Hoàn thiện quy định của điều 373 bộ luật hình sự năm 2015 về tội dùng nhục hình
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 373 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
VỀ TỘI DÙNG NHỤC HÌNH
Hoàng Ngọc Anh*
*ThS. Trường Đào tạo, Bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm sát tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Cùng với việc trở thành thành viên của Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966, Việt Nam luôn nỗ lực trong việc xây dựng
các cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nghiêm cấm các
hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo, hạ thấp nhân phẩm của con người. Việc
hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội bức cung, nhục hình
là công cụ pháp lý hữu hiệu để đạt được mục tiêu nêu trên. Trong phạm
vi bài viết này, tác giả phân tích những bất cập trong quy định của Bộ luật
Hình sự năm 2015 về tội dùng nhục hình và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.
Từ khóa: Bộ luật Hình sự, tội
dùng nhục hình, truy cứu trách
nhiệm hình sự, hình phạt.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 15/7/2021
: 08/9/2021
: 10/9/2021
Abstract:
Article Infomation:
Since becoming a member of the International Covenant on Civil and
Political Rights in 1966, Vietnam has always made great efforts in
establishing mechanisms to protect human rights and citizens’ rights, and
prevent acts of torture, cruel treatment, and demeaning of human beings.
The improvement of the provisions of the criminal law on the crimes of
forced confession and using corporal punishment is an effective legal tool
to achieve this goal. Within the scope of this article, the author provides an
analysis of the shortcomings in the provisions of the Criminal Code of 2015
on the crime of using corporal punishment and proposes recommendations
for further improvements.
Keywords: The Criminal Code;
corporal punishment; criminal
prosecution, punishment.
Article History:
Received
Edited
: 15 Jul. 2021
: 08 Sep. 2021
: 10 Sep. 2021
Approved
Trong xã hội hiện đại, với việc tối đa hóa
các hoạt động nhằm mục đích vì con người,
đảm bảo các điều kiện sống của con người
ngày càng văn minh, tiến bộ thì việc nghiêm
cấm các hành vi xâm phạm đến tính mạng,
danh dự, nhân phẩm của con người, trong
đó có hành vi bức cung, dùng nhục hình đối
với người phạm tội đều bị nghiêm cấm.
được pháp luật bảo vệ như nhau, không có
bất cứ sự phân biệt nào.
Khoản 1 Điều 10 Công ước quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị năm 1966
tiếp tục khẳng định: “Không ai có thể bị tra
tấn hoặc phải chịu những hình phạt hay đối
xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm
giá con người; những người bị tước tự do
vẫn phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng
nhân phẩm”.
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người
năm 1948 khẳng định, không ai bị tra tấn
hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo,
vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm; tất cả
mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và
Năm 1982, Việt Nam chính thức gia
nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự
42
Số 20(444) - T10/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
và chính trị năm 1966. Với vai trò là thành
viên tích cực của Công ước, Nhà nước ta
luôn coi mục tiêu bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, coi đó là sứ mệnh lịch sử
quan trọng được ưu tiên hàng đầu.
lên để đảm bảo tính phù hợp với đòi hỏi của
thực tiễn. Có thể nói, việc sửa đổi, bổ sung
này là hoàn toàn phù hợp và cần thiết, đảm
bảo tính khoa học, logic.
Khi nghiên cứu quy định của điều luật
thì thấy, tại khoản 1 Điều 373 Bộ luật Hình
sự năm 2015 không đưa ra khái niệm cụ
thể thế nào là dùng nhục hình mà chỉ mô tả
người nào…. dùng nhục hình hoặc đối xử
tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác
dưới bất kỳ hình thức nào. Tuy nhiên, căn
cứ vào thực tiễn xét xử loại tội phạm này
có thể xác định: Dùng nhục hình là hành
vi của người có thẩm quyền trong hoạt
động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc tác động lên thể xác của
người bị buộc tội, khiến họ bị đau đớn, tổn
hại về sức khỏe, tinh thần và nhân phẩm.
Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013
khẳng định: “1. Mọi người có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phꢀm;
không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục
hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác
xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm
danh dự, nhân phꢀm”.
1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm
2015 về tội dùng nhục hình
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm
2013, Điều 373 Bộ luật Hình sự (BLHS)
năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm
2017 (BLHS năm 2015) quy định tội dùng
nhục hình.
Tội dùng nhục hình xâm phạm đến hoạt
động tố tụng theo quy định của Bộ luật Hình
sự hiện hành, đồng thời cũng xâm phạm
một số quyền cơ bản của công dân.
So với quy định tại Điều 298 Bộ luật
Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2009 thì nội dung tội dùng nhục hình
quy định tại Điều 373 Bộ luật Hình sự năm
2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng.
Cụ thể:
Về chủ thể của tội phạm: Tội phạm này
được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt, đó là
những người có chức vụ, quyền hạn nhất
định trong hoạt động tố tụng, thi hành án
hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
như: Điều tra viên thuộc Cơ quan cảnh sát
điều tra, Kiểm sát viên thuộc Viện Kiểm sát
nhân dân, Thẩm phán thuộc Tòa án nhân
dân, Trưởng trại giam giữ, trại cải tạo và
cũng có thể là Công an xã, phường trong khi
hoạt động tư pháp, hải quan, kiểm lâm,…
Điều luật có sự điều chỉnh tăng số khoản
từ 04 khoản lên thành 05 khoản; bổ sung,
làm rõ phạm vi áp dụng quy định của điều
luật là trong hoạt động tố tụng, thi hành án
hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
thay cho việc quy định là trong hoạt động
trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án như trước đây; đồng thời, cụ
thể hóa các tình tiết định tội, định khung
để đảm bảo việc đánh giá, áp dụng trong
thực tiễn được thuận lợi và chính xác hơn.
Bên cạnh đó, hình phạt áp dụng trong từng
trường hợp (khoản) cụ thể cũng được tăng
Về mặt khách quan của tội phạm: Tội
phạm sử dụng hành vi bạo lực vật chất
hoặc có hành vi khác đối với những người
đang bị bắt, đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc
Số 20(444) - T10/2021
43
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
người đang chấp hành hình phạt tù…gây
ra cho họ những đau đớn về thể xác, ảnh
hưởng đến sức khỏe, tâm sinh lý của họ.
Ví dụ như: người phạm tội có các hành vi
đánh đập người bị giam giữ, bắt quỳ khi
hỏi cung, bắt nhịn ăn...Tội dung nhục hình
là tội phạm cấu thành hình thức, có nghĩa
là chỉ cần người phạm tội có hành vi dùng
nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục
nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình
thức nào là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm
mà không đòi hỏi phải gây ra thiệt hại cho
người bị nhục hình hay chưa.
phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc
một số hình phạt bổ sung”.
Theo quy định của Điều luật, đối với mỗi
tội phạm thì người phạm tội chỉ bị áp dụng
một hình phạt chính và có thể bị áp dụng
một hoặc một số hình phạt bổ sung. Với vai
trò bổ trợ cho hình phạt chính nhằm trừng
trị người, pháp nhân thương mại phạm tội,
giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và
các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ
phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân
thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng
ngừa và đấu tranh chống tội phạm thì việc
áp dụng hình phạt bổ sung không phải là bắt
buộc trong tất cả các trường hợp, phụ thuộc
vào tính chất, mức độ của từng tội phạm mà
Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định có
áp dụng hình phạt bổ sung hay không. Việc
áp dụng hình phạt bổ sung không đặt ra đối
với người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
Về mặt chủ quan: Tội phạm được thực
hiện với lỗi cố ý. Đối với tội phạm này thì
động cơ, mục đích không phải là yếu tố cấu
thành tội phạm.
2. Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS
năm 2015 về tội dùng nhục hình và
kiến nghị
Như vậy, bản chất của hình phạt bổ sung
là nhằm bổ trợ cho hình phạt chính trong
việc trừng trị người phạm tội, giáo dục ý
thức tuân theo pháp luật… do đó, trong hầu
hết các điều luật có ghi nhận hình phạt bổ
sung, nhà làm luật đều phản ánh đúng bản
chất của loại hình phạt này bằng việc quy
định: “người phạm tội còn có thể bị…”.
Tuy nhiên, trong quy định tại khoản 5 Điều
373 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm
chức vụ,…”; với việc quy định này gây ra
nhiều cách hiểu chưa thống nhất khi áp
dụng trong thực tiễn; theo đó, có quan điểm
cho rằng, bằng việc quy định “cứng” người
phạm tội nhục hình còn bị cấm đảm nhiệm
chức vụ… là mang tính chất bắt buộc, do
đó, người phạm tội dùng nhục hình dường
như bị áp dụng cùng lúc “hai hình phạt
chính”, bắt buộc trong cùng một bản án
và điều này là không hợp lý và hợp pháp,
không phù hợp với bản chất của hình phạt
Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét
xử cho thấy quy định của BLHS năm 2015
về Tội dùng nhục hình còn những bất cập
sau đây:
-Quy định về việc áp dụng hình phạt
bổ sung
Việc quy định hình phạt bổ sung được
thiết kế trong hầu hết các điều luật trong Bộ
luật Hình sự năm 2015, nhằm tăng cường,
củng cố tác dụng của hình phạt chính. Tuy
nhiên, cách quy định như trong khoản 5
Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 lại tồn
tại sự chưa phù hợp, gây khó khăn, vướng
mắc trong quá trình áp dụng. Cụ thể:
Theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Hình
sự năm 2015 thì hình phạt bao gồm hai loại
là hình phạt chính (khoản 1) và hình phạt bổ
sung (khoản 2).
Khoản 3 Điều 32 Bộ luật Hình sự năm
2015 quy định: “3. Đối với mỗi tội phạm,
người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình
44
Số 20(444) - T10/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
bổ sung. Quan điểm khác lại cho rằng, với
bản chất của hình phạt bổ sung là mang tính
bổ trợ cho hình phạt chính nên dù quy định
như thế nào thì hình phạt bổ sung vẫn đảm
bảo bản chất nội tại của nó và thực tế thì các
chức vụ có liên quan đến hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự cũng
không nên để người phạm tội đảm nhiệm
sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng hình
phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề đối với người phạm tội dùng
nhục hình là cần thiết, nhưng cách thiết
kế như khoản 3 Điều 373 Bộ luật Hình sự
năm 2015 là không phù hợp với bản chất
của hình phạt bổ sung, không đảm bảo tính
đồng bộ với các quy định về hình phạt bổ
sung trong các điều luật khác.
- Quy định về khung hình phạt
Tác giả cho rằng, việc áp dụng hình phạt
bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề đối với người phạm tội dùng nhục hình
là cần thiết, nhưng cách thiết kế như khoản
3 Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 là
không phù hợp với bản chất của hình phạt
bổ sung, không đảm bảo tính đồng bộ với
các quy định về hình phạt bổ sung trong các
điều luật khác.
Khoản 4 Điều 373 Bộ luật Hình sự quy
định: “Phạm tội làm người bị nhục hình
chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm
hoặc tù chung thân”.
Như vậy, trong trường hợp người bị
dùng nhục hình chết thì người phạm tội sẽ
bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù
chung thân. Tuy nhiên, điều luật chỉ quy
định hậu quả là làm người bị nhục hình
chết mà không quy định phân hóa số người
chết là một người hay từ hai người trở lên.
Do đó, khi người phạm tội dùng nhục hình
dẫn đến hậu quả là làm cho một người bị
nhục hình chết cũng có thể bị truy cứu trách
nhiệm và áp dụng hình phạt giống/tương
tự đối với trường hợp người phạm tội gây
hậu quả là có từ hai người bị nhục hình chết
trở lên. Điều này không đảm bảo tính công
bằng và hợp lý trong các trường hợp tại các
phán quyết của Tòa án.
Đồng thời, chúng tôi cho rằng, quy định
của khoản 5 Điều 373 nêu trên mâu thuẫn
với chính sách hình sự quy định tại Điều 32
BLHS năm 2015. Theo đó, hình phạt bao
gồm hai loại là hình phạt chính và hình phạt
bổ sung. Đối với mỗi tội phạm, người phạm
tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có
thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt
bổ sung. Như vậy, theo quy định của Điều
32 BLHS năm 2015 hình phạt bổ sung là
không bắt buộc, phụ thuộc vào tính chất,
mức độ của từng tội phạm mà Hội đồng xét
xử sẽ xem xét, quyết định có áp dụng hình
phạt bổ sung hay không.
Nghiên cứu quy định của Bộ luật Hình
sự năm 2015 thì thấy, tại điểm a khoản 1
Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy
định về tội giết người thì người nào giết 02
người trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến
20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Đối với
các trường hợp giết người mà không thuộc
quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình
sự năm 2015 thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15
năm, trong đó có trường hợp giết 01 người.
Như vậy, nội dung Điều 123 Bộ luật Hình
Xét về bản chất của hình phạt bổ sung là
nhằm bổ trợ cho hình phạt chính trong việc
trừng trị người phạm tội, giáo dục ý thức
tuân theo pháp luật… do đó, trong hầu hết
các điều của BLHS năm 2015 có ghi nhận
hình phạt bổ sung đều phản ánh đúng bản
chất của loại hình phạt này bằng quy định:
“người phạm tội còn có thể bị…”, ngoại trừ
khoản 5 Điều 373 Bộ luật Hình sự.
Số 20(444) - T10/2021
45
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
sự năm 2015 đã có sự phân hóa trách nhiệm
hình sự đối với trường hợp giết 01 người và
trường hợp giết từ 02 người trở lên. Mặc dù
mục đích phạm tội của tội giết người và tội
dùng nhục hình mà người phạm tội hướng
đến là hoàn toàn khác nhau. Đối với tội dùng
nhục hình, người phạm tội thực hiện hành
vi phạm tội không mong muốn hậu quả chết
người xảy ra, hay nói cách khác thì hậu quả
chết người xảy ra nằm ngoài mong muốn
của họ. Tuy nhiên, hậu quả chết người đã
xảy ra và người phạm tội buộc phải chịu
hình phạt thích đáng đối với hành vi và hậu
quả do mình gây ra.
của mình. Do đó, nếu họ thực hiện hành vi
phạm tội thì họ buộc phải chịu trách nhiệm
nặng hơn, nghiêm khắc hơn so với người
dân bình thường.
Như vậy, rõ ràng việc quy định tại khoản
4 Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa
không đảm bảo được sự phân hóa trách
nhiệm hình sự trong trường hợp một người
bị nhục hình chết với trường hợp từ hai
người bị nhục hình trở lên chết. Từ đó có
khả năng việc áp dụng hình phạt trong các
trường hợp mang tính tùy tiện, không đảm
bảo tính công bằng, phù hợp. Đồng thời,
không đảm bảo việc thực hiện chính sách
hình sự của Đảng và Nhà nước ta theo tinh
thần Nghị quyết 49/NQ-TW mà tác giả vừa
nêu ở trên đối với chủ thể của tội phạm là
người có chức vụ quyền hạn với chủ thể tội
phạm là người dân bình thường. Chính vì
vậy, có thể xảy ra trường hợp người phạm
tội dùng nhục hình dẫn đến hậu quả có từ 02
người bị nhục hình trở lên chết nhưng bị áp
dụng hình phạt thấp hơn quy định tại khoản
1 Điều 123 Bộ luật Hình sự (Tội giết người)
giết 02 người trở lên với mức hình phạt tù
từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc
tử hình.
Trong tội dùng nhục hình, chủ thể của
tội phạm này là chủ thể đặc biệt, là người
có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tố
tụng, hoạt động thi hành án... nên quan
điểm của Đảng và nhà nước ta là hình phạt
áp dụng đối với chủ thể này phải nghiêm
khắc hơn chủ thể của tội giết người là
người dân bình thường. Tại tiểu mục 2.1
mục 2 phần II Nghị quyết số 49/NQ-TW
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã
khẳng định rõ: “...Quy định trách nhiệm
hình sự nghiêm khắc hơn đối với những tội
phạm là người có thꢀm quyền trong thực
thi pháp luật, những người lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để phạm tội. Người có chức
vụ càng cao mà lợi dụng chức vụ, quyền
hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm
khắc để làm gương cho người khác...”.
Từ ví dụ này đã thể hiện rõ sự khác biệt
trong việc áp dụng luật, áp dụng chế tài đối
với cùng một hậu quả “chết người” nhưng
do công dân thực hiện và do những người
có chức năng, nhiệm vụ thực hiện. Theo
khoa học hình sự thì mọi hành vi xâm phạm
đến thân thể dẫn đến tử vong, chấm dứt
sự sống của người khác đều được xem là
giết người.
Quan điểm này là hoàn toàn hợp lý và
đúng đắn; bởi lẽ, chủ thể của tội phạm là
người có chức vụ, quyền hạn là những người
có học thức, có trình độ nhất định, được
đào tạo bài bản về kỹ năng chuyên môn, về
cách ứng xử chuẩn mực, so với người dân
thì họ là những người nắm rõ quy định của
pháp luật, họ được trả lương từ nguồn đóng
góp của nhân dân để thực hiện nhiệm vụ
Tuy nhiên, nếu theo quy định của Bộ luật
Hình sự, dù cùng hậu quả có 02 người chết
người nhưng nếu do người dân thực hiện thì
có thể bị xử lý với tội danh giết người với
mức hình phạt cao nhất có thể lên đến chung
46
Số 20(444) - T10/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
thân hoặc tử hình nhưng nếu do người đang
thi hành công vụ thực hiện thì lại được áp
dụng tội dùng nhục hình với mức hình phạt
nhẹ hơn rất nhiều.
tra công an tỉnh X. Trường hợp này, nếu
xác định B, C, D là đồng phạm thì các bị
cáo này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về cùng một tội là Tội dùng nhục hình
quy định tại Điều 373 Bộ luật Hình sự năm
2015; còn nếu không chứng minh được B,
C, D là đồng phạm thì mỗi bị cáo sẽ bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về hành vi độc lập
của mình đối với hậu quả mà hành vi đó gây
ra. Theo đó, có thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội dùng nhục hình và tội giết
người (Điều 123 BLHS năm 2015).
Vì vậy, để đảm bảo sự nhất quán trong
chính sách hình sự, đảm bảo sự phù hợp với
quan điểm, chủ trương của Đảng ta, tác giả
kiến nghị trong thời gian tới, khi sửa đổi, bổ
sung Bộ luật Hình sự năm 2015, nhà làm
luật cần nghiên cứu hoàn thiện việc phân
hóa trách nhiệm hình sự cụ thể đối với
trường hợp người bị nhục hình bị chết trong
khoản 4 Điều 373 BLHS năm 2015. Theo
đó, cần có sự phân định cụ thể trách nhiệm
hình sự đối với trường hợp có 01 người
bị nhục hình chết với trường hợp có từ 02
người bị nhục hình chết.
Có thể thấy, chế định đồng phạm là
một trong những nội dung cơ bản và quan
trọng của pháp luật hình sự từ xưa đến
nay. Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, chế
định đồng phạm được quy định tại Điều 17
với nội dung như sau: “1. Đồng phạm là
trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng
thực hiện một tội phạm. 2. Phạm tội có tổ
chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết
chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện
tội phạm...”.
-Về xác định đồng phạm đối với tội
dùng nhục hình
Thực tiễn điều tra, xét xử các vụ án về tội
dùng nhục hình cho thấy, có nhiều trường
hợp việc thực hiện hành vi phạm tội không
chỉ là một người mà có từ 2 người cùng thực
hiện. Do đó, đặt ra vấn đề xác định những
người phạm tội này có phải là đồng phạm
hay không còn tồn tại nhiều quan điểm chưa
thống nhất. Bởi lẽ, nếu xác định có đồng
phạm thì tất cả những người này đều phải
chịu trách nhiệm về hậu quả cuối cùng mà
họ gây ra và chỉ cá thể hóa hình phạt qua
xác định vai trò của các bị cáo. Còn nếu xác
định họ không phải là đồng phạm thì họ chỉ
phải chịu trách nhiệm hình sự một cách độc
lập tương ứng với mức độ hậu quả mà họ
gây ra.
Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều
17 Bộ luật Hình sự 2015 thì trường hợp có
từ hai người trở lên cùng cố ý cùng thực
hiện một tội phạm thì được gọi là đồng
phạm.
Trong khoa học luật hình sự, đồng phạm
được coi là hình thức phạm tội đặc biệt,
có nhiều điểm khác biệt để phân biệt với
trường hợp phạm tội riêng lẻ. Do đó, trong
Bộ luật Hình sự đã quy định nguyên tắc xử
lý có tính riêng biệt cho trường hợp phạm
tội này và quy định bổ sung về trách nhiệm
hình sự của đồng phạm và của từng loại
người đồng phạm.
Ví dụ: Nguyễn Văn A là bị can trong vụ
án trộm cắp tài sản. A bị chết tại trại tạm
giam X trong quá trình lấy lời khai. Qua
việc điều tra, xác minh chứng minh được
người gây ra cái chết cho A là B, C, D -
đều là cán bộ điều tra thuộc cơ quan điều
Để nhận diện, đánh giá đồng phạm trong
thực tiễn, cần căn cứ vào các yếu tố chủ
yếu sau:
Số 20(444) - T10/2021
47
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Yếu tố chủ thể: chế định đồng phạm đòi
hỏi phải có ít nhất hai người trở lên, có đủ
dấu hiệu về chủ thể của tội phạm và cố ý
cùng thực hiện một tội phạm. Cùng thực
hiện một tội phạm có nghĩa là người đồng
phạm phải tham gia vào tội phạm với một
trong bốn vai trò sau: Hành vi thực hiện tội
phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm,
hành vi xúi giục người khác thực hiện tội
phạm, hành vi giúp sức người khác thực
hiện tội phạm. Trong vụ đồng phạm có
thể có đủ bốn loại hành vi này nhưng cũng
có thể chỉ có một loại hành vi - hành vi
thực hành.
đạt được mục đích đó. Tuy nhiên, trong
tội dùng nhục hình, việc chứng minh đồng
phạm đối với những người thực hiện hành
vi phạm tội không phải đơn giản và thống
nhất trong tất cả các trường hợp, bởi thực
tế, rất nhiều trường hợp không chứng minh
được những người phạm tội này có sự bàn
bạc, thỏa thuận, thống nhất nào kể cả vào
thời điểm trước hoặc trong quá trình thực
hiện tội phạm. Do vậy, trong thực tế xảy
ra việc các cơ quan tiến hành tố tụng cho
rằng đối với tội dùng nhục hình, khi xét xử,
nếu có từ hai người trở lên cùng thực hiện
tội phạm thì họ phải cùng chịu trách nhiệm
hình sự đối với hậu quả mà họ gây ra. Tuy
nhiên, việc nhận định như vậy trong một
số trường hợp là chưa hoàn toàn chính xác,
chưa đảm bảo sự phân hóa trách nhiệm hình
sự đối với từng người phạm tội với hành vi
tương ứng mà họ thực hiện. Không phải cứ
có từ hai người trở lên cùng thực hiện tội
phạm và cho rằng trường hợp này họ ngầm
thống nhất ý chí với nhau, ngầm tiếp nhận ý
chí cùng thực hiện tội phạm để chứng minh
đồng phạm đối với họ.
Về mặt chủ quan (yếu tố lỗi): đồng
phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện
tội phạm đều phải có lỗi cố ý. Với một số
tội phạm có dấu hiệu mục đích phạm tội
là dấu hiệu bắt buộc thì những người cùng
thực hiện đòi hỏi phải có cùng mục đích
này. Yếu tố chủ quan đòi hỏi những người
đồng phạm cần phải có sự thống nhất về
ý chí, có sự bàn bạc, thống nhất, hứa hẹn
trước với nhau, mong muốn sự liên kết
hành vi để cùng gây ra hậu quả nguy hiểm
cho xã hội.
Tác giả cho rằng, tội dùng nhục hình là
tội phạm có chủ thể của tội phạm là chủ
thể đặc biệt, là những người có nhiệm vụ,
quyền hạn nhất định trong hoạt động tố
tụng, hoạt động thi hành án... Do đó, đối
với loại tội phạm này, cần xác định chính
xác người nào được phân công/có quyết
định phân công thực hiện việc điều tra, thi
hành án... mà có hành vi dùng nhục hình
thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
dùng nhục hình, còn người mặc dù cùng có
chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tố tụng,
thi hành án... nhưng không phải là chủ thể
được giao thực hiện hiện nhiệm vụ điều tra
trong vụ án đó mà có hành vi đánh đập, đối
xử tàn bạo với bị can trong vụ án đó thì bị
truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng đối
với hậu quả mà hành vi của họ gây ra.
Như vậy, bản chất của đồng phạm là phải
có sự thống nhất về ý chí và lý trí. Sự thống
nhất này thể hiện thông qua sự bàn bạc,
thống nhất về mục đích thực hiện hành vi và
trong nhiều trường hợp còn có sự phân công
cụ thể về vai trò, nhiệm vụ của từng người.
Có thể thấy, nguyên nhân dẫn đến tội
phạm dùng nhục hình là rất đa dạng và phần
lớn xuất phát từ tư tưởng, tâm lý nôn nóng
của người được giao nhiệm vụ muốn nhanh
chóng điều tra để ra kết luận điều tra về
hành vi phạm tội, ... vì vậy, trong quá trình
điều tra đã sử dụng nhục hình hoặc đối xử
tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác
dưới bất kỳ hình thức nào để nhanh chóng
48
Số 20(444) - T10/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Về xác định có đồng phạm hay không,
trong khoa học luật hình sự, biểu hiện ý chí
trong đồng phạm có hai hình thức là “hành
động” và “không hành động”. Cụ thể như
sau:
Bởi tội dùng nhục hình là tội phạm được
thực hiện bởi chủ thể đặc biệt, tội phạm được
thực hiện ở những nơi đặc biệt (ví dụ: trại tạm
giam), việc chứng minh các yếu tố của đồng
phạm rất khó khăn nên thực tiễn áp dụng còn
nhiều quan điểm chưa thống nhất, gây khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Do đó, tác
giả kiến nghị trong thời gian tới, các cơ quan
có thẩm quyền trên cơ sở tổng kết thi hành
tội phạm này trong thực tiễn sớm ban hành
văn bản hướng dẫn cụ thể việc xác định đồng
phạm trong tội dùng nhục hình. Đồng thời,
cần tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ về
việc áp dụng quy định của pháp luật về tội
phạm này, đảm bảo việc áp dụng pháp luật
được thống nhất và chính xác, đảm bảo hiệu
lực và hiệu quả trong thực tiễn.
Về biểu hiện bằng hành động: Là trường
hợp chủ thể chính có lời nói, cử chỉ, thái độ,
ánh mắt, ám hiệu… để chủ thể đồng phạm
hiểu được ý muốn của họ. Việc chứng minh
sự tiếp nhận ý chí trong trường hợp này
tương đối thuận lợi vì chủ thể chính đã thể
hiện ý chí của mình bằng một hành động
cụ thể.
Về biểu hiện bằng không hành động: Là
sự để mặc cho chủ thể đồng phạm tự thực
hiện hành vi tội phạm theo mong muốn của
chủ thể chính. Đây là trường hợp rất phức
tạp mà các cơ quan tố tụng thường vướng
mắc khi giải quyết, bởi để chứng minh được
việc “để mặc” đồng nghĩa với việc “mong
muốn người khác thực hiện theo ý của
mình” là vô cùng khó khăn.
Tóm lại, có thể nói, việc xây dựng, ban
hành một đạo luật cần đảm bảo các quy định,
chế tài có tính dự liệu trước các trường hợp
có thể xảy ra trong tương lai để các đạo luật
đó không chỉ phát huy vai trò là công cụ để
đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo
bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất
nước, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào
các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật,... mà còn
đảm bảo tính ổn định lâu dài của đạo luật
đó, nhất là Bộ luật Hình sự - một trong
những đạo luật quan trọng nhất để duy trì
và bảo vệ trật tự pháp luật, góp phần xây
dựng thành công nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Với việc phân tích,
chỉ ra một số hạn chế, vướng mắc trong áp
dụng các quy định đối với tội dùng nhục
hình và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị, tác
giả mong muốn trong lần sửa đổi, bổ sung
Bộ luật Hình sự tiếp theo, các quy định về
tội dùng nhục hình tiếp tục được nghiên cứu
Trở lại ví dụ nêu trên, nếu B, C, D đều
có quyết định được giao nhiệm vụ xác
minh vụ án theo đúng trình tự, thủ tục theo
quy định mà có hành vi dùng nhục hình
gây ra cái chết cho A thì được xác định
là đồng phạm đối với tội dùng nhục hình.
Còn nếu chỉ có B là người có quyết định
phân công nhiệm vụ xác minh vụ án còn
C, D chỉ là cán bộ điều tra của cơ quan
điều tra thuộc cùng đơn vị với B, thấy B
trong quá trình điều tra đối với A có hành
vi xô xát dẫn đến B có hành vi đánh A thì
C, D cũng xông vào đánh A. Trường hợp
này hậu quả là A chết, B bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội dùng nhục hình còn
C, D chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội giết người theo quy định tại Điều 123
Bộ luật Hình sự năm 2015.
để bổ sung, hoàn thiện
Số 20(444) - T10/2021
49
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định của điều 373 bộ luật hình sự năm 2015 về tội dùng nhục hình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_quy_dinh_cua_dieu_373_bo_luat_hinh_su_nam_2015_ve.pdf

