Án lệ, áp dụng án lệ trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
ÁN LỆ, ÁP DỤNG ÁN LỆ TRÊN THẾ GIỚI  
VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
Nguyễn Minh Tuấn*  
Lê Minh Thúy**  
*PGS.TS. Giảng viên cao cấp, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
**ThS. Giảng viên Khoa Lý luận chính trị - Luật, Đại học Hồng Đức  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, các tác giả trình bày, phân tích về án lệ, thực  
tiễn áp dụng án lệ ở các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức và rút ra một số gợi  
mở nhằm nâng cao chất lượng áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: Án lệ, áp dụng án lệ,  
vụ việc tương tự, giải thích  
pháp luật.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 02/12/2020  
: 14/12/2020  
: 16/12/2020  
Abstract:  
Article Infomation:  
Keywords: Case law, case law  
application, similar case law,  
law interpretation  
In the scope of this article, the authors provide introduction and  
analysis of the case law, the practice of applying case law in the UK,  
the US, France, and Germany and also give out suggestions for further  
improvements of the quality of case law application in Vietnam.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 02 Dec. 2020  
: 14 Dec. 2020  
: 16 Dec. 2020  
Approved  
1. Án lệ, áp dụng án lệ ở một số nước trên  
thế giới hiện nay  
thảo luận về những vụ án mà họ đã xét xử.  
Các phán quyết này được hệ thống hóa, sau  
này, các thẩm phán bị ràng buộc bởi những  
phán quyết có liên quan của các thẩm phán  
khác trong quá khứ. Từ đó hình thành nên  
nguyên tắc hai vụ việc với các tình tiết chính  
tương tự như nhau sẽ được xét xử như nhau2.  
Án lệ do tòa án tạo ra trong quá trình  
- Án lệ ở Anh  
Xét về lịch sử, học thuyết “Stare  
Decisis”1 ra đời gắn với công lao của  
Hoàng đế Henry II (1154-1189). Ông đã  
cử các thẩm phán từ Tòa án Hoàng gia tại  
Westminster đi giải quyết các tranh chấp ở  
địa phương. Sau mỗi vụ xét xử, các thẩm  
phán quay trở về Westminster và cùng nhau  
xét xử, nên án lệ có mối liên hệ mật thiết  
với thẩm phán. Án lệ được tạo ra trong  
1. Stare decicis là một học thuyết (the doctrine), một nguyên tắc pháp lý (legal principle) Tiếng la tinh có  
nghĩa là thẩm phán bị ràng buộc bởi những phán quyết đã có trước đó (to stand in the-things-that-have-been-  
decided).  
2. Douglas E. Edlin, Common law theory, Cambridge University Press, 2007, p. 3.  
96  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
những tình huống bất thường và phải mang  
tính mới, tức là quy tắc được xác lập trong  
án lệ chưa tồn tại trước đó. Ngoài ra án lệ  
còn có tính lặp lại, tính bắt buộc khi trở  
thành khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc  
tương tự3.  
án lệ, thẩm phán cần căn cứ vào “căn cứ của  
phán quyết” (holding/Ratio decidendi), tức  
là bộ phận gồm những nhận định quan trọng  
để đi đến kết luận, chứ không phải là phần  
bình luận của thẩm phán (Obiter dictum).  
Hiện nay ở Anh, án lệ theo truyền  
thống vẫn là nguồn luật chủ yếu, tồn tại bên  
cạnh luật thành văn và các nguồn luật khác.  
Về pháp lý (de jure), luật thành văn được ưu  
tiên áp dụng khi có sự mâu thuẫn giữa án lệ  
và luật thành văn, nhưng xét trên phương  
diện thực tế (de facto), các thẩm phán luôn  
tìm cách để áp dụng án lệ. Bên cạnh đó, nếu  
so sánh với chính lịch sử của nước Anh,  
nghĩa vụ tuân theo án lệ hiện nay cũng mềm  
dẻo, linh hoạt hơn nhiều, nhằm đạt được  
mục tiêu quan trọng nhất là bảo vệ công lý.  
Theo Tuyên bố ngày 26/7/1966, Thượng  
nghị viện khẳng định việc từ chối tuân theo  
án lệ có thể được tiến hành nếu “việc tuân  
theo các án lệ một cách cứng nhắc có thể  
duy trì những bất công trong một vụ việc  
cụ thể và có thể cản trở sự phát triển thích  
đáng của pháp luật”7.  
Ở Anh, án lệ được phát triển trên cơ sở  
so sánh với tiền lệ (Analogy in case law)  
là việc so sánh với phán quyết đã được áp  
dụng trước đó. So sánh với tiền lệ không  
chỉ bao hàm việc so sánh sự giống nhau, mà  
còn cả việc chỉ ra sự khác nhau. Thẩm phán  
sẽ tìm ra những tiêu chí khẳng định sự khác  
biệt giữa vụ việc đã được giải quyết trước  
đó với vụ việc hiện tại. Trên cơ sở đó, thẩm  
phán có thể từ chối áp dụng quy tắc pháp  
lý của vụ việc trước đó với vụ việc hiện tại.  
Ở Anh có hai cách tiếp cận khác nhau  
về án lệ, đó là tiếp cận theo chiều dọc và tiếp  
cận theo chiều ngang4. Tiếp cận án lệ theo  
chiều dọc (vertical precedent) có nghĩa là  
các toà án cấp dưới phải tuân thủ các phán  
quyết của toà án cấp trên trong việc ra phán  
quyết của mình;5 tiếp cận án lệ theo chiều  
ngang (horizontal precedent) có nghĩa là toà  
án phải tuân theo những phán quyết trước  
đó của mình6.  
- Án lệ ở Mỹ  
Mỹ là một quốc gia liên bang, có Hiến  
pháp thành văn; do vậy, hệ thống pháp luật,  
hệ thống tòa án cũng có nhiều điểm khác  
biệt với nước Anh. Vai trò của học thuyết  
Stare Decisis ở Anh khắt khe hơn ở Mỹ. Ở  
Mỹ, kết quả xét xử một vụ việc có thể dựa  
trên chính sách chung nhiều hơn là dựa vào  
Trong hệ thống pháp luật Common  
Law, án lệ là nguồn luật quan trọng nhất.  
Tuy nhiên, việc áp dụng nguồn án lệ cần  
dựa trên hai yếu tố: Phân tích bối cảnh của  
án lệ so với vụ việc cần giải quyết và việc  
tìm kiếm lý do để quyết định. Khi áp dụng  
3. Thomas Lundmark, Charting the Divide Between Common and Civil Law, Oxford University Press, 2012, p. 181.  
4. Paul Brand, Joshua Getzler, Judges and Judging in the History of the Common Law and Civil Law,  
Cambridge University Press, 2012, p.151.  
5. Kmiec Keenan, The Origin and Current Meanings of “Judicial Activism”, California Law Review (2004).  
6. Douglas E. Edlin, Common law theory, Cambridge University Press, 2007, p.73-74.  
7. Nguyên văn Tiếng Anh: “Their Lordships nevertheless recognise that too rigid adherence to precedent may  
lead to injustice in a particular case and also unduly restrict the proper development of the law. They propose  
therefore, to modify their present practice and, while treating former decisions of this house as normally  
binding, to depart from a previous decision when it appears right to do so”.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
97  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
án lệ. Triết lý xét xử của tòa án thay đổi theo  
quan điểm cá nhân của người thẩm phán về  
vấn đề đang giải quyết và ở thời điểm giải  
quyết vụ việc8.  
nhận thấy rằng, án lệ có vấn đề sai sót hoặc  
không còn phù hợp với thực tế, tòa án sẽ  
dừng việc tuân theo án lệ13. Qua thời gian,  
có thể thấy rằng các phán quyết liên quan  
đến Hiến pháp so với phán quyết của tòa án  
trong những lĩnh vực khác ít tuân theo các  
án lệ nhất.  
Trong vụ Vasquez kiện Hillery (Vasquez  
vs. Hillery) năm 19869, Tòa án tối cao đã  
đưa ra quan điểm của mình về Stare Decisis  
như sau: “Stare Decisis tạo ra sự chính trực  
của chính quyền hợp hiến của chúng ta, cả  
trên phương diện hình thức và phương diện  
thực chất”10. Án lệ giúp cho tòa án rất nhiều;  
bởi lẽ, các tòa án khi phải giải quyết các vụ  
việc sau sẽ không phải mất nhiều thời gian  
đi tìm kiếm những cơ sở pháp lý liên quan  
đến vụ việc tương tự. Không những thế, các  
án lệ cũng giúp cho các bên có thể tìm được  
cách thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa  
án trên cơ sở thương lượng với nhau, giảm  
gánh nặng xét xử lên tòa án11.  
Nếu như ở Anh xuất hiện “Equity  
Law”, thì ở Mỹ xuất hiện chủ nghĩa hiện  
thực (Realism) để giải quyết những trường  
hợp mà Common Law không đưa ra được  
phương án giải quyết thuyết phục cho  
những vấn đề pháp lý mới phát sinh. Năm  
1881, Oliver Wendell Homes (1841-1935),  
người từng giữ vị trí Chánh án Tòa án tối  
cao Hoa Kỳ, đã nói rằng đời sống của luật  
không phải là logic, mà là kinh nghiệm14 và  
các nguyên tắc chung không quyết định các  
vụ việc cụ thể15. Homes cho rằng sự thay  
đổi thông luật là một quá trình khám phá,  
phát hiện (discovery), hơn là sự sáng tạo  
(creation). Thẩm phán không làm luật, mà  
chỉ tuyên bố cái gì là luật16. Oliver Wendell  
Homes cho rằng trong việc tranh biện trước  
Toà thì điều quan trọng không phải là logic  
mà “cái gì ảnh hưởng đến thế giới quan của  
thẩm phán”,17 là “những gì Toà án có thể sẽ  
thực thi trên thực tế” (courts are likely to  
do in fact) 18 . Holmes cho rằng luật không  
lơ lửng trên bầu trời, mà nó phải được xác  
Trong vụ Tổ chức bảo vệ công dân Hoa  
Kỳ (một tổ chức phi lợi nhuận) kiện Ủy ban  
bầu cử liên bang (FEC)12, Tòa án tối cao  
liên bang đã nhận định rằng mục đích lớn  
nhất của án lệ là phục vụ lý tưởng hiến pháp  
- pháp quyền. Trong trường hợp bất thường  
khi việc trung thành với bất kỳ tiền lệ cụ  
thể nào mà gây thiệt hại nhiều hơn thúc đẩy  
cho lý tưởng hiến pháp thì chúng ta phải  
sẵn sàng bãi bỏ hoặc không áp dụng án lệ  
đó. Tòa án tối cao liên bang giải thích: Khi  
8. Nguyễn Quốc Hoàn (Chủ biên), Giáo trình Luật so sánh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 298.  
9. Vasquez v. Hillery, 474 U.S. 254 (1986).  
10. Vasquez vs. Hillery, 474 U.S. 254 (1986), at 266.  
11. Trong vụ việc Hilton v. South Carolina Public. Railway Commission, 502 U.S. 197, at 202 (1991): Tuân  
theo án lệ thúc đẩy sự bền vững, tính có thể tiên liệu và tôn trọng thẩm quyền xét xử của Tòa án. (Nguyên văn:  
“Adherence to precedent promotes stability, predictability, and respect for judicial authority.”).  
12. Citizens United v. FEC, 558 U.S. 310 (2010).  
13. Xem: Citizens United v. FEC, 558 U.S.310 (2010), at 378.  
14. Holmes, O.W. (1881), The Common Law, Boston, p.1.  
15. Lochner vs. New York, 1905, 198 U.S. 45.  
16. R.W.M Dias (1985), Jurisprudence, p.151.  
17. Holmes, O.W. (1897), The Path of the law, Havard Law Review, 10, 457-478.  
18. Holmes, O.W. (1897), The Path of the law, Havard Law Review, 10, 461.  
98  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
định bằng cách quy chiếu tới những gì mà  
nêu chừng nào các điều kiện, cơ sở vật chất  
dành cho người da đen và người da trắng  
như nhau thì điều đó là bình đẳng, không  
có sự phân biệt đối xử. Phán quyết này  
thiết lập nguyên tắc “chia tách nhưng bình  
đẳng” (Seperate but Equal), ý muốn nói khi  
có sự chia tách giữa người da màu và da  
trắng nhưng nếu đảm bảo mọi điều kiện cơ  
sở vật chất như nhau thì vẫn là bình đẳng.  
Vào cuối những năm 1950, Hiệp hội vì  
sự tiến bộ của người da màu đã đấu tranh  
cho quyền bình đẳng của những người da  
màu khi theo đuổi, ủng hộ vụ kiện nổi tiếng  
Oliver Brown vs. Hội đồng giáo dục Topeka,  
Kansas22. Vào năm 1951, phán quyết này  
trở thành phán quyết làm thay đổi nguyên  
tắc chia tách nhưng bình đẳng. Khi con gái  
của Oliver Brown bị từ chối đăng ký vào  
trường tiểu học của Topeka, nơi chỉ gồm  
có những học sinh da trắng. Oliver Brown  
đã khởi kiện Hội đồng giáo dục Topeka vì  
đã có sự phân biệt đối xử. Brown đã phân  
tích việc chia tách thành các trường dành  
cho trẻ em da đen và các trường dành cho  
trẻ em da màu là không bình đẳng, và sự  
chia tách này vi phạm Tu chính thứ 14 trong  
Hiến pháp Hoa Kỳ, trong đó nêu rõ không  
một tiểu bang nào có thể tử chối đối với  
bất kỳ người nào sự bảo vệ bình đẳng của  
luật pháp trong các phán quyết của Toà án.  
Trong phán quyết ngày 17/5/1954, thẩm  
phán Warren đã tuyên bố trong lĩnh vực  
giáo dục thì nguyên tắc “chia tách nhưng  
bình đẳng” không có cơ sở để áp dụng. Các  
nguyên đơn trong trường hợp này đã bị tước  
đoạt quyền được bảo vệ bình đẳng theo Tu  
chính thứ 14 Hiến pháp Hoa Kỳ23. Từ đây,  
chúng ta có thể nhận thấy, phán quyết của  
các toà án thật sự nói rằng nó là như thế19.  
Theo chủ nghĩa hiện thực, luật phản  
ánh các yếu tố lịch sử, xã hội, văn hoá,  
chính trị, kinh tế, tâm lý và đặc biệt là hành  
vi của cá nhân người thẩm phán. Chính điều  
này dẫn đến việc các thẩm phán khác nhau  
với mục đích, nền tảng kiến thức khác nhau,  
nhân sinh quan khác nhau sẽ quyết định các  
vụ việc một cách khác nhau và sự khác nhau  
đó không có nghĩa rằng thẩm phán này là  
đúng, còn thẩm phán kia thì sai.  
Roscoe Pound (1870-1964), tác giả  
của cuốn “Xã hội học pháp luật” xuất bản  
năm 1912, cho rằng, “luật có tính hiện thực  
của nó, tức là luật đi từ đời sống và quay  
trở lại phục vụ đời sống”20. Trong việc giải  
quyết các tình huống thực tế, các phương  
pháp chủ yếu của chủ nghĩa hiện thực này  
có tính thực tế và mở, cụ thể đó là những  
đòi hỏi như 1) phải luôn xem xét mục tiêu  
của luật có phù hợp với đời sống xã hội [nền  
tảng chính trị, kinh tế, xã hội] hay không?  
Có phù hợp với lợi ích của các bên liên  
quan hay không? và 3) có hướng tới công  
bằng, bình đẳng hay không? Khi xem xét  
một vụ việc pháp lý cụ thể phát sinh trên  
thực tế, thẩm phán sẽ xem xét dưới nhiều  
góc độ khác nhau, trong đó có chính sách  
xét xử của toà án, lợi ích của các bên liên  
quan, lợi ích xã hội, lợi ích kinh tế, đạo đức  
xã hội v.v… Sau khi xem xét một cách toàn  
diện những hướng tiếp cận này, thẩm phán  
sẽ cân nhắc đưa ra phán quyết. Phán quyết  
này có giá trị như một quy tắc pháp lý mới  
(a new rule), tạo ra tiền lệ tốt cho xã hội.  
Ví dụ, năm 1896, Toà án tối cao Hoa  
Kỳ, trong phán quyết Plessy vs. Ferguson,21  
19. Raymond Wacks, Triết học pháp luật (Phạm Kiều Tùng dịch), Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2006, tr. 170.  
20. Pound, R. (1909), Liberty of contract, The Yale Law Journal, 18, 454-487.  
21. Plessy vs. Ferguson, 163 U.S. 537 (1896).  
22. Brown vs. Board of Education of Topeka, 347 U.S. 483 (1954).  
23. Brown v. Board of Education of Topeka, 347 U.S. 483 (1954), at 495.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
99  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Toà án chịu sự tác động, ảnh hưởng lớn từ  
phía xã hội. Trong nhiều trường hợp, phán  
quyết đó có thể làm thay đổi cả những nhận  
thức đã cũ, đã lỗi thời, không còn phù hợp  
với bối cảnh xã hội hiện tại.  
hành chính… Các chế định này hiện nay  
vẫn đang có hiệu lực áp dụng28.  
Đối với lĩnh vực dân sự, trong nhiều  
vụ việc, các thẩm phán Pháp đã sử dụng  
một quy tắc đạo đức để tránh việc phải áp  
dụng một quy định luật quá cứng nhắc.  
Điều 544 Bộ luật Dân sự Pháp29 định nghĩa  
về quyền tài sản một cách tuyệt đối: “Chủ  
sở hữu có quyền thụ hưởng và sử dụng vật  
một cách tuyệt đối nhất, miễn là không vi  
phạm các điều cấm của luật hoặc của các  
văn bản pháp quy”. Trên thực tế, nhiều chủ  
sở hữu đã vận dụng quy định này một cách  
tuyệt đối nhưng với mục tiêu xấu, ví dụ: sơn  
tường của mình màu đen để ngăn ánh sáng  
vào nhà hàng xóm; dựng ống khói giả rất  
to nhằm hứng hết nguồn nước không cho  
hàng xóm sử dụng.v.v.. Tóm lại, đây là  
hành vi không nhằm mang lại lợi ích nào  
cho mình mà chỉ nhằm thoả mãn việc chơi  
xấu hàng xóm.  
- Án lệ ở Pháp  
Điều 5 Bộ luật Dân sự Pháp 180424  
quy định: “Cấm thẩm phán ban hành các  
quy định mang tính lập pháp hay lập quy  
có hiệu lực áp dụng chung cho các vụ việc  
mà mình xét xử”25. Tuy nhiên, Điều 4 của  
Bộ luật này quy định thẩm phán có nghĩa  
vụ phải xét xử kể cả trong trường hợp pháp  
luật không quy định hoặc quy định không  
rõ ràng về vấn đề mà mình đang thụ lý26.  
Để lấp lỗ hổng pháp luật và tuân theo Điều  
4 này, án lệ đã trở thành một trong những  
nguồn của pháp luật của Pháp.  
Án lệ có một vai trò rất lớn trong việc  
khắc phục sự khiếm khuyết của pháp luật,  
đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật hành chính.  
Có thể nói rằng, án lệ hành chính là nguồn  
quy phạm chủ yếu của pháp luật hành chính  
của Cộng hoà Pháp27. Rất nhiều chế định  
quan trọng trong pháp luật hành chính hiện  
nay của Cộng hoà Pháp có nguồn gốc từ án  
lệ, ví dụ như các chế định về trách nhiệm  
của cơ quan hành chính, chế định về hợp  
đồng hành chính, chế định về khai thác,  
quản lý công sản, chế định về khiếu kiện  
Các hành vi này nếu căn cứ vào quy  
định tại Điều 544 Bộ luật Dân sự thì hoàn  
toàn được phép. Nhưng dưới tư duy pháp  
lý của thẩm phán thì việc áp dụng điều luật  
này một cách thuần tuý sẽ dẫn đến những  
hậu quả thiếu công bằng. Bởi vậy, lý thuyết  
về lạm quyền đã ra đời30. Lý thuyết này  
dường như chứa đựng mâu thuẫn: một mặt  
24. The Code Napoleon or The French Civil Code (literally translated from the original and official edition,  
published at Paris in 1804), The Lawbook Exchange, Ltd, Clark, New Jersey, 2004.  
25. Nguyên văn: “The Judges are forbidden to pronounce, by way of general and legislative determination, on  
the causes submitted to them. ”  
26. Nguyên văn: “The Judges who shall refuse to determine under pretext of the silence, obscurity, or  
insufficiency of the law, shall be liable to be proceeded against as guilty of a refusal of justice”.  
27. Thực tế, các phán quyết của Tòa hành chính Pháp được công bố công khai dưới dạng điện tử, cho nên dù  
không coi án lệ là nguồn chính thức, nhưng việc công bố công khai các bản án đã được thực hiện từ những năm  
1984 (http://www.legifrance.gouv.fr). Xem them: Đỗ Văn Đại, Tiếp thu kinh nghiệm từ Pháp và Thụy Sỹ trong  
pháp điển hóa các vấn đề án lệ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 20, Tháng 10/2014, tr. 58-59.  
28. Xem: Trần Đức Sơn, Hệ thống án lệ của Cộng hòa Pháp, Tạp chí Tòa án, Số 3/2006.  
29. Nguyên văn: “Property is the right of enjoying and disposing of things in the most absolute manner,  
provided they are not used in a way prohibited by the laws or statutes”.  
30. Nguyễn Hoàng Anh, Tư duy pháp lý trong hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, in trong: Nguyễn  
100  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
cho rằng một người có quyền nhưng mặt  
khác lại cũng cho rằng họ không có quyền  
đó. Cũng như thế, việc áp dụng lý thuyết  
này dẫn đến suy luận rằng thẩm phán đã căn  
cứ vào các quy tắc đạo đức, coi trọng quy  
tắc đạo đức hơn là điều luật. Trong thế kỷ  
XX, việc áp dụng lý thuyết lạm quyền đã  
trở nên rất phổ biến ở các toà án, còn được  
mở rộng: căn cứ áp dụng nó không chỉ dựa  
trên lập luận là hành vi không mang lại lợi  
ích gì cho chủ sở hữu hay việc làm tổn hại  
đến hàng xóm, mà toà án còn cân nhắc đến  
việc chủ sở hữu có đạt được mục tiêu hợp  
pháp với ít tổn hại cho láng giềng không;  
hoặc so sánh sự tương xứng giữa lợi ích của  
chủ sở hữu và sự bất lợi cho các đối tượng  
liên quan31.  
đề cập tới vai trò của án lệ trong hệ thống  
pháp luật nước Đức hiện nay.  
Cũng giống như ở Pháp, ở Đức không  
có bất kỳ quy định nào trong Hiến pháp hay  
văn bản pháp luật cụ thể thừa nhận án lệ là  
nguồn pháp luật34. Tuy nhiên, ở Đức có một  
thuật ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến  
là Rechtsfortbildung, có nghĩa là sự phát  
triển pháp luật của tòa án.35 Phán quyết của  
tòa án (Gerichtsentscheidungen) được sử  
dụng trước tiên để giải thích một thuật ngữ  
hay quy phạm mà còn có nhiều cách hiểu  
khác nhau, chưa thống nhất36. Bên cạnh  
đó, tòa án còn được trao quyền xử lý tình  
huống không có luật điều chỉnh (ohne eine  
gesetzliche Grundlage/praeter legem) hoặc  
phát triển một quy tắc pháp lý mới đi ngược  
lại lời văn của luật về mặt hình thức (gegen  
den Gesetzeswortlaut/contra legem) do bối  
cảnh thực tiễn xã hội đã thay đổi. Ngoài ra,  
Rechtsfortbildung còn bao gồm cả trường  
hợp tòa án thiết lập một nguyên tắc pháp  
luật mới (eine neue Rechtsregel) phù hợp  
với nhiệm vụ, định hướng xét xử của tòa  
án37. Rechtsfortbildung này không mâu  
thuẫn với nguyên tắc quy định tại Điều 1  
Hiến pháp Đức: Cơ quan tư pháp phải chịu  
ràng buộc bởi Hiến pháp và luật.  
- Án lệ ở Đức  
Khoản 1 Điều 31 LuậtToà án Hiến pháp  
Cộng hòa liên bang (CHLB) Đức năm 1993  
32  
quy định: “Các quyết định của Toà án  
Hiến pháp CHLB Đức có hiệu lực bắt buộc  
với các cơ quan của chính quyền liên bang  
và các tiểu bang cũng như tất cả những toà  
án và các cơ quan nhà nước khác”.33 Toà án  
Hiến pháp CHLB Đức có vị trí rất đặc biệt.  
Các quyết định của Tòa án Hiến pháp liên  
bang có hiệu lực cao hơn luật liên bang, trừ  
Hiến pháp. Đây là một đặc trưng cơ bản khi  
Minh Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh (Đồng chủ biên), Giáo trình Tư duy pháp lý, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,  
2020, tr. 315.  
31. Nguyễn Hoàng Anh, Tư duy pháp lý trong hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, in trong: Sđd, tr. 316.  
32. Luật Tòa án Hiến pháp liên bang (Bundesverfassungsgerichtsgesetz), công bố ngày 11/08/1993 (BGBl.  
I S. 1473).  
33. Nguyên văn: “Die Entscheidungen des Bundesverfassungsgerichts binden die Verfassungsorgane des  
Bundes und der Länder sowie alle Gerichte und Behörden.”  
34. Beaucamp/Treder, Methoden und Technik der Rechtsanwendung, 3. Auflage, 2015, Rn. 266  
35. Hans-Rudolf Horn: Richter versus Gesetzgeber. Entwicklungslinien richterlicher Verfassungskontrolle  
in unterschiedlichen Rechtssystemen. In: Jahrbuch des öffentlichen Rechts der Gegenwart. NF 55, 2007,  
S. 275–302.  
36. Karl Larenz: Methodenlehre der Rechtswissenschaft, 6., neu bearb. Auflage, Berlin/Heidelberg 1991, S. 367 ff.  
37. Reinhold Zippelius: Juristische Methodenlehre, 11. Auflage 2012, §§ 11 II; 12 I c.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
101  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Ví dụ 1: Tòa án xử lý tình huống không  
có luật điều chỉnh (ohne eine gesetzliche  
Grundlage/praeter legem).  
về tài sản (Vermögensschäden). Tòa án tối  
cao đã quyết định rằng chủ thể mà gây thiệt  
hại nặng về quyền nhân thân của người khác  
thì phải bồi thường, ví dụ như chủ thể khai  
thác một cách trái pháp luật hình ảnh, nhật  
ký riêng tư của người khác, không được sự  
đồng ý của người đó, thì phải bồi thường  
vật chất cho người đó40.  
Bộ luật Dân sự Đức năm 189638 quy  
định nghĩa vụ của bất kỳ ai phải bồi thường,  
nếu người đó làm hỏng tài sản của người  
khác (khoản 1 Điều 823). Tuy nhiên, phạm  
vi bồi thường (từ điều 249 đến 252) lại  
không chứa đựng quy định cho trường hợp:  
Liệu một người có thể khởi kiện yêu cầu bồi  
thường cho vật, khi mà người đó không sử  
dụng vật đang bị hỏng trong thời gian sửa  
chữa hay không?  
Rõ ràng, trong trường hợp này, từ ngữ  
trong luật là: không bồi thường đối với  
trường hợp không phải là thiệt hại về tài  
sản (Vermögensschäden). Tòa án phát triển  
một quy tắc pháp lý mới đi ngược lại lời  
văn của luật về mặt hình thức (gegen den  
Gesetzeswortlaut/contra legem) của luật,  
do bối cảnh thực tiễn xã hội đã thay đổi, cần  
phải bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể bị  
vi phạm41.  
Tòa án Tối cao liên bang đã thiết lập  
một nguyên tắc: Do khả năng sử dụng của  
vật bị mất đi, do vậy phải bồi thường, nếu  
khả năng sử dụng này được dùng vào việc  
thương mại hóa (kommerzialisiert), người  
chiếm hữu đã xem vật này là công cụ để  
giao dịch. Chẳng hạn, việc bồi thường có  
thể được áp dụng đối với chiếc xe ô tô  
trong thời gian sửa chữa, nếu người sửa  
chữa xe này dùng nó vào mục đích thương  
mại, không được sự đồng ý của chủ xe. Tuy  
nhiên, quy tắc này sẽ không được áp dụng  
đối với trường hợp sửa chữa một chiếc áo39.  
Ví dụ 3: Tòa án thiết lập một nguyên  
tắc pháp luật mới (eine neue Rechtsregel)  
phù hợp với nhiệm vụ, định hướng xét xử  
của tòa án.  
Theo phán quyết của Tòa án Hiến pháp  
liên bang “BverfG”, NJW, 1990, 563: Việc  
công quyền can thiệp vào lĩnh vực, đời sống  
riêng tư căn bản (innersten Bereich privater  
Lebensgestaltung), đồng thời hạn chế  
những quyền này, nếu chỉ dựa vào việc cho  
rằng để bảo vệ lợi ích công cộng là chưa đủ.  
Nói cách khác, công quyền không được áp  
dụng nguyên tắc tương xứng trong lĩnh vực,  
đời sống riêng tư căn bản42.  
Ví dụ 2: Tòa án phát triển một quy tắc  
pháp lý mới đi ngược lại lời văn của luật về  
mặt hình thức (gegen den Gesetzeswortlaut/  
contra legem) do bối cảnh thực tiễn xã hội  
đã thay đổi.  
Khoản 1 Điều 253 Bộ luật Dân sự  
Đức đã loại trừ việc bồi thường thiệt hại do  
những thiệt hại mà không phải là thiệt hại  
Nguyên tắc bình đẳng được Tòa án  
Đức xem xét như là nguyên tắc căn bản khi  
38. Bộ luật Dân sự Đức (Bürgerliches Gesetzbuch), viết tắt là BGB, được Nghị viện (Reichstag) thông qua vào  
năm 1896 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1900.  
39. Simon/Funk-Baker, Deutsche Rechtssprache, Ein Studien- undArbeitsbuch mit Einführung in das deutsche  
Recht, 6. Aufl., C.H.Beck, 2017, S. 24.  
40. BVerfGE 34, 269 (Soraya). Xem thêm: Nigel Foster, Satish Sule, German Legal System and Laws, Oxford  
University Press, 2008, p. 63.  
41. Simon/Funk-Baker, Deutsche Rechtssprache, Ein Studien- undArbeitsbuch mit Einführung in das deutsche  
Recht, 6. Aufl., C.H.Beck, 2017, S. 25.  
42. BverfG, NJW, 1990, 563.  
102  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
phát triển pháp luật43. Khác với Common  
law, phát triển án lệ bằng phương pháp tư  
duy pháp lý Analogy (so sánh tương đồng),  
Tòa án Đức nói riêng và Tòa án các nước  
châu Âu lục địa nói chung tuân thủ nguyên  
tắc phân quyền, trong đó coi trọng sự bình  
đẳng giữa các chủ thể pháp lý. Phương pháp  
diễn dịch pháp lý (Subsumtion)44 để giải  
quyết vấn đề phát sinh trên cơ sở luật được  
áp dụng phổ biến45.  
thiết lập một nguyên tắc pháp luật mới phù  
hợp với nhiệm vụ, định hướng xét xử của  
tòa với mục tiêu cao nhất của tòa án là bảo  
vệ công lý.  
Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan,  
khoa học, việc xác định “tình huống pháp  
lý tương tự” cần được áp dụng một cách cụ  
thể, chặt chẽ và có sự hướng dẫn cần thiết.  
Để áp dụng được nguyên tắc này, thẩm phán  
phải xác định được đâu là “tình tiết chính”  
và thế nào là “tương tự”.  
Thứ hai, việc xây dựng án lệ cần đảm  
bảo tính hệ thống, cần phát triển án lệ thành  
3 loại để áp dụng, để giải thích luật và bản  
án mẫu.  
Qua quá trình xét xử, số lượng án lệ sẽ  
ngày càng gia tăng, để dễ dàng cho việc tìm  
kiếm thì ngay từ đầu phải có sự sắp xếp và  
lưu trữ một cách khoa học các bản án. Có  
rất nhiều cách để hệ thống lại các bản án lệ  
lưu trữ theo thời gian xét xử, theo cấp toà,  
theo loại vụ việc. Án lệ cần được phát triển  
theo giá trị thành: Án lệ để áp dụng, án lệ để  
giải thích luật, và các bản án mẫu để thẩm  
phán có thể tham khảo.  
2. Một số gợi mở nhằm nâng cao chất  
lượng áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay  
Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, xây  
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện  
nay, việc xây dựng, phát triển án lệ một  
cách đồng bộ, hệ thống, khoa học có một ý  
nghĩa rất quan trọng. Từ kinh nghiệm xây  
dựng, phát triển án lệ ở một số quốc gia trên  
thế giới như phân tích ở trên, chung tôi rút  
ra một số gợi mở có thể tham khảo nhằm  
nâng cao chất lượng áp dụng án lệ ở nước  
ta như sau:  
Thứ nhất, cần thống nhất cách hiểu về  
“án lệ” và “tình huống pháp lý tương tự”.  
Án lệ ra đời để khắc phục tính khái quát  
hóa cao và tính không thể dự đoán hết các  
tình huống sẽ xảy ra trong tương lai của luật  
thành văn. Điều đó có nghĩa là án lệ được  
xây dựng và phát triển khi xử lý những tình  
huống bất thường, chưa có luật điều chỉnh  
hoặc có luật nhưng thiếu cụ thể, rõ ràng, cần  
phải giải thích, làm rõ. Chính vì vậy, tòa án  
cần phải được trao quyền để xử lý cả những  
tình huống không có luật điều chỉnh, được  
phát triển một quy tắc pháp lý mới đi ngược  
lại lời văn của luật về mặt hình thức do bối  
cảnh thực tiễn xã hội đã thay đổi và được  
Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo thẩm  
phán để nâng cao chất lượng của án lệ.  
Để có được những án lệ có giá trị thì  
đòi hỏi các thẩm phán phải thực sự có trình  
độ cao, có khả năng phân tích, đánh giá và  
đưa ra các phán quyết có chất lượng tốt, từ  
đó mới có thể xây dựng nên các án lệ có  
chất lượng. Để đạt được điều này, cần đổi  
mới công tác đào tạo, xây dựng một mô hình  
đào tạo thẩm phán thích hợp, bảo đảm các  
thẩm phán có trình độ chuyên môn, nghiệp  
vụ đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách  
tư pháp ở nước ta hiện nay  
43. Reinhold Zippelius: Rechtsphilosophie, 6. Auflage, § 18 II.  
44. Phương pháp diễn dịch pháp lý (Subsumtion) hay còn gọi là phương pháp NSSS gồm 4 giai đoạn: 1) tìm ra  
quy phạm áp dụng (Norm), 2) nghiên cứu tình huống pháp lý (Sachverhalt), 3) phân tích mối quan hệ giữa quy  
phạm và tình huống pháp lý (Subsumsion), 4) kết luận (Schluβ). Phương pháp này cơ bản giống với phương  
pháp IRAC (Issue – Rule – Analysis – Conclusion) được áp dụng phổ biến ở các nước Anh, Mỹ.  
45. Reinhold Zippelius: Recht und Gerechtigkeit in der offenen Gesellschaft, 2. Auflage, 1996, S. 327.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
103  
pdf 8 trang Thùy Anh 17920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Án lệ, áp dụng án lệ trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfan_le_ap_dung_an_le_tren_the_gioi_va_goi_mo_cho_viet_nam.pdf