Hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ về trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian phù hợp với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
HOÀN THIỆN DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU  
CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NHÀ CUNG CẤP  
DỊCH VỤ TRUNG GIAN PHÙ HỢP VỚI CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI  
TỰ DO THẾ HỆ MỚI  
Nguyễn Bích Thảo  
TS. Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích sự cần thiết bổ sung quy định  
về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm  
phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường số trong bối cảnh  
thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, và đưa ra các kiến nghị  
góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật  
Sở hữu trí tuệ về vấn đề này.  
Từ khóa: Nhà cung cấp dịch vụ  
trung gian, Luật Sở hữu trí tuệ,  
hiệp định thương mại tự do thế  
hệ mới.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 28/9/2021  
: 02/10/2021  
: 03/10/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, the author provides analysis of the need  
for amendments of regulations on the liability of intermediary service  
providers for the infringement of copyright and related rights in the digi-  
tal environment in the real context of enforcement of the new-generation  
free trade agreements, and also provides recommendations so that it is to  
further improve of the Bill of Law amending a number of articles of the  
Law on Intellectual Property related this discussed matter.  
Keywords: Intermediary service  
provider; Law on Intellectual Property  
law; new generation free trade  
agreements.  
Asia.Article History:  
Received  
Edited  
: 28 Sep. 2021  
: 02 Oct. 2021  
: 03 Oct. 2021  
Approved  
1. Sự cần thiết bổ sung quy định về  
trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch  
vụ trung gian trong Luật sở hữu trí tuệ  
Trong khoảng ba thập kỷ trở lại đây,  
sự phát triển của Internet đã đặt ra những  
thách thức chưa từng có đối với việc thực  
thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Con  
người hiện đại chỉ với một chiếc máy tính  
xách tay hoặc điện thoại thông minh là có  
thể tiếp cận và thưởng thức các tác phẩm  
văn học, nghệ thuật, khoa học, chương  
trình phát sóng tại bất kỳ thời gian, địa  
điểm nào, có thể tải xuống, chia sẻ, phát  
trực tiếp, và còn có thể dễ dàng khởi tạo  
và chia sẻ nội dung do chính họ tạo ra nhờ  
các công nghệ số. Để người dùng thực  
Số 19(443) - T10/2021  
17  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hiện được các hoạt động này, không thể  
thiếu vai trò của các nhà cung cấp dịch vụ  
trung gian (Intermediary Service Provider  
- ISP). Trên thực tế, tình trạng xâm phạm  
quyền SHTT do người dùng Internet thực  
hiện trên môi trường số xảy ra tràn lan và  
đáng báo động. Tuy nhiên, các cơ quan có  
thẩm quyền rất khó xử lý hàng triệu người  
dùng ẩn danh. Đã có một số vụ việc, trong  
đó chủ thể quyền khởi kiện ISP trước Tòa  
án Việt Nam yêu cầu ISP phải chịu trách  
nhiệm đối với hành vi xâm phạm quyền tác  
giả, quyền liên quan do người dùng thực  
hiện như vụ Công ty cổ phần VNG kiện Tik  
Tok – nền tảng trung gian cho phép người  
dùng chia sẻ video ngắn vào tháng 8/20201.  
VNG cáo buộc Tik Tok đã để người dùng  
đăng tải trái phép nhiều bản ghi âm, ghi  
hình thuộc sở hữu của Zing Mp3 – trang  
web nghe nhạc trực tuyến thuộc VNG và  
yêu cầu bồi thường thiệt hại lên tới 221 tỷ  
đồng. Như vậy, vấn đề trách nhiệm của các  
ISP trong thực thi quyền SHTT, đặc biệt là  
quyền tác giả, quyền liên quan, trên môi  
trường Internet được đặt ra cấp thiết trong  
bối cảnh hiện nay.  
cơ chế này, có sự chuyển giao quyền lực và  
trách nhiệm từ phía cơ quan nhà nước sang  
các chủ thể tư nhân – các ISP, bởi chính  
các chủ thể này có điều kiện tốt nhất để  
kịp thời ngăn chặn, buộc chấm dứt hành vi  
xâm phạm quyền SHTT trên nền tảng số  
do họ cung cấp.  
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên quy định  
về trách nhiệm của các ISP đối với hành  
vi xâm phạm quyền tác giả trực tuyến  
tại Điều 512 Luật Bản quyền thiên niên  
kỷ kỹ thuật số (DMCA) năm 1997. Tiếp  
theo, năm 2000, Chỉ thị về thương mại  
điện tử của Liên minh châu Âu (Chỉ thị  
về TMĐT) được ban hành có điều chỉnh  
vấn đề này với cách tiếp cận tương tự  
với Hoa Kỳ. Các quốc gia khác gần đây  
cũng nhận thức tầm quan trọng của vấn  
đề và bổ sung quy định của pháp luật về  
trách nhiệm của ISP. Chẳng hạn, Bộ luật  
Dân sự Trung Quốc (có hiệu lực từ ngày  
1/1/2021) dành tới 4 điều quy định về  
trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ  
Internet (Điều 1194-1197)3.  
Trong khi đó, ở phạm vi quốc tế, Hiệp  
định về các khía cạnh thương mại của  
quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) của Tổ  
chức Thương mại thế giới WTO mặc dù  
được coi là điều ước quốc tế đa phương  
đầu tiên đặt ra các chuẩn mực đầy đủ, toàn  
diện về thực thi quyền SHTT, nhưng chưa  
dự liệu được sự phức tạp, tinh vi, đa dạng  
của hành vi xâm phạm quyền SHTT khi  
nhân loại bước vào kỷ nguyên số, và chưa  
có quy định về trách nhiệm của các ISP.  
Điểm bất cập này đã được bổ sung bởi các  
Thực thi quyền SHTT trên môi trường  
số là một lĩnh vực mới nổi lên và ngày càng  
đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thực  
thi quyền SHTT. Thực thi quyền SHTT  
trong môi trường số cũng được tiến hành  
thông qua các cơ chế dân sự, hành chính,  
hình sự giống như thực thi quyền SHTT  
trong môi trường thực; bên cạnh đó, còn có  
cơ chế đặc thù liên quan chặt chẽ đến trách  
nhiệm của các chủ thể trung gian2. Trong  
1
truy cập ngày 08/10/2021.  
2 Seuba, Xavier (2017). The Global Regime for The Enforcement of Intellectual Property Rights. Cambridge  
University Press, p. 21.  
3
f627aa3a4651475db936899d69419d1e/files/47c16489e186437eab3244495cb47d66.pdf.  
18  
Số 19(443) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ  
mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và  
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)  
và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam  
– Liên minh châu Âu (EVFTA). CPTPP  
và EVFTA đều có những điều khoản mới  
về tăng cường thực thi quyền SHTT trong  
môi trường số, với quy định riêng về trách  
nhiệm của ISP.  
trong môi trường số, đồng thời để thực hiện  
các cam kết của Việt Nam về SHTT trong  
các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.  
Do đó, việc Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung  
một số điều của Luật SHTT bổ sung thêm  
các dạng hành vi xâm phạm quyền tác giả,  
quyền liên quan của nhà cung cấp dịch vụ  
trung gian ở Điều 28 và Điều 35, bổ sung  
thêm nội dung quyền tự bảo vệ của chủ thể  
quyền SHTT ở Điều 198 và bổ sung một  
điều luật mới (Điều 198b) quy định trách  
nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên  
quan đối với doanh nghiệp cung cấp dịch  
vụ trung gian là hoàn toàn phù hợp.  
2. Hoàn thiện quy định của Dự thảo Luật  
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở  
hữu trí tuệ về trách nhiệm của nhà cung  
cấp dịch vụ trung gian phù hợp với các  
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới4  
2.1. Quy định về trách nhiệm của nhà  
cung cấp dịch vụ trung gian trong các  
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới  
Về nguyên tắc, việc quy định trách  
nhiệm của các ISP phải bảo đảm cân bằng  
giữa hai lợi ích: một là, thúc đẩy sự phát  
triển các dịch vụ trung gian trực tuyến; hai  
là, cho phép các chủ thể quyền đối phó một  
cách hiệu quả với hành vi xâm phạm quyền  
tác giả xảy ra trong môi trường Internet5.  
Do đó, các FTA thế hệ mới một mặt yêu  
cầu các nước thành viên phải quy định chặt  
chẽ trách nhiệm của ISP đối với hành vi  
xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan  
của người sử dụng dịch vụ trung gian do  
mình cung cấp; mặt khác phải quy định rõ  
những “giới hạn an toàn” (safe harbors),  
Trong khi đó, khung pháp lý hiện hành  
của Việt Nam về trách nhiệm của ISP đối  
với hành vi xâm phạm quyền SHTT trên  
Internet còn rất sơ sài, chưa tương thích  
với các chuẩn mực quốc tế và chưa đáp  
ứng yêu cầu thực tiễn về thực thi quyền  
SHTT trong môi trường số. Luật SHTT  
năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm  
2009 và năm 2019 (Luật SHTT) không  
quy định về trách nhiệm của ISP đối với  
hành vi xâm phạm quyền tác giả trực  
tuyến. Thông tư liên tịch số 07/2012/  
TTLTBTTTT-BVHTTDL ngày 19/6/2012  
của Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Văn  
hóa, thể thao và du lịch quy định trách  
nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ  
trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả  
và quyền liên quan trên môi trường mạng  
Internet và mạng viễn thông (Thông tư liên  
tịch số 07) vẫn là văn bản quy phạm pháp  
luật duy nhất hiện nay có quy định cụ thể  
về trách nhiệm của ISP đối với việc thực  
thi quyền SHTT trên Internet.  
Với tầm quan trọng của vấn đề này, rất  
cần thiết phải pháp điển hóa quy định về  
trách nhiệm của ISP trong Luật SHTT để  
nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT  
4 Dự thảo được bình luận trong bài viết này là Dự thảo trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội  
truy cập ngày 08/10/2021). Tuy nhiên, trong bài viết, tác giả có so sánh với quy định về nhà cung cấp dịch vụ  
trung gian ở các dự thảo trước để bình luận về sự phát triển của quy định này.  
5 Khoản 1 Điều 18.82 CPTPP.  
Số 19(443) - T10/2021  
19  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
tức là những trường hợp ISP được miễn  
trừ trách nhiệm6. Hiệp định EVFTA dành  
riêng tiểu mục 3 trong Mục C - Thực thi  
quyền SHTT, Chương 12 (SHTT) để quy  
định về nhà cung cấp dịch vụ trung gian.  
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương  
(TPP) cũng dành riêng mục J Chương 18  
quy định về nhà cung cấp dịch vụ Internet.  
Tuy nhiên, CPTPP đã tạm hoãn Điều 18.82  
của TPP (Chế tài pháp lý và Khu vực an  
toàn) quy định về nghĩa vụ của nhà cung  
cấp dịch vụ Internet khi có sự vi phạm bản  
quyền trực tuyến7. Mặc dù vậy, quy định tại  
Điều 18.82 nói trên vẫn là chuẩn mực quốc  
tế cao về thực thi quyền SHTT trong môi  
trường số mà về lâu dài, pháp luật SHTT  
Việt Nam cần đáp ứng khi tham gia vào sân  
chơi toàn cầu.  
bởi nhà cung cấp dịch vụ, hoặc (b) chuyển  
hoặc kết nối người dùng đến một vị trí trực  
tuyến bằng việc sử dụng các công cụ định  
vị thông tin bao gồm các siêu liên kết và thư  
mục. Như vậy, định nghĩa ISP trong CPTPP  
là rất rộng và bao quát hầu hết các dịch vụ  
trực tuyến.  
Điều 18.82 CPTPP (đã được tạm hoãn  
thi hành) quy định mỗi nước thành viên  
phải bảo đảm có các chế tài pháp lý (legal  
remedies) dành cho chủ thể quyền để xử  
lý hành vi xâm phạm quyền tác giả diễn  
ra trên môi trường mạng trực tuyến, đồng  
thời thiết lập hoặc duy trì các khu vực an  
toàn thích hợp đối với các dịch vụ trực  
tuyến của ISP.  
Khung chế tài pháp lý và khu vực an  
toàn này phải bao gồm: thứ nhất, các động  
lực pháp lý (legal incentives) để ISP hợp tác  
với chủ thể quyền tác giả nhằm ngăn chặn  
các hành vi lưu trữ và truyền đưa các nội  
dung đã được bảo hộ quyền tác giả mà chưa  
được sự cho phép của chủ thể quyền, hoặc,  
để ISP có các hành động khác nhằm ngăn  
chặn các hành vi nêu trên; thứ hai, các giới  
hạn nhằm miễn trừ trách nhiệm bồi thường  
mà ISP phải gánh chịu đối với các hành  
vi xâm phạm quyền tác giả diễn ra trên hệ  
thống hoặc mạng được vận hành bởi ISP,  
nếu ISP không phải là chủ thể điều khiển,  
khởi xướng, hay chỉ đạo hành vi xâm phạm  
quyền tác giả. Các giới hạn đó gồm những  
trường hợp sau đây:  
a) Quy định về trách nhiệm của nhà  
cung cấp dịch vụ trung gian trong Hiệp  
định CPTPP  
Điều 18.81 CPTPP định nghĩa nhà cung  
cấp dịch vụ Internet bao gồm (1) nhà cung  
cấp các dịch vụ trực tuyến cho việc truyền  
dẫn, định tuyến, hoặc cung cấp kết nối cho  
truyền thông trực tuyến kỹ thuật số, giữa  
hai hay nhiều điểm do người dùng xác định,  
đối với các nội dung do người dùng lựa  
chọn, thực hiện chức năng truyền tải, định  
tuyến hoặc cung cấp những liên kết của tài  
liệu mà không làm thay đổi nội dung của  
nó, hoặc việc lưu trữ trung gian và tạm thời  
các tài liệu đó được tiến hành tự động trong  
một quy trình kỹ thuật, và (2) nhà cung cấp  
dịch vụ trực tuyến thực hiện chức năng (a)  
lưu trữ tài liệu theo sự chỉ dẫn của người  
sử dụng, trên một hệ thống hoặc không  
gian mạng được kiểm soát hoặc vận hành  
(1) Truyền dẫn, định tuyến, hoặc cung  
cấp kết nối đến các tài liệu mà không làm  
thay đổi nội dung của tài liệu đó, hoặc  
lưu trữ trung gian và tạm thời các tài liệu  
đó một cách tự động trong một quy trình  
kỹ thuật;  
6 Điều 18.82 CPTPP, Điều 12.55 EVFTA.  
7 Điều 2 và Phụ lục (mục 7) Văn kiện Hiệp định CPTPP.  
20  
Số 19(443) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
(2) Lưu trữ tạm thời thực hiện thông  
qua một quy trình tự động;  
cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải  
có chế tài phạt tiền đối với người nào cố  
tình đưa ra thông báo sai khiến cho ISP  
hành động theo thông báo đó gây thiệt hại  
cho bên liên quan.  
(3) Lưu trữ, theo chỉ định của người  
dùng, tài liệu trên hệ thống hoặc mạng  
được điều khiển hoặc vận hành bởi ISP;  
(4) Chuyển hoặc kết nối người dùng  
đến một vị trí trực tuyến bằng việc sử dụng  
các công cụ định vị thông tin, gồm cả siêu  
liên kết và thư mục.  
Đối với trường hợp (3) và (4), để được  
miễn trừ trách nhiệm, ISP phải nhanh  
chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy cập  
đến tài liệu trên mạng hoặc hệ thống của  
họ khi thực tế biết được hành vi xâm phạm  
quyền tác giả hoặc biết được các sự kiện,  
tình huống trong đó hành vi xâm phạm là  
rõ ràng hiển nhiên, ví dụ như nhận được  
một thông báo về hành vi bị cáo buộc xâm  
phạm từ chủ thể quyền hoặc người được  
chủ thể quyền ủy quyền.  
ISP khi đã gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc  
truy cập đến tài liệu một cách thiện chí  
sẽ được miễn trừ khỏi bất kỳ trách nhiệm  
nào cho hành động này, với điều kiện ISP  
thực hiện các bước hợp lý để thông báo  
trước hoặc ngay sau đó tới người có thông  
tin bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy cập.  
Để đáp ứng được điều kiện miễn trừ trách  
nhiệm, ISP không bị buộc phải giám sát  
dịch vụ của mình hoặc chủ động tìm kiếm  
chứng cứ về hành vi xâm phạm.  
Ngoài ra, để cân bằng lợi ích giữa chủ  
thể quyền SHTT và các bên liên quan,  
Điều 18.82 còn quy định cụ thể về trách  
nhiệm khôi phục lại tài liệu của ISP khi  
nhận được thông báo phản hồi của bên  
có tài liệu bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy  
cập, trừ trường hợp người gửi thông báo vi  
phạm đầu tiên đã khởi kiện ra tòa án trong  
một khoảng thời gian hợp lý. Điều 18.82  
Có thể thấy, Điều 18.82 CPTPP vừa đòi  
hỏi các quốc gia có biện pháp để ISP tham  
gia chủ động, tích cực vào công tác thực  
thi quyền tác giả trên môi trường mạng,  
vừa bảo vệ các ISP. Điều này được thiết  
kế theo mô hình Điều 512 Đạo luật Bản  
quyền thiên niên kỷ kỹ thuật số (DMCA)  
của Hoa Kỳ, với các quy định rất chi tiết  
và cụ thể về trách nhiệm của ISP đối với  
hành vi xâm phạm quyền tác giả của người  
dùng Internet và các trường hợp miễn trách  
nhiệm. Các quy định này hướng đến đảm  
bảo cân bằng giữa hai mục tiêu: (1) tăng  
cường thực thi quyền tác giả trong môi  
trường số, buộc ISP phải có trách nhiệm  
đối với hành vi xâm phạm xảy ra trên hệ  
thống do họ cung cấp dù họ không phải  
là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi xâm  
phạm; (2) thúc đẩy tự do Internet và sự  
phát triển của các ISP bằng cách tạo các  
giới hạn an toàn cho ISP (các trường hợp  
miễn trách nhiệm), tránh đặt gánh nặng  
quá lớn cho ISP trong việc kiểm soát thông  
tin lưu chuyển trên hệ thống. Trường hợp  
không thực hiện quy trình thông báo và  
gỡ bỏ (notice and take down), ISP sẽ phải  
chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi xâm  
phạm quyền tác giả, dựa trên lý thuyết về  
trách nhiệm gián tiếp (secondary liability).  
Trách nhiệm gián tiếp là trách nhiệm pháp  
lý của người không trực tiếp xâm phạm  
quyền của người khác, nhưng hành vi của  
người đó có vai trò nhất định dẫn đến thiệt  
hại cho chủ thể quyền, chẳng hạn như  
khuyến khích, thúc đẩy, hoặc thu lợi từ  
Số 19(443) - T10/2021  
21  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hành vi xâm phạm8. Trách nhiệm gián tiếp  
thường có hai loại: trách nhiệm thay thế  
(vicarious liability) và trách nhiệm đóng  
góp (contributory liability). Một chủ thể  
phải chịu trách nhiệm đóng góp nếu biết  
hoặc buộc phải biết về hành vi xâm phạm,  
nhưng vẫn xúi giục, gây ra hoặc góp phần  
đáng kể cho hành vi xâm phạm của người  
khác, chẳng hạn như cung cấp phương tiện  
cho người xâm phạm trực tiếp.  
hiện rõ sự tiếp nhận mô hình trách nhiệm  
ISP theo Chỉ thị về TMĐT10. Về cơ bản,  
đây vẫn là mô hình trách nhiệm gián tiếp  
và quy định các giới hạn, miễn trừ trách  
nhiệm đối với trường hợp ISP chỉ đóng  
vai trò truyền dẫn thông tin, lưu trữ tạm  
thời thông tin, hoặc cho thuê chỗ lưu trữ,  
với điều kiện ISP gỡ bỏ hoặc chặn ngay  
việc truy cập thông tin khi biết về hành vi  
xâm phạm.  
Các quy định của Điều 18.82 cho thấy,  
ISP hiện nay đóng vai trò như những cơ  
quan thực thi quyền SHTT trên môi trường  
mạng. Thay vì thực hiện các thủ tục pháp  
lý tại cơ quan có thẩm quyền như khởi kiện  
tại tòa án, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền  
xử phạt vi phạm hành chính, chủ thể quyền  
SHTT có thể gửi thông báo và yêu cầu ISP  
thực hiện ngay các biện pháp mang tính  
khẩn cấp bao gồm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn  
truy cập tài liệu bị cáo buộc xâm phạm.  
Có thể coi đây là một kênh thực thi quyền  
SHTT mới trong môi trường số, hiệu quả  
hơn, nhanh chóng hơn, đơn giản, tiết kiệm  
hơn so với việc yêu cầu cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm, mà  
vẫn đạt được mục đích của chủ thể quyền  
là chấm dứt ngay hành vi xâm phạm9.  
b) Quy định về trách nhiệm của nhà  
cung cấp dịch vụ Internet trong Hiệp  
định EVFTA  
Theo Điều 12.55 EVFTA, mỗi Bên  
phải quy định giới hạn hoặc miễn trừ trong  
pháp luật quốc gia liên quan đến trách  
nhiệm pháp lý của ISP đối với việc xâm  
phạm quyền tác giả và quyền liên quan xảy  
ra trên mạng viễn thông liên quan đến việc  
cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ của các  
ISP. Giới hạn và miễn trừ ít nhất phải bao  
gồm những hoạt động sau:  
(a) Truyền dẫn trong mạng viễn thông  
các thông tin do người sử dụng dịch vụ  
cung cấp, hoặc cung cấp truy cập mạng viễn  
thông (“chỉ truyền dẫn” - mere conduit);  
(b) Truyền dẫn trong mạng viễn thông  
thông tin do người sử dụng dịch vụ cung  
cấp liên quan đến việc lưu trữ tự động,  
trung gian và tạm thời các thông tin, được  
thực hiện chỉ nhằm mục đích làm cho  
việc truyền tải thông tin hiệu quả hơn đến  
người sử dụng dịch vụ khác theo yêu cầu  
của họ (“lưu trữ tạm thời”- caching), với  
điều kiện là nhà cung cấp phải: (i) không  
thay đổi thông tin trừ trường hợp vì lý do  
kỹ thuật; (ii) tuân thủ các điều kiện về tiếp  
cận thông tin; (iii) tuân thủ các quy định  
EVFTA cũng có cách tiếp cận tương tự  
như CPTPP về trách nhiệm của ISP dù các  
quy định không chi tiết bằng CPTPP. Các  
quy định của EVFTA về vấn đề này thể  
8 Mark Bartholomew & John Tehranian, The Secret Life of Legal Doctrine: The Divergent Evolution of Sec-  
ondary Liability in Trademark and Copyright Law, Berkeley Tech. L.J. 21 (2006) 1363-1419.  
9
Phạm Duy Khương, Vai trò của nhà cung cấp dịch vụ Internet trong việc bảo vệ quyền tác giả trên môi  
viec-bao-ve-quyen-tac-gia-tren-moi-truong-mang-tai-viet-nam-trong-tpp/, truy cập ngày 08/10/2021.  
10 Directive 2000/31/EC of the European Parliament and of the Council of 8 June 2000 on certain legal aspects  
of information society services, in particular electronic commerce, in the Internal Market.  
22  
Số 19(443) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
2.2. Quy định của Dự thảo Luật sửa  
đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu  
trí tuệ về trách nhiệm của nhà cung cấp  
dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm  
phạm quyền tác giả, quyền liên quan  
liên quan đến cập nhật thông tin, được quy  
định cụ thể theo cách thức được ngành  
công nghiệp công nhận và sử dụng rộng  
rãi; (iv) không được can thiệp để có được  
dữ liệu về việc sử dụng thông tin bằng  
việc sử dụng hợp pháp công nghệ đã được  
ngành công nghiệp thừa nhận và sử dụng  
rộng rãi; (v) gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc  
truy cập thông tin đã được lưu trữ khi biết  
rằng thực tế là thông tin tại nguồn truyền  
dẫn đã được gỡ bỏ khỏi mạng hoặc truy  
cập đã bị chặn;  
(c) Việc lưu trữ thông tin do người sử  
dụng dịch vụ cung cấp theo yêu cầu của  
người sử dụng dịch vụ (“cho thuê chỗ lưu  
trữ” - hosting) với điều kiện là nhà cung  
cấp: (i) không biết về thông tin bất hợp  
pháp; và (ii) khi biết được thông tin đó,  
hành động nhanh chóng để gỡ bỏ hoặc  
ngăn chặn các truy cập tới thông tin đó.  
Đối với trường hợp ISP chỉ đóng vai trò  
truyền dẫn thông tin hoặc cung cấp truy  
cập, ISP được miễn trừ trách nhiệm mà  
không cần đáp ứng thêm điều kiện nào.  
Đối với trường hợp ISP cung cấp dịch vụ  
“lưu trữ tạm thời” thông tin hoặc “cho  
thuê chỗ lưu trữ”, để được miễn trừ trách  
nhiệm, ISP phải đáp ứng thêm các điều  
kiện khác, trong đó có việc tuân thủ cơ chế  
“notice and take down” (nhanh chóng gỡ  
bỏ hoặc ngăn chặn truy cập thông tin khi  
biết về hành vi xâm phạm). Như vậy, khi  
mức độ tham gia và đóng góp của ISP vào  
hành vi xâm phạm của người dùng càng  
tăng thì trách nhiệm (gián tiếp) của ISP đối  
với việc đảm bảo thực thi quyền tác giả  
càng cao hơn. Do đó, việc phân loại các  
dịch vụ do ISP cung cấp có vai trò quan  
trọng trong việc quy trách nhiệm của ISP.  
Đây cũng là nguyên tắc được thể hiện tại  
Điều 18.82 CPTPP như đã phân tích ở trên.  
Quy định về trách nhiệm của nhà cung  
cấp dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm  
phạm quyền tác giả, quyền liên quan đã có  
sự thay đổi đáng kể qua 3 bản Dự thảo Luật  
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở  
hữu trí tuệ (Dự thảo Luật). Dự thảo Luật  
lần 1 ngày 17/11/2020 chưa bổ sung quy  
định về hành vi xâm phạm quyền tác giả,  
quyền liên quan của nhà cung cấp dịch vụ  
trung mà chỉ bổ sung Điều 198b với tiêu  
đề “Quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp  
cung cấp dịch vụ trung gian”. Điều 198b  
ở Dự thảo Luật lần 1 hầu như ghi nhận lại  
toàn bộ quy định về trách nhiệm của nhà  
cung cấp dịch vụ trung gian trong Thông  
tư liên tịch số 07, với cách tiếp cận hoàn  
toàn khác CPTPP và EVFTA: thay vì đưa  
ra các trường hợp và điều kiện giới hạn,  
miễn trừ trách nhiệm của ISP thì Dự thảo  
Luật lần 1 liệt kê các trường hợp ISP phải  
chịu trách nhiệm bồi thường, và các quy  
định về quyền, trách nhiệm của ISP mang  
tính chất quản lý hành chính, đứng từ góc  
độ quản lý của cơ quan nhà nước hơn là từ  
góc độ của chủ thể quyền SHTT. Cách tiếp  
cận này chưa tương thích với chuẩn mực  
quốc tế về thực thi quyền SHTT trong môi  
trường số theo các FTA thế hệ mới.  
Dự thảo Luật lần 3 trình Quốc hội cho  
ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa  
X đã có bước tiến đáng kể trong quy định  
về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ  
trung gian, chuyển hoàn toàn từ cách tiếp  
cận của Thông tư liên tịch số 07 sang cách  
tiếp cận của các FTA thế hệ mới. Dự thảo  
Luật lần 3 bổ sung vào Điều 198 một nội  
Số 19(443) - T10/2021  
23  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
dung quan trọng trong quyền tự bảo vệ  
của chủ thể quyền SHTT, đó là quyền yêu  
cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm  
quyền SHTT phải “gỡ bỏ và xóa nội dung  
vi phạm trên môi trường mạng viễn thông  
và mạng Internet công cộng”. Đồng thời,  
Điều 198b đã thay đổi tiêu đề là “Trách  
nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên  
quan đối với doanh nghiệp cung cấp dịch  
vụ trung gian”. Nội dung điều luật này  
gồm 6 vấn đề:  
Thứ nhất, Dự thảo Luật định nghĩa  
thống nhất về doanh nghiệp cung cấp dịch  
vụ trung gian là “doanh nghiệp cung cấp  
phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân  
sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số  
lên môi trường mạng viễn thông và mạng  
Internet công cộng; cung cấp kết nối trực  
tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng  
nội dung thông tin số trên môi trường  
mạng viễn thông và mạng Internet công  
cộng”. Định nghĩa này về cơ bản đã tương  
thích với định nghĩa về nhà cung cấp dịch  
vụ trung gian trong các FTA thế hệ mới,  
và cũng hàm ý rằng định nghĩa này không  
bao gồm các nền tảng thương mại điện  
tử (e-commerce platforms) như Lazada,  
Shopee.. mà chỉ bao gồm các doanh nghiệp  
cung cấp dịch vụ truyền dẫn, kết nối, lưu  
trữ, cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin  
số (tác phẩm và các đối tượng quyền liên  
quan được thể hiện dưới dạng số). Như  
vậy, đối với các sàn thương mại điện tử,  
trách nhiệm của họ về hành vi xâm phạm  
quyền SHTT của người dùng (như bán,  
chào bán hàng hóa giả mạo về SHTT) sẽ  
được điều chỉnh bởi pháp luật về thương  
mại điện tử.  
thuật, phối hợp với các cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền, các chủ thể quyền thực thi  
các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền  
liên quan trên môi trường mạng viễn thông  
và mạng Internet công cộng.  
Thứ ba, Dự thảo Luật quy định 4 trường  
hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung  
gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý  
đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả,  
quyền liên quan trên môi trường mạng  
viễn thông và mạng Internet công cộng,  
đó là: (1) chỉ truyền dẫn hoặc cung cấp  
khả năng truy cập đến nội dung thông tin  
số; (2) lưu trữ thông tin tự động, tạm thời  
trong quá trình truyền dẫn thông tin (với  
các điều kiện: chỉ biến đổi thông tin vì lý  
do công nghệ; tuân thủ các điều kiện truy  
nhập, sử dụng nội dung thông tin số; tuân  
thủ các quy tắc về cập nhật nội dung thông  
tin số được quy định cụ thể theo cách thức  
được ngành công nghiệp thừa nhận và sử  
dụng rộng rãi; không ngăn cản việc sử  
dụng hợp pháp công nghệ được thừa nhận  
rộng rãi trong ngành công nghiệp để lấy  
dữ liệu về việc sử dụng nội dung thông tin  
số; và gỡ bỏ nội dung thông tin số hoặc  
không cho truy nhập đến nội dung thông  
tin số khi biết rằng nội dung thông tin số  
đó đã được gỡ bỏ tại nguồn khởi đầu hoặc  
nguồn khởi đầu đã hủy việc truy nhập đến  
nội dung thông tin số đó); (3) lưu trữ nội  
dung thông tin số của người dùng theo yêu  
cầu của người dùng (với điều kiện: không  
biết rằng nội dung thông tin số đó vi phạm  
quyền tác giả, quyền liên quan và có hành  
động nhanh chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn  
việc truy nhập tới nội dung thông tin số  
đó khi biết rằng nội dung thông tin số đó  
vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan,  
(4) Các trường hợp khác theo quy định của  
Chính phủ.  
Thứ hai, Dự thảo Luật quy định doanh  
nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có  
trách nhiệm triển khai các biện pháp kỹ  
24  
Số 19(443) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Trong trường hợp doanh nghiệp cung  
cấp dịch vụ trung gian không thực hiện hoặc  
thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ để được  
miễn trừ trách nhiệm pháp lý theo khoản 3  
Điều 198b thì sẽ bị coi là có hành vi xâm  
phạm quyền tác giả, quyền liên quan (theo  
khoản 8 Điều 28 hoặc khoản 11 Điều 35 mới  
được bổ sung vào Dự thảo Luật lần 3) và  
phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng.  
Thứ tư, Dự thảo Luật nhấn mạnh rằng các  
điều kiện để doanh nghiệp cung cấp dịch vụ  
trung gian được hưởng miễn trừ trách nhiệm  
pháp lý nêu trên không buộc doanh nghiệp  
cung cấp dịch vụ trung gian phải tự giám sát  
dịch vụ của mình hoặc chủ động tìm kiếm  
các bằng chứng chỉ ra hành vi xâm phạm.  
Đây là điều khoản quan trọng để tránh áp đặt  
gánh nặng quá lớn cho các ISP trong việc  
giám sát nội dung thông tin số lưu chuyển  
trên hệ thống/nền tảng của mình.  
Thứ năm, Dự thảo Luật khẳng định quy  
định về miễn trừ trách nhiệm pháp lý theo  
Điều 198b không loại trừ trách nhiệm pháp  
lý khác đối với các doanh nghiệp cung cấp  
dịch vụ trung gian theo quy định của Luật  
SHTT và pháp luật khác có liên quan.  
Thứ sáu, Dự thảo Luật giao cho Chính  
phủ quy định chi tiết về doanh nghiệp cung  
cấp dịch vụ trung gian, trường hợp miễn  
trừ và trách nhiệm thực thi các biện pháp  
bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan.  
Như vậy, về cơ bản, Điều 198b trong  
Dự thảo Luật lần 3 đã tương thích với các  
FTA thế hệ mới, đặc biệt là với EVFTA.  
Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm cần tiếp  
tục hoàn thiện như sau:  
trường mạng viễn thông và mạng Internet  
công cộng”.  
Hai là, định nghĩa “doanh nghiệp cung  
cấp dịch vụ trung gian” là một định nghĩa  
quan trọng, nên được chuyển lên Điều 4  
về Giải thích từ ngữ thay vì đặt ở khoản 1  
Điều 198b.  
Ba là, một số quy định của khoản 3  
Điều 198b chưa thống nhất và hợp lý ở  
những điểm sau:  
- Mục đích của khoản 3 là nêu ra các  
trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch  
vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm  
pháp lý. Do đó, các điểm a, b, c khoản 3  
phải nêu lên các dạng hành vi mà ISP được  
miễn trách nhiệm (và kèm theo điều kiện,  
nếu có). Tuy nhiên, cấu trúc diễn đạt của  
điểm a, b, c khoản 3 Điều 198b chưa thống  
nhất. Điểm a và c liệt kê hành vi trong khi  
điểm b lại được diễn đạt thành nghĩa vụ  
của ISP.  
- Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm  
ở điểm a, b và c thiếu một nội dung quan  
trọng được nhấn mạnh trong Điều 12.55  
EVFTA là thông tin số phải “do người sử  
dụng dịch vụ cung cấp” (nguyên văn tiếng  
Anh: information provided by a user of  
the service) nhằm thể hiện rằng vai trò  
của ISP chỉ mang tính chất “gián tiếp”,  
“trung gian”.  
- Việc thêm điểm d (các trường hợp  
khác do Chính phủ quy định) khiến cho  
điều luật trở nên không chắc chắn, không  
rõ ràng, gây bất an cho các doanh nghiệp  
cung cấp dịch vụ trung gian cũng như các  
chủ thể quyền và phải chờ hướng dẫn của  
Chính phủ để thi hành điều luật quan trọng  
này. Về nguyên tắc, các trường hợp “miễn  
trừ trách nhiệm” hay “giới hạn an toàn”  
nên được luật quy định một cách cụ thể và  
xác định; do đó, tác giả kiến nghị bỏ điểm d  
Một là, tên điều luật chưa chính xác và  
chưa đầy đủ, cần sửa thành “Trách nhiệm  
pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch  
vụ trung gian đối với hành vi xâm phạm  
quyền tác giả, quyền liên quan trên môi  
Số 19(443) - T10/2021  
25  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
khoản 3 Điều 198b trong Dự thảo. EVFTA  
a) Chỉ thực hiện việc truyền dẫn hoặc  
cũng chỉ yêu cầu các quốc gia thành viên cung cấp khả năng truy nhập đến nội dung  
quy định tối thiểu 3 trường hợp miễn trừ thông tin số do người sử dụng dịch vụ  
trách nhiệm như ở điểm a, b và c.  
cung cấp;  
b) Thực hiện chức năng lưu trữ đệm  
- Điểm c yêu cầu doanh nghiệp cung cấp  
dịch vụ trung gian phải nhanh chóng gỡ bỏ trong quá trình truyền dẫn thông tin do  
hành động hoặc ngăn chặn việc truy nhập người sử dụng dịch vụ cung cấp một cách  
tới nội dung thông tin số được lưu trữ trên tự động, tạm thời nhằm mục đích trung  
nền tảng của mình chỉ khi “biết rằng nội chuyển thông tin và làm cho việc truyền  
dung thông tin số đó vi phạm quyền tác giả, dẫn thông tin hiệu quả hơn, với các điều  
quyền liên quan” là chưa hợp lý, vì một kiện sau: chỉ biến đổi thông tin vì lý do  
hành vi chỉ được xác định là hành vi xâm công nghệ; tuân thủ các điều kiện truy  
phạm khi có quyết định của tòa án hoặc cơ nhập, sử dụng nội dung thông tin số; tuân  
quan nhà nước có thẩm quyền. Trên thực thủ các quy tắc về cập nhật nội dung thông  
tế, ISP không thể biết chắc chắn rằng nội tin số được quy định cụ thể theo cách thức  
dung thông tin số có xâm phạm quyền tác được ngành công nghiệp thừa nhận và sử  
giả, quyền liên quan hay không mà chỉ có dụng rộng rãi; không ngăn cản việc sử  
thể có thông tin cáo buộc về hành vi xâm dụng hợp pháp công nghệ được thừa nhận  
phạm (chủ yếu do chủ thể quyền cung cấp), rộng rãi trong ngành công nghiệp để lấy  
trừ trường hợp có thông báo hay yêu cầu từ dữ liệu về việc sử dụng nội dung thông tin  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền (trường số; và gỡ bỏ nội dung thông tin số hoặc  
hợp này ít xảy ra). Do đó, về điểm này, không cho truy nhập đến nội dung thông  
nên tham khảo quy định của Điều 18.82 tin số khi biết rằng nội dung thông tin số  
CPTPP, làm rõ ISP phải nhanh chóng gỡ đó đã được gỡ bỏ tại nguồn khởi đầu hoặc  
bỏ hoặc chặn truy cập đến nội dung thông nguồn khởi đầu đã hủy việc truy nhập đến  
tin số khi thực tế biết được về hành vi xâm nội dung thông tin số đó theo quy định của  
phạm hoặc khi nhận được thông báo của Chính phủ;  
chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.  
c) Lưu trữ nội dung thông tin số do  
Như vậy, mới bảo đảm tính kịp thời trong người sử dụng dịch vụ cung cấp theo yêu  
thực thi quyền trên môi trường số và đề cao cầu của người sử dụng dịch vụ, với các điều  
sự chủ động của các chủ thể quyền SHTT.  
kiện sau: không biết rằng nội dung thông  
Để khắc phục hạn chế nêu trên, tác giả tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền  
cho rằng, khoản 3 Điều 198b cần được sửa liên quan; và có hành động nhanh chóng gỡ  
lại như sau:  
bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội  
“3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ dung thông tin số đó khi biết rằng nội dung  
trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả,  
lý đối với hành vi xâm phạm quyền tác quyền liên quan hoặc khi nhận được thông  
giả, quyền liên quan trên môi trường mạng báo của chủ thể quyền tác giả, quyền liên  
viễn thông và mạng Internet công cộng liên quan cáo buộc nội dung thông tin số xâm  
quan đến việc cung cấp hoặc sử dụng dịch phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo  
vụ của mình trong các trường hợp sau:  
quy định của Chính phủ”  
26  
Số 19(443) - T10/2021  
pdf 10 trang Thùy Anh 12460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ về trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian phù hợp với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_du_thao_luat_sua_doi_bo_sung_mot_so_dieu_cua_luat.pdf