Một số vấn đề về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BIỆN PHÁP BẢO LƯU QUYỀN Sꢀ HỮU
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HẢI*
Bảo lưu quyền sở hữu là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong hợp
đồng mua bán tài sản. Mặc dù Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 đã quy định nhưng vẫn
còn bộc lộ những thiếu sót, bất cập cần hoàn thiện để biện pháp này được áp dụng hiệu
quả trên thực tiễn.
Từ khóa: Bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng mua bán tài sản, tài sản.
Ngày nhận bài: 09/3/2021; Biên tập xong: 16/3/2021; Duyệt đăng: 09/4/2021
Title retention is a measure to secure the performance of civil obligations in
sale contracts of property. Although the 2015 Civil Code has had regulations on
this measure, it still reveals shortcomings that need to be perfected for the effective
application of title retention in practice.
Keywords: Title retention, sale contract of property, property.
ảolưuquyềnsꢀhữulàmộttronghai pháp cho cả bên bán và bên mua. Hơn
biện pháp mới được quy định trong nữa, nếu quy định như BLDS năm 2005
B
phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì bảo lưu quyền sꢀ hữu chỉ ghi nhận
dân sự. Cũng giống như biện pháp cầm trong quy định về hợp đồng mua bán
giữ tài sản, biện pháp bảo lưu quyền sꢀ tài sản, do vậy nó chỉ phát sinh hiệu lực
hữu đã được ghi nhận trong BLDS năm giữa các bên trong hợp đồng. Các chủ thể
2005: Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của khác không có nghĩa vụ phải biết tài sản
mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đó đang được áp dụng biện pháp bảo lưu
đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác1. quyền sꢀ hữu. Do đó, BLDS năm 2015 quy
Tuy nhiên, BLDS năm 2005 mới chỉ dừng định bảo lưu quyền sꢀ hữu là một biện
lại ꢀ việc đề cập bên bán có quyền bảo lưu pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
quyền sꢀ hữu của mình đối với vật bán độc lập cùng với tám biện pháp bảo đảm
trong hợp đồng mua bán trả chậm, trả thực hiện nghĩa vụ dân sự khác tại Mục
dần mà không có quy định cụ thể về biện 3 Chương XV Phần thứ ba của Bộ luật là
pháp này. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra, hoàn toàn hợp lý. Bꢀi lẽ, khi trꢀ thành một
rất khó để có thể giải quyết một cách triệt biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự độc
để cũng như bảo đảm quyền, lợi ích hợp lập nó sẽ phát sinh hiệu lực đối kháng với
người thứ ba2. Khi đó, những thỏa thuận
1ꢁ Điều 461 BLDS năm 2005:
áp dụng biện pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu
không chỉ buộc các bên trong hợp đồng mà
còn buộc tất cả các chủ thể khác có nghĩa
1. Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả
chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau
khi nhận vật mua; bên bán được bảo lưu quyền sꢀ
hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua
trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
* Thạc sĩ Khoa Pháp luật dân sự và Kiểm sát dân sự,
2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng vật 2ꢁ Khoản 3 Điều 331 BLDS năm 2015 quy định: “Bảo
mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời lưu quyền sꢀ hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với
gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký”.
46 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HẢI
vụ phải biết và tôn trọng. Tuy BLDS năm đảm là bên mua. Cách hiểu như vậy sẽ
dẫn đến hệ quả là bên bán trꢀ thành bên
có nghĩa vụ, còn bên mua trꢀ thành bên có
quyền trong bảo lưu quyền sꢀ hữu. Đó là
điều bất hợp lý. Trong bảo lưu quyền sꢀ
hữu, bên bảo đảm cần phải là bên mua,
bên nhận bảo đảm là bên bán vì hợp đồng
mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên bán chuyển giao quyền
sꢀ hữu đối với tài sản cho bên mua và bên
mua trả tiền cho bên bán3. Nếu các bên
không có thỏa thuận khác hoặc luật không
có quy định khác thì thời điểm chuyển
giao quyền sꢀ hữu từ bên bán sang bên
mua là thời điểm bên mua nhận tài sản4.
Tuy nhiên, khi các bên có thỏa thuận về
việc áp dụng biện pháp bảo lưu quyền
sꢀ hữu, bên mua sẽ bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ thanh toán của mình bằng cách
để cho bên bán giữ lại quyền sꢀ hữu (cái
mà bên mua có quyền được hưꢀng từ hợp
đồng mua bán) cho đến khi bên mua hoàn
thành nghĩa vụ thanh toán.
2015 đã dành 04 điều luật (từ Điều 331
đến Điều 334) trực tiếp quy định về biện
pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu đã giải quyết
được phần nào những bất cập, nhưng bản
thân những quy định đó vẫn còn những
vướng mắc nhất định. Cụ thể là:
Thứ nhất, về việc xác định chủ thể
trong quan hệ bảo đảm
Chủ thể trong quan hệ bảo đảm bao
gồm bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm.
Tuy nhiên, với các quy định từ Điều 331
đến Điều 334 của BLDS năm 2015, sẽ rất
khó để có thể xác định bên nào là bên bảo
đảm, bên nào là bên nhận bảo đảm trong
bảo lưu quyền sꢀ hữu bꢀi toàn bộ các quy
định về bảo lưu quyền sꢀ hữu chỉ đề cập
chủ thể là bên bán và bên mua. Với các
biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp,
bảo lãnh…, có thể xác định được ngay các
chủ thể trong quan hệ bảo đảm, nhưng với
biện pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu thì khó
có thể xác định được một cách rõ ràng.
Cụ thể, khoản 1 Điều 331 BLDS năm
2015 quy định: “Trong hợp đồng mua bán,
quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo
lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực
hiện đầy đủ”. Với quy định như vậy thì xác
định bên bán là bên nhận bảo đảm, còn
bên mua là bên bảo đảm hay ngược lại?
Không những thế, khoản 1 Điều 295 BLDS
năm 2015 lại quy định: “Tài sản bảo đảm
phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ
trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền
sở hữu”. Quy định này lại càng làm cho
việc xác định chủ thể trong quan hệ bảo
đảm bằng biện pháp bảo lưu quyền sꢀ
hữu trꢀ nên khó khăn bꢀi về nguyên tắc,
bên bảo đảm là bên sꢀ hữu tài sản mang
ra bảo đảm, còn bên nhận bảo đảm là bên
có quyền. Tuy nhiên, trong biện pháp bảo
lưu quyền sꢀ hữu thì không như vậy. Quy
định như khoản 1 Điều 331 của Bộ luật
hiện nay sẽ rất dễ dẫn đến cách hiểu là
Điểm bất cập ꢀ đây chính là BLDS
năm 2015 không dùng thuật ngữ chỉ chủ
thể trong quan hệ bảo đảm mà lại dùng
thuật ngữ chỉ chủ thể trong quan hệ nghĩa
vụ được bảo đảm, đó là bên bán và bên
mua. Chính điều này đã dẫn đến việc xác
3ꢁ Điều 430 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng
mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên bán chuyển quyền sꢀ hữu tài sản cho bên mua
và bên mua trả tiền cho bên bán.
Hợp đồng mua bán nhà ꢀ, mua bán nhà để sử dụng
vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của
Bộ luật này, Luật nhà ꢀ và luật khác có liên quan”.
4ꢁ Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 quy định: “1.
Thời điểm xác lập quyền sꢀ hữu, quyền khác đối với
tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luật này, luật
khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định
thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp
luật không quy định và các bên không có thỏa thuận
thì thời điểm xác lập quyền sꢀ hữu, quyền khác đối
với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao.
Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên
có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm
bên bảo đảm là bên bán, còn bên nhận bảo hữu tài sản”.
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 47
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BIỆN PHÁP BẢO LƯU QUYỀN Sꢀ HỮU...
định không rõ ràng về chủ thể trong quan quy định này, cá nhân tác giả không hiểu
hệ bảo đảm. Vấn đề này cũng chưa được nhà làm luật đang muốn quy định về đối
khắc phục tại Dự thảo nghị định về bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ.
tượng của biện pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu
hay quy định về tài sản là đối tượng của
hợp đồng mua bán có áp dụng biện pháp
bảo lưu quyền sꢀ hữu? Điều này sẽ dẫn đến
sự bối rối cho các chủ thể khi lựa chọn biện
pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu để bảo đảm
cho quyền và lợi ích của mình. Theo quan
điểm tác giả, nên bổ sung quy định về đối
tượng của biện pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu
vào BLDS năm 2015 để giải quyết điểm bất
cập này theo hướng: Đối tượng của bảo lưu
quyền sꢀ hữu là quyền sꢀ hữu đối với tài
sản trong hợp đồng mua bán tài sản.
Khác với BLDS năm 2015, pháp luật
của Pháp quy định rất rõ ràng: Bên bán
là bên nhận bảo đảm (bên có quyền), còn
bên mua là bên bảo đảm (bên có nghĩa
vụ)5. Để khắc phục điểm bất cập này, theo
quan điểm của tác giả, nên sửa đổi thuật
ngữ chỉ chủ thể trong quan hệ bảo đảm
của biện pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu theo
hướng: Bên nhận bảo đảm (bên có quyền)
và bên bảo đảm (bên có nghĩa vụ). Đồng
thời, bỏ từ “bên bán” ra khỏi quy định tại
khoản 1 Điều 331 BLDS năm 2015.
Thứ ba, về đối tượng của hợp đồng
mua bán tài sản được áp dụng biện pháp
bảo lưu quyền sở hữu
Thứ hai, về đối tượng của biện pháp
bảo lưu quyền sở hữu
BLDS năm 2015 không quy định cụ thể
về tài sản là đối tượng của hợp đồng mua
bán có áp dụng biện pháp bảo lưu quyền
sꢀ hữu, mà chỉ đề cập đến tài sản nói chung
(là tài sản theo quy định tại Điều 105 của
Bộ luật6). Như vậy, có thể hiểu mọi tài sản
BLDS năm 2015 không có quy định cụ
thể về đối tượng của biện pháp bảo lưu
quyền sꢀ hữu. Cũng chính điểm bất cập
này đã gây nên sự hiểu lầm rằng chính tài
sản là đối tượng của hợp đồng mua bán
và là đối tượng của biện pháp bảo lưu
quyền sꢀ hữu. Tuy nhiên, như đã phân là đối tượng của hợp đồng mua bán để có
tích ꢀ trên, trong bảo lưu quyền sꢀ hữu thì thể áp dụng biện pháp bảo lưu quyền sꢀ
quyền sꢀ hữu đối với tài sản sẽ được bên
bán giữ lại cho đến khi bên mua thanh
toán hết nghĩa vụ. Chỉ khi nào bên mua
hoàn thành nghĩa vụ thanh toán thì khi đó
quyền sꢀ hữu tài sản mới thuộc về họ. Do
đó, nếu cho rằng tài sản trong hợp đồng
mua bán là đối tượng của biện pháp bảo
lưu quyền sꢀ hữu thì không hợp lý mà nó
chỉ là đối tượng của hợp đồng mua bán tài
sản có áp dụng biện pháp bảo lưu quyền
sꢀ hữu. Còn đối tượng của biện pháp bảo
lưu quyền sꢀ hữu chính là quyền sꢀ hữu
đối với tài sản trong hợp đồng mua bán.
hữu, trong đó bao gồm cả tài sản tiêu hao
và tài sản không tiêu hao. Tuy nhiên, khi
đối chiếu với các quy định của BLDS năm
2015 về bảo lưu quyền sꢀ hữu, có thể thấy
bên mua chỉ có quyền sử dụng tài sản và
hưꢀng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời
hạn bảo lưu quyền sꢀ hữu có hiệu lực7; bên
mua chỉ có quyền sꢀ hữu tài sản khi thực
hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền cho bên
bán; nếu bên mua không hoàn thành nghĩa
6ꢁ Điều 105 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất
động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài
sản hình thành trong tương lai.”
Dự thảo nghị định về bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ có quy định tại khoản 4 Điều 14:
“Tài sản dùng để bảo lưu quyền sở hữu là tài 7ꢁ Điều 333 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Sử dụng tài sản và hưꢀng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản trong thời hạn bảo lưu quyền sꢀ hữu có hiệu lực.
5ꢁ Xem từ Điều 2367 đến Điều 2372 bản dịch Bộ luật Dân 2. Chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền
sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản”. Với
sự Pháp của Nhà pháp luật Việt – Pháp năm 2012.
sꢀ hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
48 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HẢI
vụ thanh toán thì bên bán có quyền đòi lại theo hướng: Bổ sung thêm một khoản vào
tài sản8. Như vậy, đối với tài sản không Điều 421 BLDS năm 2015, cụ thể:
tiêu hao trong hợp đồng mua bán có áp
dụng biện pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu
thì hoàn toàn có thể thực hiện được. Tuy
nhiên, nếu đó là tài sản tiêu hao thì có thể
áp dụng được biện pháp bảo lưu quyền
sꢀ hữu không? Bꢀi lẽ đối với tài sản tiêu
hao thì sau khi bên mua sử dụng sẽ không
giữ được tính chất, hình dáng và tính năng
sử dụng ban đầu. Trường hợp bên mua
không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đối
với bên bán thì bên bán sẽ không thực hiện
được quyền đòi lại tài sản mà chỉ có thể
yêu cầu bên mua phải bồi thường thiệt hại.
Không những thế, nếu áp dụng biện pháp
bảo lưu quyền sꢀ hữu cho cả hợp đồng
mua bán là tài sản tiêu hao thì khi bên mua
vi phạm nghĩa vụ thanh toán sẽ phải hoàn
trả lại tài sản cùng loại với tài sản ban đầu.
Đây cũng là quy định được ghi nhận trong
BLDS Pháp9.
Như vậy, về bản chất đó không phải
là hoàn trả lại chính tài sản ban đầu mà
là bồi thường thiệt hại bằng một tài sản
khác cùng loại. Hơn nữa, đối với tài sản
tiêu hao nhưng nó là tài sản đặc định thì
khi bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán
sẽ lấy tài sản gì để trả lại cho bên bán. Do
đó, nếu đưa cả tài sản tiêu hao vào trong
hợp đồng mua bán có áp dụng biện pháp
bảo lưu quyền sꢀ hữu là khó thực hiện
và không khả thi trên thực tiễn. Để khắc
phục điểm bất cập này, tác giả kiến nghị
“Điều 431. Đối tượng của hợp đồng
mua bán
1. Tài sản được quy định tại Bộ luật này
đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán.
Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị
cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài
sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải
phù hợp với các quy định đó.
2. Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán
hoặc người bán có quyền bán.
3. Tài sản là vật tiêu hao không thể
là đối tượng của hợp đồng mua bán có áp
dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ là bảo lưu quyền sở hữu”.
Thứ tư, về quyền của bên nhận bảo
đảm (bên bán)
Điều 332 BLDS năm 2015 quy định về
quyền đòi lại tài sản của bên mua khi bên
mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Quy
định này là hoàn toàn hợp lý bꢀi khi bên
mua không thanh toán hoặc thanh toán
không đầy đủ cho bên bán thì bên bán sẽ
đòi lại tài sản để bảo toàn lợi ích vật chất
của mình. Điều này thể hiện đúng bản
chất của một biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, điểm bất hợp lý
trong Điều 332 BLDS năm 2015 lại nằm ꢀ
quy định: “…Bên bán hoàn trả cho bên mua
số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá
trị hao mòn tài sản do sử dụng…”. Quy định
như vậy đã vô tình vô hiệu hóa quyền của
bên nhận bảo đảm trong quan hệ bảo lưu
quyền sꢀ hữu, bꢀi đặt ra biện pháp bảo
lưu quyền sꢀ hữu là bên nhận bảo đảm
muốn nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ
thanh toán. Thế nhưng quy định như trên
đã không đảm bảo được mục đích của bảo
lưu quyền sꢀ hữu hướng tới và bên bán sẽ
không được thanh toán số tiền còn thiếu.
Thực tế, khi các bên thỏa thuận áp dụng
biện pháp bảo lưu quyền sꢀ hữu trong hợp
đồng mua bán là nhằm mục đích đảm bảo
bên mua sẽ phải thanh toán đủ cho bên bán
8ꢁ Điều 332 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp bên
mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài
sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua
đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử
dụng. Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản
thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
9ꢁ Điều 2369 bản dịch BLDS Pháp của Nhà pháp luật
Việt – Pháp năm 2012:
“Quyền sꢀ hữu được bảo lưu đối với một vật tiêu
hao có thể thực hiện bằng tài sản cùng loại và cùng
chất lượng giữ bꢀi hoặc giữ cho người có nghĩa vụ
bằng với số nợ còn phải trả”.
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 49
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BIỆN PHÁP BẢO LƯU QUYỀN Sꢀ HỮU...
chứ không phải nhằm mục đích lấy lại tài
sản. Đồng thời, quy định này có thể dẫn tới
thực trạng là nếu bên mua muốn trả lại tài
sản và đòi lại số tiền đã trả cho bên bán thì
chỉ cần không thanh toán hết số tiền như
đã thỏa thuận10. Điều đó làm cho quyền
của bên nhận bảo đảm không được bảo vệ.
“Điều 332. Quyền đòi lại tài sản
Trường hợp bên bảo đảm không hoàn
thành nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảo
đảm theo thỏa thuận thì bên nhận bảo đảm có
quyền đòi lại tài sản. Giá trị của tài sản lấy lại
được trừ vào phần còn lại của nghĩa vụ trả nợ.
Nếu giá trị của tài sản lớn hơn số tiền nợ phải
trả thì bên nhận bảo đảm trả cho bên bảo đảm
khoản tiền chênh lệch”.
Nói tóm lại, so với BLDS năm 2005 thì
BLDS năm 2015 đã có những quy định cụ
thể hơn về biện pháp bảo lưu quyền sꢀ
hữu. Đồng thời, BLDS năm 2015 đã nâng
vị trí biện pháp này từ quy định chỉ mang
tính chất bảo đảm trong hợp đồng mua
trả chậm, trả dần trong BLDS năm 2005
thành một biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ độc lập. Đây là điều đáng ghi
nhận của BLDS năm 2015. Tuy còn một số
điểm bất cập nhưng với những kiến nghị
hoàn thiện mà tác giả đưa ra trong phạm
vi bài viết này đã góp phần làm hoàn thiện
hơn những quy định về biện pháp bảo lưu
quyền sꢀ hữu, để biện pháp này thực sự
được áp dụng một cách có hiệu quả và
thiết thực trong thực tiễn hiện nay./.
Trong khi đó, BLDS Pháp – bộ luật mà
các nhà làm luật đã tham khảo chủ yếu
để đưa ra các quy định về bảo lưu quyền
sꢀ hữu lại có quy định rất khác về vấn đề
này. Cụ thể, Điều 2371 BLDS Pháp quy
định: “Nếu toàn bộ số nợ không được thanh
toán đủ khi đến hạn, người có quyền có thể
đòi lại tài sản để thu hồi quyền định đoạt đối
với tài sản đó. Giá trị của tài sản lấy lại được
trừ vào phần còn lại của quyền đòi nợ được
bảo đảm. Nếu giá trị của tài sản lấy lại lớn
hơn số tiền nợ được bảo đảm vẫn còn phải trả,
người có quyền phải trả cho người có nghĩa
vụ một khoản tiền bằng phần chênh lệch”.
Theo quy định này, trường hợp bên mua
không thanh toán đủ, đúng hạn thì bên
bán có quyền lấy lại tài sản để khôi phục
lại quyền định đoạt đối với tài sản này.
Giá trị của tài sản lấy lại được sử dụng
để thanh toán số tiền còn thiếu. Nếu giá
trị của tài sản lấy lại lớn hơn số tiền còn
nợ của bên mua thì bên bán trả lại phần
chênh lệch cho bên mua. Điều này thể hiện
đúng bản chất, mục đích mà biện pháp
bảo lưu quyền sꢀ hữu hướng tới. Khi bên
mua không thanh toán được đủ số tiền
còn thiếu cho bên bán thì bên bán lấy lại
tài sản với mục đích để trừ vào khoản còn
thiếu chứ không phải là lấy lại tài sản rồi
hoàn trả lại số tiền đã nhận từ bên mua
như quy định của BLDS năm 2015. Theo
tác giả, BLDS năm 2015 cần sửa đổi quy
định tại Điều 332 theo hướng tham khảo
quy định trong BLDS Pháp, cụ thể:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật dân sự năm 2005;
2. Bộ luật dân sự năm 2015;
3. Bản dịch Bộ luật dân sự Pháp của Nhà
pháp luật Việt – Pháp năm 2012;
4. TS. Bùi Đức Giang, Lập pháp nhìn từ quy
định về bảo lưu quyền sở hữu tài sản, Tạp chí Kinh tế
Sài Gòn, năm 2016;
5. PGS.TS. Đỗ Văn Đại, Vật quyền bảo đảm:
kinh nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam, Hội thảo
quốc tế về Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh, tháng 9/2014;
6. TS. Nguyễn Minh Tuấn, Những nội dung
của phần nghĩa vụ và hợp đồng còn nhiều bất cập, Hội
10ꢁ
thảo về Góp ý dự thảo Bộ luật dân sự năm 2005 sửa
đổi, Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng 3/2015;
7. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
TS. Bùi Đức Giang, Lập pháp nhìn từ quy định về
bảo lưu quyền sở hữu tài sản, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn
vn/153622/Lap-phap-nhin-tu-quy-dinh-bao-luu-
quyen-so-huu-tai-san.html
Minh, Hội thảo về Như
̃ng điểm mới trong Bộ luật dân
sự năm 2015, tháng 3/2016.
50 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_van_de_ve_bien_phap_bao_luu_quyen_so_huu_theo_quy_din.pdf

