần Thăng Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_phap_luat_canh_tranh_bai_4_cac_bien_phap_nham_dieu.pdf

