Tài liệu Hỏi đáp về quyền con người (Phần 1)

HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Hỏi ‐ Đáp, với những thông tin ngắn gọn, súc tích, được  
chia thành các mục chuyên biệt, bao gồm cả những vấn đề  
lý luận, pháp lý về nhân quyền ở tầm quốc tế và Việt Nam.  
Cuốn sách, được tái bản lần thứ nhất vào năm 2011, đã  
nhận được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc, đặc biệt là  
các bạn trẻ. Do đó, trong năm nay (2013), chúng tôi tái bản  
cuốn sách lần thứ hai với một số nội dung được cập nhật  
và bổ sung (thêm 7 câu hỏi đáp vào Phần I).  
LỜI GIỚI THIỆU  
Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập (năm 1945),  
quyền con người đã được quy định cụ thể trong hàng trăm  
văn kiện pháp luật quốc tế, trở thành một hệ thống tiêu  
chuẩn pháp lý toàn cầu được các quốc gia, trong đó có Việt  
Nam, cam kết tôn trọng và thực hiện. Ở Việt Nam, việc phổ  
biến và giáo dục nhân quyền ngày càng được Đảng và Nhà  
nước quan tâm và khuyến khích.  
Chúng tôi hy vọng cuốn sách này sẽ là tài liệu tham  
khảo tốt trong nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề quyền con  
người và mong nhận được ý kiến góp ý của bạn đọc.  
Hà Nội, tháng 1 năm 2013  
KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU  
Trong bối cảnh đó, một số cơ sở đào tạo, trong đó có  
Khoa Luật ‐ Đại học Quốc gia Hà Nội, đã và đang xây  
dựng và thực hiện các chương trình giáo dục, nghiên cứu  
và phổ biến quyền con người. Nhiều tài liệu phục vụ các  
hoạt động này đã được xây dựng và xuất bản, trong đó có  
cuốn Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người của  
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2009  
(tái bản năm 2011).  
QUYỀN CON NGƯỜI - QUYỀN CÔNG DÂN  
Mặc dù vậy, những tài liệu hiện có vẫn chưa đủ để đáp  
ứng nhu cầu giảng dạy, nghiên cứu và tìm hiểu quyền con  
người ngày càng cao ở nước ta. Trước thực tế đó, trong  
năm 2010, Khoa Luật ‐ Đại học Quốc gia Hà Nội đã xuất  
bản cuốn sách Hỏi đáp về Quyền con người dựa trên cuốn  
Giáo trình kể trên nhằm giúp bạn đọc dễ dàng tiếp cận với  
những nội dung cốt lõi nhất của vấn đề nhân quyền. Với  
chủ ý như vậy, chúng tôi đã xây dựng cuốn sách dưới dạng  
– 5 –  
– 6 –  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HĐBA Hội đồng Bảo an của Liên hợp quốc (the United  
Nations’ Security Council)  
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁCH  
HĐQT Hội đồng Quản thác của Liên hợp quốc  
(the United Nations’ Trusteeship Council)  
CHỮ VIẾT TẮT  
TÊN ĐẦY ĐỦ  
HRC Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc  
(the United Nations’ Human Rights Council)  
BLDS Bộ luật Dân sự  
BLHS Bộ luật Hình sự  
ICJ Tòa án Công lý quốc tế (International Court of Justice)  
BLLĐ Bộ luật Lao động  
ILO Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour  
Organization)  
BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự  
BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự  
Luật BCĐBHĐND Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân  
Luật BCĐBQH Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội  
Luật HN&GĐ Luật Hôn nhân và Gia đình  
Luật TCTAND Luật Tổ chức Tòa án nhân dân  
HĐND Hội đồng nhân dân  
OHCHR Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về nhân  
quyền (Office of the United Nations’ High  
Commissioner for Human Rights)  
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc (the  
United Nations’ Development Programme)  
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên  
Hợp Quốc (the United Nations’ Educational,  
Scientific and Cultural Organization)  
MTTQ Mặt trận Tổ quốc  
UBND Ủy ban nhân dân  
UNHCR Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về người tỵ  
nạn (Office of the United Nations’ High  
Commissioner for Refugees)  
Viện KSND Viện Kiểm sát nhân dân  
CHR Ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc (United  
Nations Commission on Human Rights)  
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (the United  
Nations’ Childrenʹs Fund)  
ĐHĐ Đại hội đồng Liên hợp quốc (the United Nations  
General Assembly)  
UNIFEM  
Quỹ phát triển phụ nữ của Liên hợp quốc (the  
United Nations’ Development Fund for Women)  
ECOSOC Hội đồng Kinh tế ‐ Xã hội Liên hợp quốc (the  
United Nations’ Economic and Social Council)  
– 7 –  
– 8 –  
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁCH  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
WHO  
CAT  
ICRPD Công ước về quyền của những người khuyết  
Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)  
tật (Convention on the Rights of Persons with  
Disabilities)  
Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt  
và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác,  
1984 (Convention against Torture and Other Cruel,  
Inhuman or Degrading Treatment or Punishment)  
RBA Tiếp cận dựa trên quyền (Right‐based approach)  
UDHR Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, 1948  
(Universal Declaration of Human Rights)  
CEDAW  
Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt  
đối xử với phụ nữ (Convention on the Elimination of  
All Forms of Discrimination against Women)  
UPR Cơ chế đánh giá nhân quyền định kỳ toàn thể  
(Universal Periodic Review)  
* Bản quyền sơ đồ, ảnh minh họa: Hầu hết các sơ đồ trong sách do  
các tác giả xây dựng; các ảnh về Liên Hợp Quốc được lấy từ trang  
www.unmultimedia.org; các ảnh khác được lấy từ các trang:  
wikipedia… Các nguồn khác được chú thích cụ thể trong sách.  
CRC  
ICCPR  
ICERD  
Công ước về quyền trẻ em (Convention on the  
Rights of the Child)  
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị  
(International Covenant on Civil and Political Rights)  
Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức  
phân biệt đối xử về chủng tộc (International  
Convention on the Elimination of All Forms of  
Racial Discrimination)  
ICESCR Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội  
và văn hóa (International Covenant on Economic,  
Social and Cultural Rights)  
ICPPED Công ước quốc tế về bảo vệ tất cả mọi người  
khỏi bị đưa đi mất tích, 2006 (International  
Convention for the Protection of All Persons from  
Enforced Disappearance)  
ICRMW Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của tất cả  
người lao động di trú và các thành viên trong  
gia đình họ (International Convention on the  
Protection of the Rights of All Migrant Workers and  
Members of Their Families)  
– 9 –  
– 10 –  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Câu hỏi 13 Quyền con người và an ninh con người có mối liên hệ  
như thế nào?....................................................................................... 46  
Câu hỏi 14 Quyền con người và tự do có mối liên hệ như thế nào?............. 48  
Câu hỏi 15 Quyền con người và dân chủ có mối liên hệ như thế nào?........ 50  
Câu hỏi 16 Quyền con người và quản trị tốt có mối liên hệ như thế nào?.. 51  
MỤC LỤC  
Câu hỏi 17 Quyền con người và tăng trưởng kinh tế  
Lời giới thiệu............................................................................................................. 5  
Các chữ viết tắt trong sách ..................................................................................... 7  
có mối liên hệ như thế nào?............................................................. 53  
Câu hỏi 18 Quyền con người có mối liên hệ như thế nào  
PHẦN I  
với việc xóa bỏ đói nghèo?............................................................... 54  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Câu hỏi 19 Quyền con người có mối liên hệ như thế nào  
với an ninh quốc gia?........................................................................ 55  
Câu hỏi 1 “Quyền con người” là gì? ................................................................ 21  
Câu hỏi 20 Việc bảo đảm quyền con người có mối liên hệ  
Câu hỏi 2 Quyền con người có nguồn gốc tự nhiên  
như thế nào với những đặc thù về văn hóa?................................ 56  
hay do pháp luật quy định? ............................................................ 22  
Câu hỏi 21 Nghĩa vụ của các nhà nước trong việc bảo đảm  
nhân quyền thể hiện cụ thể như thế nào?..................................... 58  
Câu hỏi 3 Quyền con người có những đặc trưng gì? .................................... 25  
Câu hỏi 4 Tư tưởng của nhân loại về quyền con người được  
hình thành từ bao giờ và phát triển như thế nào?....................... 27  
Câu hỏi 22 Thế nào là hành động thụ động và chủ động trong việc  
thực thi nhân quyền?........................................................................ 60  
Câu hỏi 5 Thế nào là “các thế hệ nhân quyền“?............................................. 30  
Câu hỏi 6 Nhân quyền có thể được phân loại như thế nào?........................ 32  
Câu hỏi 7 Quyền cá nhân và quyền tập thể có gì khác nhau không?......... 33  
Câu hỏi 23 Yêu cầu thực hiện các quyền dân sự, chính trị và các quyền  
kinh tế, xã hội, văn hóa có gì khác nhau?...................................... 61  
Câu hỏi 24 Phải chăng các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa không phải  
là các quyền thực chất?..................................................................... 62  
Câu hỏi 8 Những đối tượng nào là chủ thể của quyền con người?  
Những đối tượng nào là chủ thể có trách nhiệm bảo đảm  
Câu hỏi 25 Có khi nào một quốc gia có thể tạm đình chỉ thực hiện  
các quyền con người hay không? ................................................... 65  
quyền con người?.............................................................................. 35  
Câu hỏi 9 Bảo vệ quyền con người là quyền hay trách nhiệm? .................. 37  
Câu hỏi 26 Luật quốc tế có đặt ra yêu cầu gì với các quốc gia trong việc  
tạm đình chỉ thực hiện quyền con người hay không? ................ 66  
Câu hỏi 10 Phải chăng Luật nhân quyền quốc tế chỉ đề cập  
đến quyền mà không đề cập đến trách nhiệm/nghĩa vụ  
của cá nhân? ....................................................................................... 40  
Câu hỏi 27 Luật quốc tế có đặt ra những tiêu chí nào để đánh giá tính  
phù hợp của việc tạm đình chỉ thực hiện quyền hay không? ... 67  
Câu hỏi 11 Quyền con người, quyền công dân có gì giống, khác nhau?..... 42  
Câu hỏi 28 Giới hạn quyền là gì? Những quyền con người nào có thể  
bị giới hạn? ......................................................................................... 69  
Câu hỏi 12 Quyền con người và phát triển con người có mối liên hệ  
như thế nào?....................................................................................... 44  
– 11 –  
– 12 –  
MỤC LỤC  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Câu hỏi 29 Luật quốc tế có đặt ra yêu cầu gì với các quốc gia  
Câu hỏi 44 Luật nhân quyền quốc tế được hình thành và phát triển  
như thế nào? Liên Hợp Quốc có vai trò như thế nào  
trong việc giới hạn quyền hay không? .......................................... 71  
Câu hỏi 30 Liệu có thể bảo đảm nhân quyền trong hoàn cảnh  
nguồn lực kinh tế còn hạn chế không?.......................................... 72  
trong quá trình này? ......................................................................... 99  
Câu hỏi 45 Hệ thống văn kiện của Luật nhân quyền quốc tế đề cập đến  
những vấn đề gì? Những văn kiện nào là quan trọng nhất?... 102  
Câu hỏi 31 Vị trí của vấn đề quyền con người trong quan hệ quốc tế như  
thế nào?............................................................................................... 73  
Câu hỏi 46 Luật nhân quyền quốc tế đề cập đến những quyền  
và tự do cụ thể nào?........................................................................ 103  
Câu hỏi 32: Giáo dục quyền con người có ý nghĩa như thế nào?................... 75  
Câu hỏi 33: “Tuyên ngôn về Giáo dục và đào tạo về nhân quyền“ (2011) có  
nội dung cơ bản gì?........................................................................... 77  
Câu hỏi 47 Bộ máy nhân quyền Liên Hợp Quốc gồm  
những cơ quan nào?........................................................................ 105  
Câu hỏi 34: Có các cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người nào? .......... 79  
Câu hỏi 48 Cơ chế dựa trên Hiến chương và cơ chế dựa trên công ước là gì?  
Hai cơ chế này có điểm gì khác nhau?......................................... 108  
Câu hỏi 35: Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực  
ASEAN được thành lập như thế nào? ........................................... 80  
Câu hỏi 36: “Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN“ (2012) có những nội dung  
cơ bản gì? ............................................................................................ 82  
Câu hỏi 49 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc có vai trò gì trong việc  
bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền? .................................................. 109  
Câu hỏi 37: Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người cấp quốc gia là gì?.... 83  
Câu hỏi 38: Thế nào là “các nhóm người dễ bị tổn thương“?......................... 85  
Câu hỏi 50 Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc có vai trò gì trong việc  
bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền? .................................................. 110  
Phần II  
Câu hỏi 51 Hội đồng Kinh tế ‐Xã hội Liên Hợp Quốc có vai trò gì  
trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền? ............................... 113  
LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VÀ CƠ CHẾ CỦA LIÊN  
HỢP QUỐC VỀ BẢO VỆ, THÚC ĐẨY NHÂN QUYỀN  
Câu hỏi 52 Hội đồng Quản thác của Liên Hợp Quốc trước đây có vai trò gì  
trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền? ............................... 116  
Câu hỏi 39 Luật nhân quyền quốc tế là gì? Ngành luật này có vị trí  
như thế nào trong hệ thống luật quốc tế? ..................................... 88  
Câu hỏi 53 Tòa án Công lý Quốc tế có vai trò gì trong việc bảo vệ  
và thúc đẩy nhân quyền?............................................................... 117  
Câu hỏi 40 Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật nhân quyền  
quốc tế là gì?....................................................................................... 90  
Câu hỏi 54 Ban Thư ký Liên Hợp Quốc có vai trò gì trong việc bảo vệ  
và thúc đẩy nhân quyền?............................................................... 120  
Câu hỏi 41 Nguồn của Luật nhân quyền quốc tế là gì?.................................. 91  
Câu hỏi 55 Cao ủy nhân quyền Liên Hợp Quốc là gì và có vai trò gì  
trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người? ...................... 121  
Câu hỏi 42 Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia  
có mối quan hệ như thế nào? .......................................................... 93  
Câu hỏi 56 Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc là gì?  
Câu hỏi 43 Luật nhân quyền quốc tế và Luật nhân đạo quốc tế  
có quan hệ với nhau như thế nào? ................................................. 96  
Tại sao cơ quan này được thành lập? .......................................... 123  
– 13 –  
– 14 –  
MỤC LỤC  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Câu hỏi 57 Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc có những chức năng,  
Câu hỏi 72 Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận  
và bình đẳng trước pháp luật được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? ...................... 159  
nhiệm vụ gì? Cơ quan này được tổ chức như thế nào?............ 125  
Câu hỏi 58 Thế nào là Cơ chế đánh giá định kỳ toàn thể  
về nhân quyền (UPR)?.................................................................... 126  
Câu hỏi 73 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt  
tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? ...................... 162  
Câu hỏi 59 Tiến trình thực hiện UPR như thế nào?....................................... 127  
Câu hỏi 60 Ủy ban nhân quyền trước đây và Hội đồng nhân quyền  
hiện nay giống và khác nhau ở những điểm gì?........................ 128  
Câu hỏi 74 Quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? 165  
Câu hỏi 61 Hiện có bao nhiêu Ủy ban giám sát việc thực hiện  
các công ước quốc tế về nhân quyền?.......................................... 133  
Câu hỏi 62 Các Ủy ban công ước được thành lập như thế nào? ................. 135  
Câu hỏi 75 Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? 168  
Câu hỏi 63 Các Ủy ban công ước có những chức năng,  
nhiệm vụ cụ thể gì?......................................................................... 135  
Câu hỏi 76 Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm  
của những người bị tước tự do được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? ...................... 171  
Câu hỏi 64 Việc xem xét báo cáo quốc gia của các Ủy ban công ước  
diễn ra như thế nào? ....................................................................... 138  
Câu hỏi 65 Luật nhân quyền quốc tế quy định việc tiếp nhận  
và giải quyết khiếu tố về nhân quyền như thế nào? ................. 140  
Câu hỏi 77 Quyền được xét xử công bằng được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? ...................... 174  
Câu hỏi 66 Thủ tục điều tra đặc biệt là gì?...................................................... 144  
Câu hỏi 78 Quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi ở được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? 178  
Câu hỏi 67 Những cơ quan nào của Liên Hợp Quốc tiếp nhận  
các khiếu nại cá nhân về vi phạm nhân quyền? ........................ 146  
Câu hỏi 68 Quan hệ giữa các cơ quan nhân quyền Liên Hợp Quốc  
và các tổ chức phi chính phủ như thế nào? ................................ 148  
Câu hỏi 79 Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? 180  
Câu hỏi 69 Quy trình tham gia và tổ chức thực hiện các điều ước  
quốc tế về nhân quyền của các quốc gia như thế nào?............. 151  
Câu hỏi 80 Quyền tự do ngôn luận và biểu đạt được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? 186  
Câu hỏi 70 Các tổ chức quốc tế có thể hỗ trợ các quốc gia như thế nào  
trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về nhân quyền? ....... 153  
Câu hỏi 81 Quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? 190  
Phần III  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN  
CON NGƯỜI CƠ BẢN THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ  
VÀ VIỆT NAM  
Câu hỏi 82 Quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước  
được quy định như thế nào trong pháp luật quốc tế  
và pháp luật Việt Nam? ................................................................. 191  
Câu hỏi 71 Quyền sống được quy định như thế nào trong pháp luật  
quốc tế và pháp luật Việt Nam? ................................................... 156  
Câu hỏi 83 Quyền được bảo vệ đời tư được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam? ...................... 194  
– 15 –  
– 16 –  
MỤC LỤC  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Phần IV  
TUYÊN NGÔN TOÀN THẾ GIỚI VỀ NHÂN QUYỀN, 1948...................... 258  
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ, QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH  
SÁCH VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM  
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN KINH TẾ,  
XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ, 1966............................................................................ 268  
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ  
VÀ CHÍNH TRỊ, 1966.......................................................................................... 287  
Câu hỏi 84 Các quyền con người được tôn trọng như thế nào trong  
truyền thống và lịch sử Việt Nam? .............................................. 200  
Câu hỏi 85 Ai là người nhắc đến khái niệm nhân quyền sớm nhất ở  
Việt Nam?......................................................................................... 204  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 322  
Câu hỏi 86 Phong trào dân quyền ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX  
đã diễn ra như thế nào?.................................................................. 207  
Câu hỏi 87 Các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam  
về quyền con người được hình thành từ những cơ sở nào  
và được quy định ở đâu? ............................................................... 210  
Câu hỏi 88 Đảng, Nhà nước Việt Nam có quan điểm như thế nào  
về nhân quyền?................................................................................ 211  
Câu hỏi 89 Về phương diện đối nội, Đảng, Nhà nước Việt Nam  
có chính sách gì để bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền? ............... 219  
Câu hỏi 90 Về phương diện đối ngoại, Đảng, Nhà nước Việt Nam  
có chính sách gì để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người? ...... 228  
Câu hỏi 91 Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập những điều ước quốc tế  
nào về quyền con người?............................................................... 232  
Câu hỏi 92 Gần đây có báo cáo viên, chuyên gia độc lập về nhân quyền nào  
của Liên Hợp Quốc đã đến thăm Việt Nam? ............................. 233  
PHỤ LỤC I  
DANH MỤC CÁC VĂN KIỆN QUỐC TẾ VỀ NHÂN  
QUYỀN ........................................................................................237  
PHỤ LỤC II  
DANH MỤC MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ  
VỀ NHÂN QUYỀN MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN..... 255  
PHỤ LỤC III  
TOÀN VĂN BỘ LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ ...........258  
– 17 –  
– 18 –  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
P H Ầ N I  
KHÁI LƯỢC  
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
– 19 –  
– 20 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Câu hỏi 1  
ngữ human rights. Từ human rights trong tiếng Anh có thể  
được dịch là quyền con người (thuần Việt) hoặc nhân quyền  
(Hán ‐ Việt). Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền”  
chính là “quyền con người”3. Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ  
học, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do  
đó, hoàn toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu,  
giảng dạy và hoạt động thực tiễn về nhân quyền.  
“Quyền con người” là gì?  
Trả lời  
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người  
(human rights), theo Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc  
thì: ʺQuyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát  
(universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm  
chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions)  
làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và  
Trong cuốn sách này, hai thuật ngữ “nhân quyền” và  
“quyền con người” sẽ cùng được sử dụng vì lý do trên.  
1
tự do cơ bản(fundamental freedoms) củacon ngườiʺ .  
Câu hỏi 2  
Bên cạnh đó, quyền con người còn được định nghĩa một  
cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con  
người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể  
sống như một con người2.  
Quyền con người có nguồn gốc tự nhiên hay do pháp  
luật quy định?  
Trả lời  
Dù định nghĩa các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu  
ra không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền  
con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự  
nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo  
vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.  
Về vấn đề này, có hai trường phái trái ngược nhau.  
Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên (natural  
rights) ‐ mà tiêu biểu là các tác giả như Zeno (333‐264  
TCN), Thomas Hobbes (1588‐1679), John Locke (1632‐  
1704), Thomas Paine (1731‐1809)... cho rằng nhân quyền là  
những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều  
được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia  
đình nhân loại. Do đó, các quyền con người không phụ  
thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay  
Trong thực tế ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con  
người”, có một thuật ngữ khác cũng được sử dụng, đó là  
“nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật  
1
United Nations, Human Rights: Questions and Answers, New  
York and Geneva, 2006, tr.4.  
2
3
Viện Ngôn ngữ học: Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hoá ‐ Thông  
tin, HN,1999, tr.1239.  
Như trên.  
– 21 –  
– 22 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng  
đồng hay nhà nước nào. Cũng do đó, không một chủ thể  
nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tùy tiện tước  
bỏ các quyền con người.  
quyền được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự  
nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng được của các  
cá nhân .  
4
NHÂN QUYỀN  
Ngược lại, những người theo học thuyết về các quyền  
pháp lý (legal rights) ‐ mà tiêu biểu là các tác giả như  
Edmund Burke (1729‐1797), Jeremy Bentham (1748‐1832)...  
cho rằng các quyền con người không phải là những gì  
bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà  
nước quy định trong pháp luật. Như vậy, theo học thuyết  
này, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất định, cả thời hạn  
hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của  
tầng lớp thống trị và những yếu tố như phong tục, tập  
quán, truyền thống văn hóa... của từng xã hội.  
Những giá trị tự nhiên, vốn có của mọi cá nhân, được  
pháp luật (quốc gia, quốc tế, khu vực) ghi nhận và bảo vệ  
Học thuyết về quyền tự nhiên  
Học thuyết về các quyền pháp lý  
(natural rights)  
(legal rights)  
Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai  
học thuyết kể trên vẫn còn tiếp tục. Việc phân định tính  
chất đúng, sai, hợp lý và không hợp lý của hai học thuyết  
này là không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm  
vi rộng lớn các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức,  
pháp lý… Mặc dù vậy, dường như quan điểm cực đoan  
phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào đều không phù  
hợp, bởi lẽ trong khi về hình thức, hầu hết các văn kiện  
pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con  
người là các quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế  
giới về nhân quyền năm 1948, một số văn kiện pháp luật  
và văn kiện chính trị pháp lý ở một số quốc gia, nhân  
Ảnh: Từ phải qua: Thomas Hobbes, John Locke , Thomas Paine, Edmund  
Burke và Jeremy Bentham.  
4
Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (đoạn 1, Lời nói đầu) nêu  
rằng:… thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và  
không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại. Ở  
góc độ quốc gia, Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ  
(1776) nêu rằng:… mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo  
hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong  
đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…  
Những tuyên bố này về sau được tái khẳng định trong bản Tuyên  
ngôn Dân quyền và Nhân quyền 1789 của nước Pháp và bản Tuyên  
ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam.  
– 23 –  
– 24 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Tuy nhiên, tùy bối cảnh và với những đối tượng cụ thể,  
có thể ưu tiên thực hiện một số quyền con người nhất định  
(ví dụ, khi có dịch bệnh đe dọa, quyền được ưu tiên thực  
hiện là quyền được chăm sóc y tế, hoặc cần có những  
quyền đặc biệt cho do phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật,  
người thiểu số... do đây là những nhóm yếu thế). Điều này  
không có nghĩa là bởi các quyền được ưu tiên thực hiện có  
giá trị cao hơn, mà bởi vì các quyền đó trong thực tế có  
nguy cơ bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các  
quyền khác.  
Câu hỏi 3  
Quyền con người có những đặc trưng gì?  
Trả lời  
Nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng,  
quyền con người có những đặc trưng (hay còn gọi là tính  
chất) cơ bản sau đây:  
Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con người  
là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp  
dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình  
nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì.  
Tuy nhiên, cần chú ý là sự bình đẳng không có nghĩa là cào  
bằng mức độ hưởng thụ, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể và  
cơ hội thụ hưởng các quyền con người.  
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated,  
interdependent): Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con  
người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ  
thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực  
tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo  
đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo  
đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực  
đến việc bảo đảm các quyền khác.  
Tính không thể chuyển nhượng (inalienable): Thể hiện ở chỗ  
các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một  
cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả bởi nhà nước. Mọi  
giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều  
phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích  
chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác.  
Những đặc trưng của quyền con người  
Phổ biến  
Liên hệ, phụ  
thuộc lẫn nhau  
Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các  
quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, về  
nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao  
hơn quyền nào, bởi lẽ việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ  
quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và  
sự phát triển của con người.  
Quyền con  
người là tự  
Mọi quyền con  
người đều có giá  
trị như nhau và  
đều cần phải  
được tôn trọng,  
bảo đảm  
Các quyền con  
người không  
thể bị tước bỏ  
hay hạn chế  
một cách tùy  
tiện bởi bất cứ  
chủ thể nào.  
Bất kỳ quyền  
con người nào  
được bảo đảm  
hay bị vi phạm  
đều tác động tích  
cực hay tiêu cực  
đến các quyền  
khác.  
nhiên, vốn có.  
Mọi thành viên  
của nhân loại  
đều là chủ thể  
của các quyền  
con người.  
thực hiện.  
– 25 –  
– 26 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
1470‐1497) của Việt Nam cũng xứng đáng được xếp vào  
danh sách những bộ luật cổ tiêu biểu của thế giới khi  
nghiên cứu về quyền con người.  
Câu hỏi 4  
Tư tưởng của nhân loại về quyền con người được hình  
thành từ bao giờ và phát triển như thế nào?  
Bên cạnh đó, tư tưởng về quyền con người còn được  
phản ánh trong các học thuyết, ấn phẩm tôn giáo, chính trị  
và pháp lý của nhân loại từ xưa đến nay. Những tài liệu  
được cho là cổ xưa nhất xét về tư tưởng quyền con người  
của nhân loại bao gồm: Văn tuyển Nho giáo (Luận ngữ),  
Kinh Vệ Đà của đạo Hin‐đu, Kinh Phật của đạo Phật, Kinh  
Thánh của đạo Thiên chúa, Kinh Kô‐ran của đạo Hồi... Ở  
mức độ và từ những góc độ khác nhau, các tài liệu này đã  
phản ánh những quan điểm có tính hệ thống của nhân loại  
về nhân phẩm, tự do, bình đẳng, bác ái và cách thức bảo  
vệ, khuyếch trương những giá trị cao quý đó.  
Trả lời  
Theo một số học giả, những tư tưởng về quyền con  
người đã xuất hiện từ thời tiền sử, thể hiện trong các luật lệ  
của chiến tranh. Tuy nhiên, ở trình độ phát triển của thời  
tiền sử, có lẽ con người mới chỉ có những ý niệm, chứ chưa  
thể có những tư tưởng (với ý nghĩa là những quan điểm  
hoặc hệ thống quan điểm rõ ràng về một sự vật, hiện tượng  
nhất định) về quyền con người. Bởi vậy, tư tưởng về quyền  
con người có thể chỉ được khởi thủy cùng với sự xuất hiện  
của những nền văn minh cổ đại.  
Các nhà nghiên cứu thường trích dẫn những bộ luật cổ  
ban hành qua các thời kỳ ở nhiều quốc gia, khu vực khác  
nhau để phân tích sự phát triển của tư tưởng nhân quyền  
trong lịch sử nhân loại. Những bộ luật tiêu biểu hay được  
trích dẫn bao gồm Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780  
TCN); Bộ luật của vua Cyrus Đại đế (khoảng năm 576‐529  
TCN); Bộ luật của vua Ashoka (Ashokaʹs Edicts, khoảng  
năm 272‐231); Hiến pháp Medina (The Constitution of  
Medina, do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622);  
Đại Hiến chương Magna Carta (năm 1215); Bộ luật về  
quyền (năm 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về Nhân  
quyền và Dân quyền (năm 1789) của nước Pháp; Tuyên  
ngôn Độc lập (năm 1776) và Bộ luật về các quyền (1789)  
của nước Mỹ... Bộ luật Hồng Đức (Quốc Triều Hình Luật,  
Các tư tưởng, lý thuyết hiện đại về nhân quyền đã được  
manh nha ở châu Âu ngay từ thời kỳ Trung cổ và phát  
triển một cách rực rỡ trong thời kỳ Phục hưng, với những  
học giả vĩ đại như Thomas Hobbes (1588‐1679), John Locke  
(1632‐1704), Thomas Paine (1731‐1809), Georg Wilhelm  
Friedrich Hegel (1770‐1831), John Stuart Mill (1806‐1873),  
Henry David Thoreau (1817‐1862)... Tác phẩm của những  
nhà tư tưởng này đã xác định nhiều vấn đề lý luận cơ bản  
về quyền tự nhiên và quyền pháp lý của con người mà vẫn  
còn có ý nghĩa quan trọng với việc bảo vệ và thúc đẩy nhân  
quyền trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, trước hết, tư  
tưởng của các tác giả này đã thúc đẩy sự ra đời của những  
văn bản pháp luật về quyền con người ở các nước châu Âu  
trong thời kỳ đó, bao gồm hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng  
– 27 –  
– 28 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
được thông qua trong hai cuộc cách mạng ở Mỹ và Pháp  
vào những năm 1700 mà đã có ảnh hưởng rất to lớn đến  
quá trình pháp điển hóa các quyền con người không chỉ ở  
hai nước này mà còn trên toàn thế giới.  
Câu hỏi 5  
Thế nào là “các thế hệ nhân quyền“?  
Trả lời  
Năm 1977, Karel Vasak đưa ra ý tưởng về ba “thế hệ  
nhân quyền“ (generations of human rights) nhằm phân tích  
lịch sử phát triển của quyền con người.  
Từ đầu thế kỷ XIX, quyền con người dần nổi lên như  
một vấn đề ở tầm quốc tế và bắt đầu được đề cập trong  
pháp luật quốc tế, nhờ những nỗ lực của nhiều chủ thể, đặc  
biệt là các tổ chức như Hội Chữ thập đỏ ‐ Trăng lưỡi liềm  
đỏ quốc tế, Hội Quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế.  
Tuy nhiên, chỉ với sự ra đời của Liên Hợp Quốc (1945),  
những tư tưởng về nhân quyền của nhân loại mới được thể  
chế hóa một cách mạnh mẽ, toàn diện và có tính hệ thống  
vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế. Ở thời điểm  
hiện nay, nhân quyền là một trong những khái niệm được  
đề cập, chấp nhận và cổ vũ một cách rộng khắp, thường  
xuyên và nồng nhiệt nhất trong đời sống nhân loại.  
Thế hệ thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị: Thế hệ nhân  
quyền này hướng vào hai vấn đề chính, đó là tự do và sự  
tham gia vào đời sống chính trị của các cá nhân. Nó bao  
gồm các quyền và tự do cá nhân về phương diện dân sự và  
chính trị; tiêu biểu như quyền sống, quyền tự do tư tưởng,  
tự do tôn giáo tín ngưỡng, tự do biểu đạt, quyền được bầu  
cử, ứng cử, quyền được xét xử công bằng... Thế hệ nhân  
quyền này gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản  
lật đổ chế độ phong kiến. Những văn kiện pháp lý quốc tế  
tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên  
ngôn toàn thế giới về quyền con người, 1948 (sau đây viết  
tắt là UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự,  
chính trị, 1966 (sau đây viết tắt là ICCPR).  
Thế hệ thứ hai, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: Thế hệ  
nhân quyền này hướng vào việc tạo lập những điều kiện  
và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong  
xã hội. Chúng được đề xướng và vận động từ cuối thế kỷ  
XIX, và bắt đầu được quan tâm bởi một số chính phủ kể từ  
sau Chiến tranh thế giới I. Các quyền tiêu biểu thuộc về thế  
hệ quyền này bao gồm quyền có việc làm, quyền được bảo  
trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở... Sự  
– 29 –  
– 30 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên (nước Nga  
Xô viết) vào năm 1917 và sau đó là hệ thống các nước xã  
hội chủ nghĩa trên thế giới trong nửa sau thế kỷ XX đã góp  
phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình pháp điển hóa thế hệ  
quyền này trong pháp luật quốc gia và quốc tế. Văn kiện  
pháp lý quốc tế tiêu biểu nhất đề cập đến thế hệ quyền này  
là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội,  
1966 (sau đây viết tắt là ICESCR).  
bằng các điều ước quốc tế, mà chủ yếu mới chỉ được đề cập  
trong các tuyên bố, tuyên ngôn (các văn kiện luật mềm ‐ soft  
law). Vì vậy, tính pháp lý và tính hiện thực của hầu hết các  
quyền trong thế hệ này hiện vẫn đang là chủ đề gây tranh cãi.  
Sơ đồ mô tả ba thế hệ nhân quyền5:  
Thế hệ thứ ba, các quyền tập thể: Thế hệ quyền này bao  
gồm các quyền tập thể, tiêu biểu như quyền tự quyết dân  
tộc (right to self‐determination); quyền phát triển (right to  
development); quyền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên  
(right to natural resources); quyền được sống trong hoà bình  
(right to peace); quyền được sống trong môi trường trong  
lành (right to a healthy environment)... Danh mục các quyền  
thuộc thế hệ quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đó  
những quyền được đề cập gần đây bao gồm: quyền được  
thông tin và các quyền về thông tin (right to communicate;  
communication rights); quyền được hưởng thụ các giá trị văn  
hóa (right to participation in cultural heritage). Những văn  
kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ  
quyền này là Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các quốc  
gia và dân tộc thuộc địa, 1960; Hai công ước cơ bản về  
nhân quyền năm 1966 là ICCPR (Điều 1), ICESCR (Điều 1);  
Tuyên bố về quyền của các dân tộc được sống trong hoà  
bình, 1984; Tuyên bố về quyền phát triển, 1986...  
Câu hỏi 6  
Nhân quyền có thể được phân loại như thế nào?  
Trả lời  
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể chia quyền  
con người thành những nhóm/dạng khác nhau. Cụ thể, xét  
lĩnh vực điều chỉnh, có thể phân thành nhóm quyền chính  
trị, dân sự và nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Xét chủ  
thể của quyền, có thể phân thành các quyền cá nhân và các  
Ngoại trừ một số quyền như quyền tự quyết dân tộc,  
nhiều quyền trong thế hệ thứ ba chưa được pháp điển hóa  
5
Nguồn, Commonwealth Manual Human Rights Training for Police, Sđd, tr.17.  
– 31 –  
– 32 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
quyền của nhóm. Xét mức độ pháp điển hóa, có thể phân  
thành các quyền cụ thể và quyền hàm chứa. Xét phương  
thức bảo đảm, có thể phân thành các quyền chủ động và  
quyền bị động. Xét điều kiện thực thi, có thể phân thành  
các quyền có thể bị hạn chế và các quyền không bị hạn chế  
(cũng trên khía cạnh này, còn có thể phân thành các quyền  
có thể bị tạm đình chỉ áp dụng và các quyền không thể bị  
Nếu như quyền cá nhân có thể hiểu là các quyền thuộc về mỗi  
cá nhân, bất kể họ có hay không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã  
hội nào và việc hưởng thụ các quyền cơ bản là dựa trên cơ sở cá nhân  
thì ngược lại, quyền tập thể có thể hiểu là những quyền đặc thù  
chung của một tập thể hay một nhóm xã hội nhất định, mà để được  
hưởng thụ các quyền này cần phải là thành viên của nhóm, và trong  
nhiều trường hợp phải được thực hiện với tính chất tập thể.  
6
đình chỉ áp dụng trong mọi hoàn cảnh) …  
Cụ thể, một số quyền tập thể đôi khi cần phải thực hiện  
cùng với các thành viên khác của nhóm (ví dụ như quyền tự  
do hội họp, lập hội…) thì mới mang ý nghĩa đích thực. Tuy  
nhiên, không phải tất cả các quyền của nhóm đều đòi hỏi phải  
thực hiện bằng cách thức tập thể, mà có thể được thực hiện cả  
với tư cách tập thể hoặc cá nhân. Đơn cử, một thành viên của  
một dân tộc thiểu số có thể cùng với cộng đồng mình yêu cầu  
được bảo đảm các quyền về sử dụng tiếng nói, chữ viết của  
dân tộc mình trên các phương tiện truyền thông, nhưng đồng  
thời có thể một mình thực hiện quyền chung của dân tộc thiểu  
Tuy nhiên, cần chú ý là mọi sự phân loại đều không làm  
mất đi những đặc trưng về tính phổ biến, tính không thể  
chuyển nhượng, tính không thể phân chia và tính liên hệ,  
phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền.  
Câu hỏi 7  
Quyền cá nhân và quyền tập thể có gì khác nhau không?  
Trả lời  
7
số là được nói tiếng nói hay mặc trang phục của dân tộc đó ...  
Do chủ thể chính của quyền con người là các cá nhân nên  
khi nói đến quyền con người về cơ bản là nói đến các quyền cá  
nhân (individual rights). Tuy nhiên, ngoài các cá nhân, chủ thể  
của quyền con người còn bao gồm các nhóm xã hội nhất  
định, vì thế, bên cạnh các quyền cá nhân, người ta còn đề cập  
đến các quyền tập thể (group rights hay collective rights).  
Khái niệm quyền của nhóm còn được mở rộng để chỉ các  
quyền của một dân tộc (people’s rights) cụ thể như quyền tự  
quyết dân tộc, quyền được bảo tồn tài nguyên và đất đai  
truyền thống của các dân tộc bản địa8...  
7
Về các quyền này, xem Điều 27 ICCPR và Tuyên bố của Liên Hợp  
Quốc về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc,  
chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992.  
6
8
Chi tiết về vấn đề này, xem trong Giáo trình Lý luận và Pháp luật về  
Về các quyền này, xem Điều 1 của cả ICCPR và ICESCR; Công ước  
quyền con người của Khoa Luật ‐ Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb  
CTQG, Hà Nội, 2009, tr.74‐83.  
số 189 của ILO về các dân tộc bản địa và Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về  
trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960…  
– 33 –  
– 34 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Nhìn chung, các quyền cá nhân và quyền tập thể hỗ trợ,  
bổ sung cho nhau, song cũng có trường hợp mâu thuẫn  
nhau. Đơn cử, một cá nhân là thành viên của một công  
đoàn có thể mong muốn ký kết hợp đồng lao động dưới  
danh nghĩa cá nhân thay cho việc cùng với các thành viên  
khác của công đoàn tiến hành đàm phán với người sử  
dụng lao động để ký kết một thỏa ước tập thể… Trong  
những trường hợp như vậy, việc theo đuổi các quyền cá  
nhân có thể làm tổn hại đến quyền tập thể và ngược lại.  
Điều này cho thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc  
nghiên cứu tìm ra biện pháp giải quyết các xung đột có thể  
xảy ra, làm hài hoà các quyền tập thể và quyền cá nhân.  
xã hội đều đóng vai trò kép: vừa là chủ thể của quyền, vừa  
là chủ thể của nghĩa vụ trong các quan hệ nhân quyền.  
Nhận thức phổ biến trên thế giới cho rằng, chủ thể cơ  
bản của quyền con người (right‐holders) là các cá nhân  
(individuals). Ngoài ra, trong một số trường hợp, chủ thể  
của quyền con người còn là các nhóm người (groups), ví dụ  
như các nhóm thiểu số về chủng tộc, dân tộc, tôn giáo,... và  
cả các dân tộc (peoples).  
Xét về nghĩa vụ, nhận thức phổ biến cho rằng, chủ thể  
cơ bản có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các  
quyền con người (duty‐bearers) là các nhà nước (states) mà  
cụ thể là các chính phủ, các cơ quan nhà nước khác cùng  
các viên chức hay những người làm việc cho các cơ quan  
nhà nước (được gọi chung là các chủ thể nhà nước ‐ state  
actors). Về vấn đề này, các nhà nước đóng vai trò kép, vừa  
là thủ phạm chính của những vi phạm nhân quyền, song  
đồng thời cũng được coi là chủ thể có vai trò chính trong  
việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người.  
Câu hỏi 8  
Những đối tượng nào là chủ thể của quyền con người?  
Những đối tượng nào là chủ thể có trách nhiệm bảo đảm  
quyền con người?  
Trả lời  
Chủ thể trong quan hệ nhân quyền9  
Tất cả các chủ thể trong xã hội (thể nhân, pháp nhân), ít  
hoặc nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, lúc này hay lúc khác,  
đều tham gia các quan hệ về nhân quyền. Các chủ thể này  
có thể phân thành hai dạng chính: chủ thể có quyền và chủ  
thể có nghĩa vụ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự phân loại này  
chỉ có tính tương đối, vì nếu coi nhân quyền là tập hợp của  
các quyền cá nhân (individual rights) và quyền tập thể  
(collective/group rights) thì không có chủ thể nào trong xã  
hội chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ và ngược lại. Nói  
cách khác, xét tổng quát, mọi thể nhân và pháp nhân trong  
(Các chủ thể có trách nhiệm chính: các cơ quan nhà nước, cảnh sát, quân đội, an ninh, công chức, viên chức…)  
(Các  
trong nước có  
tính độc lập  
tương đối: Các  
Tòa án, cơ quan  
Thanh tra Quốc  
hội, Ủy ban nhân  
quyền quốc gia,  
các cơ sở học  
thuật…)  
chủ  
thể  
(Các chủ thể bên  
ngoài: Các cơ  
quan, tổ chức  
quốc tế, khu  
vực...)  
Các tổ chức  
phi chính phủ  
(Các chủ thể chính của quyền:  
các cá nhân, nhóm..)  
9
Sơ đồ của TS.Lone Lindholt, Viện Nhân quyền Đan Mạch.  
– 35 –  
– 36 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Ngoài các nhà nước, Nhận thức phổ biến của cộng đồng  
quốc tế cũng cho rằng, các tổ chức, thể chế quốc tế (international  
bodies), các đảng phái chính trị (political parties), các doanh  
nghiệp (companies), các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc  
tế (international, national non‐governmental organizations), các  
nhóm chính thức hoặc không chính thức (formal, informal  
groups), các cộng đồng (communities), các gia đình (families), các  
bậc cha mẹ (parents) và các cá nhân (individuals), tùy theo vị thế  
của mình, cũng có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và góp phần  
thúc đẩy các quyền con người (những chủ thể này được gọi  
chung là các chủ thể phi nhà nước ‐ non‐state actors). Theo nhận  
thức phổ biến, các chủ thể phi nhà nước cũng có vai trò quan  
trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người  
nhưng đồng thời cũng là thủ phạm của những vi phạm về  
nhân quyền trong những hoàn cảnh nhất định (tuy không bị  
coi là thủ phạm chính). Ví dụ, các bậc cha mẹ đôi khi vi phạm  
quyền trẻ em (của con cái họ), các cộng đồng đôi khi vi phạm  
quyền của một cá nhân hay một nhóm thành viên nhất định  
(ví dụ, luật ném đá đến chết những phụ nữ và nam giới bị coi  
là ngoại tình ở một số cộng đồng Hồi giáo...); một số công ty,  
kể cả công ty đa quốc gia hủy hoại môi trường sống của người  
dân ở một khu vực nào đó vì lợi nhuận...  
trách nhiệm chính trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân  
quyền, tuy nhiên, các chủ thể khác trong xã hội cũng có  
trách nhiệm này.  
Thuật ngữ “người bảo vệ nhân quyền” (human rights  
defender) được dùng để chỉ những cá nhân, hoạt động một  
mình hay cùng với những người khác, bảo vệ và thúc đẩy các  
quyền con người. Họ bảo vệ và thúc đẩy các quyền khác  
nhau, của các nhóm khác nhau, ở phạm vi quốc gia, khu vực  
hoặc quốc tế thông qua rất nhiều loại hoạt động đa dạng như  
nghiên cứu, giảng dạy, phổ biến, tuyên truyền, vận động, thu  
thập thông tin về các vi phạm nhân quyền, hỗ trợ nạn nhân.  
Vì chủ thể vi phạm quyền thường là các cơ quan, công chức  
nhà nước hoặc các chủ thể có quyền lực trong xã hội nên ở  
nhiều quốc gia những người bảo vệ nhân quyền luôn phải  
đối diện nhiều khó khăn và rủi ro trong công việc cao cả của  
mình. Họ thường bị quy kết, vu khống, hạ nhục, đe doạ...  
thậm chí nhiều người trong số họ bị bắt bớ, tra tấn, bỏ tù hay  
giết hại...  
Việc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua “Tuyên  
ngôn về quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, nhóm và tổ chức xã  
hội trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do  
cơ bản được thừa nhận rộng rãi” (được gọi tắt là “Tuyên ngôn  
về những người bảo vệ nhân quyền”) vào ngày 9 tháng 12  
năm 1998 là một bước tiến lớn trong việc bảo vệ những  
người bảo vệ nhân quyền. Đây là văn kiện đầu tiên của  
Liên Hợp Quốc thừa nhận vai trò quan trọng, tính chính  
đáng và sự cần thiết phải bảo vệ tốt hơn những người bảo  
vệ nhân quyền. Tuyên ngôn nhấn mạnh đến một số quyền  
Câu hỏi 9  
Bảo vệ quyền con người là quyền hay trách nhiệm?  
Trả lời  
Bảo vệ nhân quyền vừa là quyền vừa là trách nhiệm của  
mọi cá nhân. Như đã đề cập ở trên, nhà nước là chủ thể có  
– 37 –  
– 38 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động của những người bảo  
vệ nhân quyền như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp  
và lập hội.  
Trong các cơ chế quốc tế, Báo cáo viên đặc biệt của Liên  
Hợp Quốc về những người bảo vệ nhân quyền (UN Special  
Raporteur on Human Rights Defenders) được thiết lập năm 2000,  
có thẩm quyền thu thập, thẩm định các thông tin liên quan  
đến số phận và tình trạng cuộc sống của những người bảo vệ  
nhân quyền, kiến tạo sự hợp tác, đối thoại với các chính phủ  
trong việc thực thi “Tuyên ngôn về những người bảo vệ nhân  
quyền”, đưa ra các khuyến nghị để bảo vệ những người bảo  
vệ nhân quyền hữu hiệu hơn… Báo cáo viên đặc biệt có  
quyền thực hiện các chuyến khảo sát ở các quốc gia có liên  
quan, tiếp cận với những cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau  
để thu thập thông tin nhằm xây dựng báo cáo hàng năm gửi  
cho Hội đồng Nhân quyền và Đại hội đồng về các vấn đề liên  
quan đến những người bảo vệ nhân quyền.  
Ảnh: Shirin Ebadi, nữ luật sư Iran được trao giải Nobel Hòa bình năm 2003  
vì những hoạt động thúc đẩy nhân quyền và dân chủ. Bà đã sáng lập Trung  
tâm Những người bảo vệ nhân quyền (Defenders of Human Rights Center)  
tại Iran, bà sống lưu vong tại Anh từ năm 200910.  
Câu hỏi 10  
Ở phạm vi hẹp hơn, một số khu vực cũng có cơ chế  
riêng về vấn đề này như Báo cáo viên đặc biệt về những  
người bảo vệ nhân quyền của Ủy ban Nhân quyền và  
Quyền các dân tộc châu Phi (được thiết lập năm 2004), Cơ  
quan về những người bảo vệ nhân quyền của Ủy ban Nhân  
quyền Liên Mỹ (được thiết lập năm 2001), Các hướng dẫn  
của Liên minh châu Âu về những người bảo vệ nhân  
quyền (2004)… Nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ  
trên thế giới cũng thiết lập các giải thưởng định kỳ để trao  
cho những cá nhân, tổ chức đã đóng góp cho hoạt động  
bảo vệ nhân quyền.  
Phải chăng Luật nhân quyền quốc tế chỉ đề cập đến quyền  
mà không đề cập đến trách nhiệm/nghĩa vụ của cá nhân?  
Trả lời  
Hầu hết quy định trong các văn kiện quốc tế về nhân  
quyền đều đề cập đến quyền, chỉ có rất ít điều khoản đề  
cập đến trách nhiệm (duty) hoặc nghĩa vụ (responsibility)  
của cá nhân. Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng, Luật nhân  
10  
– 39 –  
– 40 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
quyền quốc tế chỉ cổ vũ các quyền mà coi nhẹ vấn đề trách  
nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân với cộng đồng.  
Nhận thức đúng đắn về sự cân bằng giữa các quyền và  
trách nhiệm/nghĩa vụ giúp mọi cá nhân và tổ chức có thái  
độ và hành động cân bằng, khách quan và ôn hòa, tránh  
những hành động phiến diện, cực đoan trong các vấn đề có  
liên quan đến nhân quyền.  
Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề trách nhiệm/nghĩa vụ của  
cá nhân đã được nêu một cách rõ ràng trong các văn kiện  
chủ chốt của Luật nhân quyền quốc tế. Ví dụ, khoản 1 Điều  
29 UDHR quy định: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ  
với cộng đồng mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển  
một cách tự do và đầy đủ”. Theo khoản 2 Điều này, mỗi người  
trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân đều phải  
chịu những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm sự thừa  
nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác...  
Câu hỏi 11  
Quyền con người, quyền công dân có gì giống, khác nhau?  
Trả lời  
Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất  
gần gũi nhưng không đồng nhất. Quyền công dân (citizen’s  
rights) là một khái niệm xuất hiện cùng Cách mạng tư sản.  
Cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần  
dân trở thành những công dân (với tư cách là những thành  
viên bình đẳng trong một nhà nước) và pháp điển hóa các  
quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền  
công dân. Như vậy, về bản chất, các quyền công dân chính  
là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận  
và áp dụng cho công dân của mình.  
Ngoài quy định trên, vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ của  
cá nhân với cộng đồng cũng được nêu trong Lời nói đầu và  
nhiều điều khoản của cả ICPPR và ICESCR cùng nhiều văn  
kiện quốc tế khác về nhân quyền. Nội dung cốt lõi của các  
quy định này là trong quá trình thực hiện, hưởng thụ các  
quyền của bản thân mình, mọi cá nhân còn có trách nhiệm  
tôn trọng và không được làm tổn hại các quyền chính đáng  
của cộng đồng và của các cá nhân khác.  
Như vậy, mặc dù các văn kiện quốc tế về nhân quyền về  
hình thức chủ yếu đề cập đến các quyền, song cần hiểu  
rằng Luật nhân quyền quốc tế không tuyệt đối hóa các  
quyền mà bỏ qua trách nhiệm/nghĩa vụ của các cá nhân.  
Với những quy định đã trích dẫn ở trên, rõ ràng Luật nhân  
quyền quốc tế đã khẳng định rằng, quyền và trách  
nhiệm/nghĩa vụ của cá nhân đều cần phải được coi trọng,  
không được thiên lệch một yếu tố nào.  
Tuy nhiên, quyền công dân không phải là hình thức  
cuối cùng và toàn diện của quyền con người. Với ý nghĩa là  
một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể hiện mối quan hệ  
giữa công dân với nhà nước, được xác định thông qua một  
chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền  
công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật  
của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chủ yếu dành  
cho những người có quốc tịch của nước đó. Không phải ai  
– 41 –  
– 42 –  
KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân  
(xét từ góc độ chủ thể)  
cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia  
nhất định và không phải hệ thống quyền công dân của mọi  
quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn  
tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền  
con người.  
Quyền con người  
Quyền  
công dân  
Ở nhiều góc độ, quyền con người là khái niệm rộng hơn  
quyền công dân. Về tính chất, quyền con người không bị  
bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước mà  
thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng  
nhân loại. Về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi  
chế định quốc tịch, chủ thể của quyền con người là tất cả  
các thành viên của gia đình nhân loại, bất kể vị thế, hoàn  
cảnh, nơi cư trú... Nói cách khác, quyền con người được áp  
dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi  
dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ  
thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi  
trường sống của chủ thể quyền.  
Quyền con người  
Câu hỏi 12  
Quyền con người và phát triển con người có mối liên hệ  
như thế nào?  
Trả lời  
Khái niệm phát triển con người (human development),  
theo UNDP, là một tiến trình mở rộng các quyền lựa chọn cho  
mọi người, trao cho họ những cơ hội tốt hơn trong các vấn đề  
11  
giáo dục, chăm sóc y tế, thu nhập, việc làm...  
Một cá nhân, ngoại trừ những người không quốc tịch,  
về danh nghĩa đồng thời là chủ thể của cả hai loại quyền  
con người và quyền công dân, tuy nhiên, sự phân biệt  
trong thụ hưởng hai loại quyền này chỉ được thể hiện trong  
một số hoàn cảnh đặc biệt. Ví dụ, một người nước ngoài sẽ  
không được hưởng một số quyền công dân, chẳng hạn như  
quyền bầu cử, ứng cử... tuy nhiên, người đó vẫn được  
hưởng các quyền con người phổ biến áp dụng cho mọi  
thành viên của nhân loại trong mọi hoàn cảnh, cụ thể như  
quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân...  
Cũng theo UNDP, phát triển con người và quyền con  
người có mối liên hệ chặt chẽ cả về động cơ và mục đích, có  
tác động bổ trợ lẫn nhau, tuy có những khác biệt nhất định  
về chiến lược hành động12. Cụ thể, về những điểm tương  
đồng, phát triển con người và quyền con người đều nhằm  
thúc đẩy cuộc sống và hạnh phúc của con người trên cơ sở  
11  
UNHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Rights‐Based  
Approach to Development Cooperation, Sđd, tr.8.  
12  
UNDP, Human Development Report 2000: Human Rights and Human  
Development (New York, 2000), tr. 19, tại http://hdr.undp.org/reports.  
– 43 –  
– 44 –  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 75 trang Thùy Anh 11940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hỏi đáp về quyền con người (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoi_dap_ve_quyen_con_nguoi_phan_1.pdf