Pháp luật về hoà giải thương mại tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập – kinh nghiệm quốc tế và một số gợi mở cho Việt Nam

PHÁP LUẬT VỀ HOÀ GIẢI THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM  
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
LAW ON COMMERCIAL MEDIATION IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF  
INTEGRATION – INTERNATIONAL EXPERIENCES AND SOME  
SUGGESTIONS FOR VIETNAM  
Lê Thu Trang  
Cao Thị Ngọc Mỹ  
Trần Nguyễn Khánh Hằng  
TÓM TẮT: Trong bối cảnh toàn cầu hoá, với nhu cầu giải quyết tranh chấp  
nhanh gọn và tiết kiệm, hoà giải thương mại ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm.  
Song tại Việt Nam, phương thức này vẫn chưa được đánh giá cao, phần lớn đến từ  
những điểm chưa hoàn thiện trong khung pháp lý về hoà giải thương mại. Thông qua  
bài viết, nhóm tác giả sẽ đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về hoà giải  
thương mại, đồng thời tham khảo mô hình hoà giải của một số nước trên thế giới để  
đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hòa giải thương mại  
tại Việt Nam.  
Từ khóa: Hoà giải thương mại, Công ước Singapore, Bối cảnh hội nhập, Hoà  
giải thương mại tại Hoa Kỳ, Hoà giải thương mại tại Singapore.  
ABSTRACTS: In light of globalization and the demand for immediate and  
economic dispute resolution, commercial mediation has been attracting more and  
more attention. However, in Vietnam, this method has not been appreciated, the major  
reason is the imperfection of Vietnam‟s legal framework for commercial mediation.  
Therefore, in this article, we will evaluate Vietnamese regulations on commercial  
mediation, as well as making references to the mediation models of some countries in  
Sinh viên; Đại học Luật Hà Nội; [email protected].  
 Sinh viên; Đại học Luật Hà Nội; [email protected].  
 Sinh viên; Đại học Luật Hà Nội; [email protected].  
37  
the world to provide helpful recommendations for improving the legal system on  
commercial mediation in Vietnam.  
Keywords: Commercial mediation, Singapore Convention on Mediation,  
Globalization, Commercial mediation in America, Commercial mediation in  
Singapore.  
1. Thực trạng hoạt động hòa giải thƣơng mại tại Việt Nam  
Đứng trƣớc nhu cầu sử dụng phƣơng thức giải quyết tranh chấp thay thế của  
nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là hoà giải thƣơng mại, Việt Nam đã xây dựng đƣợc  
khung pháp lý cơ bản, tạo tiền đề cho hoạt động hòa giải thƣơng mại. Cụ thể, Chính  
Phủ đã ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2017 về Hòa  
giải thƣơng mại, quy định chi tiết về nguyên tắc hòa giải, trình tự thủ tục hòa giải, tiêu  
chuẩn hòa giải viên, điều kiện thành lập và hoạt động của tổ chức hòa giải thƣơng mại.  
Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) cũng có sự chú trọng đến hoạt  
động này khi dành riêng một chƣơng (Chƣơng XXXIII) quy định Thủ tục công nhận  
kết quả hòa giải thành ngoài tòa án.  
Sau khi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ra đời, đến nay, Việt Nam đã có trên 10  
trung tâm hoà giải đƣợc thành lập khắp cả nƣớc theo quy định tại Nghị định này và  
tính đến năm 2020, cả nƣớc đã có khoảng 100 hoà giải viên thƣơng mại vụ việc đã  
đăng ký tại Sở Tƣ pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng3. Tuy nhiên, so với sự  
phát triển của Hoà giải thƣơng mại trên thế giới, Hoà giải thƣơng mại tại Việt Nam  
vẫn còn non trẻ và chƣa đƣợc sử dụng phổ biến. Lấy dẫn chứng tại Trung tâm Hoà giải  
Việt Nam (VMC), theo số liệu năm 2020, số vụ tranh chấp đƣợc thụ lý giải quyết tại  
VMC mới chỉ dừng lại ở con số 10, liên quan chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng,  
mua bán hàng hoá và sở hữu trí tuệ, trong đó chỉ có 5 vụ hoà giải thành và các bên tự  
nguyện thi hành4. Con số này là không đáng kể so với các vụ tranh chấp thƣơng mại  
3
nay, truy cập ngày 20/8/2021.  
4 Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, https://www.viac.vn/images/Resources/Annual-  
Reports/2020/VIAC_Bao-cao-thuong-nien-2020.pdf, truy cập ngày 20/8/2021, tr. 10.  
38  
đƣợc Toà án thụ lý, xét xử năm 20205. Bên cạnh đó, cũng chƣa có nhiều đơn yêu cầu  
giải quyết tranh chấp công nhận kết quả hoà giải thành đƣợc ghi nhận.  
2. Đánh giá các quy định pháp luật về hoà giải thƣơng mại tại Việt Nam  
Thứ nhất, về vấn đề đánh giá chất lƣợng hoà giải viên.  
Các quy định của Việt Nam về hòa giải viên chƣa chú trọng vào việc quản lý  
chất lƣợng hòa giải viên, chƣa có các quy định cụ thể để đánh giá khả năng và kinh  
nghiệm của họ. Pháp luật Việt Nam hiện nay áp dụng cả hai loại tiêu chuẩn định  
lƣợng6 và định tính7 cho việc hành nghề của hòa giải viên thƣơng mại8. Bên cạnh đó,  
các nhà làm luật còn quy định một số trƣờng hợp bị cấm trở thành hòa giải viên9 và  
cho phép các trung tâm hòa giải thƣơng mại có thể quy định tiêu chuẩn hòa giải viên,  
nhƣng phải cao hơn các tiêu chuẩn nêu trên10. Theo đánh giá của nhóm tác giả, việc áp  
dụng cả hai tiêu chí định lƣợng và định tính nhƣ vậy đối với hòa giải viên hành nghề  
tại Việt Nam là khá cứng nhắc, chƣa hƣớng đến việc bảo đảm chất lƣợng thực tế khi  
hành nghề của hòa giải viên, bởi các tiêu chí đánh giá chất lƣợng còn khá trừu tƣợng  
và khó để xác minh trong thời gian ngắn, trong khi đó, hiện nay Việt Nam lại chƣa có  
mô hình đào tạo hoà giải viên chuyên nghiệp nào nên việc chứng minh năng lực khó  
đƣợc thực hiện.  
Bên cạnh đó, quy định về thủ tục pháp lý để một cá nhân trở thành hoà giải viên  
vẫn mang nặng tính nguyên tắc và không thực sự cần thiết. Theo đó, để trở thành hòa  
giải viên hợp pháp, những ngƣời có đủ tiêu chuẩn để trở thành hòa giải viên theo quy  
định pháp luật phải có tên trong danh sách của một tổ chức hòa giải cụ thể hoặc có tên  
trong danh sách hòa giải viên thƣơng mại vụ việc đƣợc đăng ký và công bố trên Cổng  
thông tin của Sở Tƣ pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng nơi ngƣời đó thƣờng  
5 Năm 2020 Toà án đã thụ lý 19.256 vụ việc kinh doanh thƣơng mại; giải quyết 15.245 vụ việc (theo Báo cáo  
Tổng kết công tác năm 2020 và nhiệm kỳ 2016 – 2020; Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2021  
của các tòa án).  
6 Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, hòa giải viên phải là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi dân  
sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thời gian công tác trong lĩnh vực đƣợc đào tạo từ 02 năm trở lên.  
7 Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, hòa giải viên phải có đạo đức tốt, có uy tín, độc lập, vô tƣ,  
khách quan, có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật, tập quán kinh doanh, thƣơng mại và các lĩnh vực liên quan.  
8 Lê Hƣơng Giang (2018), Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về hoà giải thương mại ở Việt Nam, Khoa học  
pháp lý Việt Nam, (09/121).  
9 Theo khoản 4 Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP: “Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án  
hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý  
hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì không được làm hòa giải viên thương  
mại”.  
10 Theo khoản 3 Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP.  
39  
trú, hoặc tạm trú nếu là ngƣời nƣớc ngoài11. Để làm đƣợc điều này, hòa giải viên cần  
thực hiện thủ tục đăng ký hòa giải viên thƣơng mại vụ việc theo quy định của pháp  
luật12. Theo quy định này, việc đánh giá chất lƣợng hoà giải viên để chấp thuận hay từ  
chối đăng ký hoà giải viên hiện nay đƣợc thực hiện bởi Sở Tƣ pháp. Tuy nhiên đây chỉ  
là một cơ quan hành chính mà không phải cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực hoà giải  
nên sẽ khó có thể hoặc nếu có sẽ tốn khá nhiều thời gian để đƣa ra những đánh giá  
chính xác nhất đối với các hoà giải viên. Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng quy định này  
không những không đánh giá, quản lý đƣợc chất lƣợng hoà giải viên, mà còn gây mất  
thời gian của các bên cũng nhƣ gây lãng phí ngân sách nhà nƣớc.  
Thứ hai, các quy định về nghĩa vụ của tổ chức hoà giải thƣơng mại và hoà giải  
viên còn tồn tại một số hạn chế. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chƣa tập trung đến việc  
quy định nghĩa vụ của tổ chức hoà giải đối với các bên tranh chấp, khi mới chỉ đề cập  
đến nghĩa vụ lƣu trữ hồ sơ hay cung cấp thông tin13. Đi cùng với đó là các vấn đề nhƣ  
quy tắc ứng xử của hoà giải viên, hƣớng dẫn về việc ban hành quy tắc hòa giải cũng  
chƣa đƣợc quy định khiến cho quyền và lợi ích của bên tranh chấp14 dễ bị xâm phạm.  
Thứ ba, hiện Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã đề cập đến chế định bảo mật trong  
hoà giải thƣơng mại tại Điều 4.2, 9.1.c, 10.1, nhƣng các quy định này còn chung  
chung, chƣa thực sự tối ƣu hoá và điều chỉnh một cách chi tiết các yếu tố trong vấn đề  
bảo mật trong khi đây là một trong những nguyên tắc làm nên ƣu điểm của phƣơng  
thức hoà giải thƣơng mại. Hơn nữa trong bối cảnh Covid, các quy định này cũng đã  
bộc lộ nhiều thiếu sót khi không có các quy định để kiểm soát đƣợc sự bảo mật trong  
quá trình giải quyết tranh chấp đối với những phiên hoà giải trực tuyến. Vấn đề này  
không chỉ xảy ra tại Việt Nam mà trên thế giới đã có rất nhiều vụ tấn công mạng, cụ  
thể là trên phần mềm trực tuyến Zoom15 liên tiếp gặp phải các hacker đột nhập vào các  
cuộc họp gây gián đoạn thậm chí có thể lấy cắp thông tin16. Hạn chế này của pháp luật  
11 Theo Điều 8 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP.  
12 Theo Điều 8 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP.  
13 Theo điểm e khoản 2 Điều 24 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP.  
14 Bên sử dụng dịch vụ.  
15 Đây là một trong những nền tảng trực tiếp đƣợc lựa chọn sử dụng rất nhiều trong thời gian gần đây.  
cập ngày 23/7/2021.  
40  
Việt Nam cũng đã phần nào lý giải đƣợc tâm lý thận trọng của các bên, nhất là doanh  
nghiệp, trong việc lựa chọn hoà giải thƣơng mại để giải quyết tranh chấp.  
Thứ tư, hiện toàn bộ thời gian tiến hành hoà giải không đƣợc loại trừ khỏi thời  
hiệu khởi kiện, trừ trƣờng hợp các bên tranh chấp có kết quả hòa giải thành. Theo đó,  
trong quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện tại Điều 156 Bộ luật  
Dân sự (BLDS) năm 2015, không có trƣờng hợp thời gian hoà giải. Hay, thời hiệu khởi  
kiện sẽ không đƣợc cộng thêm thời gian tiến hành quá trình hoà giải, trong trƣờng hợp  
các bên hoà giải không thành mà thời hiệu khởi kiện đã hết, đơn yêu cầu giải quyết vụ  
việc của các bên sẽ có nguy cơ bị từ chối tại Toà án. Luật hiện nay chỉ quy định trƣờng  
hợp nếu các bên hoà giải thành thì thời hiệu khởi kiện mới đƣợc bắt đầu lại17.  
Thứ năm, quy định về thủ tục công nhận thỏa thuận hoà giải thành vẫn chƣa  
đƣợc làm rõ. Theo BLTTDS, Tòa án Việt Nam chỉ công nhận thỏa thuận giải quyết  
tranh chấp do hòa giải viên, tổ chức hòa giải đƣợc đăng ký hoạt động theo quy định  
của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, mà chƣa có quy định về việc công nhận thoả thuận  
giải quyết tranh chấp do hòa giải viên, tổ chức hòa giải ở nƣớc ngoài không đăng ký  
hoạt động tại Việt Nam thực hiện. Hơn nữa, luật chỉ công nhận và cho thi hành tại Việt  
Nam quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan có thẩm quyền nƣớc  
ngoài (không phải Tòa án), nên thỏa thuận giải quyết tranh chấp thƣơng mại do hòa  
giải viên nƣớc ngoài, tổ chức hòa giải ở nƣớc ngoài không đăng ký hoạt động tại Việt  
Nam thực hiện không thuộc loại đƣợc công nhận và cho thi hành18. Đây là một nhƣợc  
điểm lớn, khiến hoà giải thƣơng mại tại Việt Nam kém thu hút không chỉ trong nƣớc  
mà còn trên thị trƣờng quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập, khi các tranh chấp  
thƣơng mại quốc tế không ngừng gia tăng.  
3. Tham khảo quy định nƣớc ngoài về hoà giải thƣơng mại  
Nhƣ đã đề cập, hòa giải thƣơng mại là một trong những phƣơng thức giải quyết  
tranh chấp phát triển trên thế giới. Vì vậy trong bối cảnh toàn cầu hóa nhƣ hiện nay,  
việc tham khảo quy định về hòa giải thƣơng mại tại các quốc gia khác là vô cùng cần  
đối với việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về hòa giải tại Việt Nam. Nhóm  
tác giả đã chọn ra hai quốc gia tiêu biểu trong hoạt động hòa giải thƣơng mại là Hoa  
17 Theo điểm c khoản 1 Điều 157 BLDS 2015.  
uoc-cua-viet-nam-a236044.html, truy cập ngày 19/9/2021.  
41  
Kỳ và Singapore để tiến hành phân tích, tham khảo. Bởi theo thống kê, những năm gần  
đây tỷ lệ các bên tranh chấp lựa chọn phƣơng thức này tại hai nƣớc này thƣờng đạt tỷ  
lệ khá cao (lên tới 70-80%)19. Hơn nữa, Singapore còn là quốc gia đóng vai trò quan  
trọng trong việc đƣa ra Công ƣớc Singapore về Hoà giải20, là cầu nối giữa các quốc gia  
trong vấn đề hoà giải thƣơng mại trong bối cảnh toàn cầu hoá.  
3.1. Hoà giải thương mại tại Hoa Kỳ  
Các quy định về hoà giải thƣơng mại xuất hiện từ sớm trong hệ thống văn bản  
pháp luật Hoa Kỳ nhƣ Công ƣớc Washington 1965; Quy tắc Trọng tài quốc tế của  
Hiệp hội trọng tài Hòa Kỳ. Một điểm đặc biệt trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là do  
tính chất của chế độ chính trị nên dựa trên tình hình thực tiễn các bang có thể lựa chọn  
ban hành đạo luật riêng về hòa giải. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn có Luật Hòa giải thống  
nhất (Uniform Mediation Act - UMA) với điểm nổi bật là các quy định về bảo mật21.  
Thứ nhất, về chủ thể có quyền và nghĩa vụ bảo mật thông tin: Mục 4 UMA22  
quy định về chủ thể của quyền bảo mật bao gồm các bên tranh chấp, hòa giải viên và  
cả bên thứ ba tham gia hòa giải. Họ đều có quyền bảo mật thông tin của mình và ngăn  
chặn ngƣời khác tiết lộ thông tin đó. Điều này cũng gián tiếp đặt nghĩa vụ bảo mật  
thông tin lên các chủ thể, không chỉ là các chủ thể liên quan đến quá trình hòa giải mà  
có thể còn là bất kỳ ai biết đƣợc những thông tin này. Quy định này cũng đã bao quát,  
mở rộng chủ thể của quyền này so với Luật mẫu hay quy định của một số quốc gia trên  
thế giới.  
Thứ hai, phạm vi bảo mật cũng được quy định chặt chẽ. Bởi, phạm vi bảo mật  
không chỉ áp dụng với thông tin mà một bên hòa giải cung cấp cho hòa giải viên mà  
còn đƣợc áp dụng đối với cả nội dung giao tiếp trong hỏa giải của hòa giải viên và bên  
thứ ba.  
19Theo Alternative Dispute Resolution at the Department of Justice,  
20 Công ƣớc Singapore đang đƣợc Việt Nam cân nhắc để tham gia.  
21  
Hoàng Minh Khôi (2016), “Các nội dung về bảo mật trong hòa giải thƣơng mại ngoài tòa án theo Luật mẫu  
UNCITRAL và Luật Hòa giải thống nhất của Hòa Kỳ”, Nghiên cứu lập pháp, (13).  
22 “(b) Trong quá trình tố tụng, các đặc quyền sẽ được áp dụng như sau: (1) Một bên hòa giải có thể từ chối tiết  
lộ, và có thể ngăn chặn người khác tiết lộ thông tin hòa giải; (2) Một hòa giải viên có thể từ chối tiết lộ thông tin  
hòa giải, và có thể ngăn chặn người khác tiết lộ thông tin hòa giải từ hòa giải viên; (3) Một bên tham gia không  
phải là bên hòa giải có thể từ chối tiết lộ thông tin, và có thể ngăn chặn người khác tiết lộ thông tin hòa giải từ  
người đó”.  
42  
Thứ ba, về căn cứ xác lập quyền bảo mật: Mục 8 UMA quy định, ngoại trừ các  
quy định pháp luật dẫn chiếu, các bên đƣợc thỏa thuận phạm vi bảo mật. Điều này cho  
thấy sự ƣu tiên tôn trọng ý chí của các bên trong quá trình hòa giải. Ngoài ra, để có thể  
xác lập đƣợc quyền bảo mật, thông tin của các bên đƣa ra không chỉ phải thuộc đối  
tƣợng đƣợc bảo mật, đƣợc xác lập theo hình thức quy định mà còn phải là thông tin  
không thể tiếp cận đƣợc bằng cách thứ khác theo quy định tại Mục 3.c UMA.  
Thứ tư, về ngoại lệ của quyền bảo mật: Đạo luật thống nhất về Hòa giải tại Hoa  
Kỳ quy định về các trƣờng hợp ngoại lệ không đƣợc áp dụng nguyên tắc/ quyền bảo  
mật tại Mục 6. Tuy nhiên, UMA cũng chỉ cho phép các bên tiết lộ những thông tin cần  
thiết cho việc áp dụng ngoại lệ đó. Những nội dung giao tiếp khác vẫn đƣợc các bên  
xác lập quyền bảo mật theo cách thức đã quy định.  
Bên cạnh đó, vì hòa giải thƣơng mại là một quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn có  
quyền thỏa thuận những điều pháp luật không cấm. Do đó, UMA cũng cho phép các  
bên từ bỏ quyền bảo mật theo quy định tại Mục 5.a. Bên cạnh đó, Mục 5.b cũng quy  
định về 2 trƣờng hợp mà ngƣời có quyền bảo mật bị tƣớc quyền khi ngƣời tiết lộ nhằm  
gây hại cho ngƣời trong quá trình tố tụng hoặc cố ý sử dụng việc hòa giải để lên kế  
hoạch, tìm cách thực hiện tội phạm hay che giấu tội phạm hoặc hành vi phạm tội.  
3.2. Hoà giải thương mại tại Singapore  
Ngoài Hoa Kỳ, Singapore cũng có hệ thống hòa giải rất phát triển và tốc độ triển  
khai các chƣơng trình hoà giải nhanh chóng. Theo thống kê, tính đến năm 2019 có  
khoảng hơn 4.000 vụ việc hòa giải thƣơng mại đƣợc đƣa ra Trung tâm Hoà giải  
Singapore (SMC)23, với tỷ lệ thoả thuận hoà giải khoảng 70% và hơn 90% các tranh  
chấp đƣợc hòa giải thành thƣờng chỉ diễn ra trong một ngày làm việc24. Chất lƣợng  
của hoà giải viên đã đóng góp không ít vào kết quả có đƣợc của Singapore về hoà giải  
thƣơng mại vì thế mà các quy định, chính sách về vấn đề này của Singapore rất đáng  
để tham khảo và học hỏi.  
Theo quy định tại Luật Hoà giải 2017 của Singapore, hoà giải viên có thể có kinh  
nghiệm từ nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau, bao gồm nghị sĩ, cựu thẩm phán  
23Đây một tổ chức phi lợi nhuận thuộc Học viện Luật Singapore, có mối liên hệ chặt chẽ với các hiệp hội thƣơng  
mại, các hội nghề nghiệp và đƣợc sự ủng hộ rất lớn từ Ngành Tòa án.  
24Loong Seng Onn, An Overview of the Singapore Legal System – Chapter 3: Mediation,  
43  
Tòa án Cấp cao25, luật sƣ, kiến trúc sƣ, bác sĩ, kỹ sƣ, chuyên gia công nghệ thông tin,  
giám đốc dự án, các nhà tâm lý học và các giáo sƣ đại học. Tuy nhiên việc hành nghề  
của hoà giải viên phải tuân theo các tiêu chuẩn và đƣợc cấp chứng nhận từ Viện hoà  
giải quốc tế Singapore (SIMI)26 - một tổ chức phi lợi nhuận đƣợc hỗ trợ bởi Bộ Tƣ  
pháp và trực thuộc Trƣờng Đại học Quốc gia Singapore. Tiêu chuẩn của tổ chức này  
đƣa ra đƣợc xếp theo các cấp độ công nhận khác nhau. Đối với hòa giải viên đƣợc  
công nhận ở tiêu chuẩn số 01 là hòa giải viên hoàn thành và qua đƣợc Chƣơng trình  
huấn luyện trong thời gian 02 năm trƣớc ngày nộp đơn yêu cầu. Đối với hòa giải viên  
đƣợc công nhận ở tiêu chuẩn số 02 thì cần đáp ứng thêm tiêu chuẩn kinh nghiệm trong  
thời gian 02 năm trƣớc ngày nộp đơn yêu cầu, cụ thể là cần hòa giải 05 vụ việc hoặc  
50 giờ nếu một hoặc một số vụ việc hòa giải kéo dài hơn một ngày, cung cấp đƣợc ít  
nhất 02 phản hồi cho các vụ việc đã hòa giải. Đối với hòa giải viên đƣợc công nhân ở  
tiêu chuẩn số 03, số kinh nghiệm đƣợc nâng lên là 12 vụ việc hoặc 120 giờ hòa giải  
nếu một hoặc nhiều vụ hòa giải kéo dài hơn một ngày, cung cấp ít nhất 05 phản hồi  
cho các vụ việc đã hòa giải. Đối với hòa giải viên đƣợc công nhận hoàn toàn27 thì số  
kinh nghiệm phải đƣợc hoàn thành trong thời hạn 03 năm ngay trƣớc khi nộp đơn yêu  
cầu đƣợc xác định là 20 vụ việc hoặc 200 giờ nếu một hoặc một số vụ việc kéo dài hơn  
một ngày28. Các hòa giải viên ở cấp độ cuối cùng phải hoàn thành lý lịch hòa giải viên  
SIMI, nộp đƣợc ít nhất 10 phản hồi từ các vụ việc đã tham gia xử lý và phải vƣợt qua  
kiểm tra đánh giá về kiến thức và kỹ năng. Ngoài ra trung tâm này có thể liên kết đào  
tạo với các tổ chức hoà giải thƣơng mại nhƣ Viện giải quyết tranh chấp quốc tế  
Singapore (SIDRA), Trung tâm Hoà giải Singapore (SMC) để đào tạo cho hoà giải viên  
của chính tổ chức đó.  
Có thể thấy pháp luật Singapore đƣa ra tiêu chuẩn rất khắt khe về việc hành nghề  
hoà giải, đòi hỏi hoà giải viên đáp ứng cả về cả kiến thức lẫn kinh nghiệm thực tiễn.  
Đồng thời phản hồi của khách hàng cũng là một trong những yếu tố then chốt để công  
nhận hoà giải viên. Những tiêu chuẩn đó đã mang lại cho ngành hoà giải thƣơng mại  
Singapore những hoà giải viên chất lƣợng, giàu kinh nghiệm thực tiễn dẫn dắt những  
25High Court.  
26Singapore International Meditaion Insititute – SIMI Credentialing Scheme, http://www.simi.org.sg/What-We-  
Offer/Mediators/SIMI-Credentialing-Scheme, truy cập ngày 1/8/2021.  
27 Certified mediator.  
28 Singapore International Mediation Institute, About the SIMI Credentialing Scheme, sđd.  
44  
phiên hoà giải thành công và nhận đƣợc tín nhiệm từ các bên tranh chấp. Điều này đã  
đƣợc thể hiện ở khảo sát ở những ngƣời sử dụng dịch vụ hoà giải thƣơng mại tại trung  
tâm hoà giải Singapore, trong tổng số các bên tranh chấp đã tham gia hòa giải và có  
phản hồi, 83% cho rằng hòa giải tiết kiệm chi phí, 87% cho rằng hòa giải giúp họ tiết  
kiệm thời gian và 94% khẳng định sẽ giới thiệu cho những ngƣời khác sử dụng hòa  
giải khi có tranh chấp29.  
4. Đề xuất phƣơng hƣớng phát triển cho hoà giải thƣơng mại tại Việt Nam  
Đối với các hạn chế nhóm tác giả đã đề cập ở phần trên, một số hạn chế có thể  
khắc phục ngay bằng việc bổ sung một số quy định nhƣ ban hành các Quy tắc ứng xử  
của hoà giải viên thƣơng mại; Quy tắc hoà giải; sửa đổi quy định tại Điều 156 BLDS  
năm 2015 về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện bao gồm cả thời gian hoà  
giải. Bên cạnh đó, một vấn đề nhƣ phát triển hoà giải thƣơng mại trong bối cảnh toàn  
cầu hoá, quản lý chất lƣợng hoà giải viên và bảo mật trong hoà giải thƣơng mại cần có  
những thay đổi chi tiết cũng nhƣ cần nhiều thời gian thực hiện hơn, sẽ đƣợc nhóm tác  
giả kiến nghị ở phần dƣới đây.  
Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ tham gia Công ước Singapore về Hoà giải. Đây là  
Công ƣớc đã đƣợc ký kết bởi 46 quốc gia trong đó có rất nhiều nƣớc là đối tác thƣơng  
mại của phần đông doanh nghiệp Việt Nam. Về vấn đề pháp lý, Công ƣớc Singapore  
hỗ trợ cho kết quả hoà giải thành của các tranh chấp thƣơng mại quốc tế do hoà giải  
viên đƣa ra ở một quốc gia sẽ đƣợc công nhận và thi hành ở một quốc gia thành viên  
khác. Việt Nam đã tham gia với tƣ cách quan sát viên trong quá trình thảo luận, đàm  
phán và ký kết Công ƣớc Singapore và đƣợc nhiều chuyên gia nhận định hoàn toàn có  
khả năng tham gia. Do đó, nhóm tác giả nhận thấy rằng, việc đẩy nhanh tiến độ tham  
gia Công ƣớc Singapore sẽ mang lại nhiều thuận lợi khi quá trình toàn cầu hoá ngày  
càng diễn ra mạnh mẽ. Trƣớc hết, khi tham gia Công ƣớc, kết quả hoà giải thành do  
các hoà giải viên, trung tâm hoà giải của Việt Nam thực hiện sẽ đƣợc công nhận tại  
các quốc gia thành viên của Công ƣớc, từ đó tạo tiền đề để khắc phục những thiếu sót  
về công nhận hoà giải tại Việt Nam và nâng cao vị thế của hoà giải thƣơng mại trên  
thƣơng trƣờng quốc tế. Hơn nữa, Công ƣớc Singapore sẽ đƣợc triển khai trong khu  
29 Loong Seng Onn, An Overview of the Singapore Legal System – Chapter 3: Mediation, sđd.  
45  
vực ASEAN30 thì việc Việt Nam tham gia sẽ giúp tăng cƣờng giao lƣu thƣơng mại  
quốc tế của chúng ta trong khu vực.  
Mặt khác, cũng có một số quan điểm phản đối, cho rằng Việt Nam chƣa nên  
tham gia vì hiện hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là pháp luật về hòa giải thƣơng  
mại còn nhiều khoảng trống và có một số điểm khác biệt so với quy định Công ƣớc.  
Tuy nhiên, nhóm tác giả nhận thấy rằng việc phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp  
luật của Việt Nam về hoà giải thƣơng mại là điều tất yếu, song đây là Công ƣớc đƣợc  
thảo luận bởi nhiều quốc gia, nên việc tham gia Công ƣớc đồng thời giúp Việt Nam  
nhanh chóng thay đổi pháp luật để tiệm cận với pháp luật quốc tế.  
Thứ hai, sửa đổi bổ sung một số quy định pháp luật  
Một là, về quản lý chất lượng hòa giải viên. So sánh với tiêu chuẩn hòa giải viên  
của một số quốc gia khác trên thế giới, các quy định của Việt Nam về hòa giải viên lại  
không chú trọng vào việc quản lý chất lƣợng hòa giải viên, không có các quy định cụ  
thể để đánh giá khả năng và kinh nghiệm. Từ những kinh nghiệm về quản lý chất  
lƣợng hoà giải viên của Singapore đã đƣợc phân tích ở trên, nhóm tác giả đề xuất đẩy  
mạnh đẩy mạnh hoạt động đào tạo về hoà giải và cấp chứng chỉ; đồng thời, sớm thành  
lập cơ quan chuyên môn, ví dụ nhƣ Viện hoà giải quốc tế Việt Nam, nhằm chuẩn hóa  
các hoạt động đào tạo về hoà giải tại Việt Nam. Cơ quan này sẽ có nhiệm vụ, chức  
năng hợp tác với các tổ chức quốc tế về đào tạo hoà giải nhƣ Trung tâm giải quyết  
tranh chấp hiệu quả (CEDR) hay SIMI để xây dựng và đề ra bộ tiêu chuẩn đánh giá  
hoà giải viên theo từng cấp bậc, trình độ cụ thể, đồng thời cũng là đơn vị thực hiện  
đánh giá cũng nhƣ cấp giấy phép hành nghề cho hoà giải viên chuyên ngành. Bên cạnh  
đó, việc hợp tác với các tổ chức hoà giải uy tín giúp cung cấp một hạ tầng cơ sở chung  
và liên thông cho các hòa giải viên độc lập, hoà giải viên tại các trung tâm hoà giải của  
Việt Nam đào tạo, rèn luyện kỹ năng và giao lƣu chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn với  
các đồng nghiệp trong cùng hệ thống. Ngoài ra, cần đơn giản hoá các thủ tục hành  
chính đối với hoà giải viên, lƣợc bỏ bớt các quy định về đăng ký hoà giải viên mà thay  
vào đó là giao nhiệm vụ này cho các tổ chức chuyên ngành đánh giá và thực hiện.  
Hai là, quy định cụ thể về chế độ bảo mật trong hòa giải thương mại. Bảo mật  
đƣợc coi là một trong những ƣu điểm nổi bật của hòa giải thƣơng mại. Thông qua việc  
30 Đã có năm quốc gia đó là Brunei, Lào, Malaysia, Philippines và Singapore ký Công ƣớc.  
46  
tham khảo quy định của Hoa Kỳ, nhóm tác giả kiến nghị bổ sung, hoàn thiện một số  
quy định về chế độ bảo mật trong hòa giải thƣơng mại nhƣ sau:  
Làm rõ các chủ thể có quyền và nghĩa vụ bảo mật thông tin bao gồm toàn bộ các  
chủ thể tham gia vào hoạt động hòa giải thƣơng mại bao gồm: Các bên tranh chấp, hòa  
giải viên thƣơng mại, các chủ thể có liên quan khác tham gia vào vụ giải quyết tranh  
chấp bằng hòa giải. Việc quy định bao quát các đối tƣợng nhƣ vậy cũng giúp cho quá  
trình hòa giải thƣơng mại trực tuyến trong bối cảnh Covid hoạt động ổn định hơn; hệ  
thống pháp luật không cần bổ sung thêm quá nhiều quy định để phục vụ cho hòa giải  
thƣơng mại trực tuyến.  
Do quá trình hòa giải bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, nên vấn đề về phạm vi  
bảo mật cũng cần đƣợc quy định cụ thể trong từng giai đoạn, với từng đối tƣợng.  
Ngoài ra, phạm vi bảo mật này không chỉ gói gọn trong việc bảo mật tài liệu các bên  
cung cấp mà còn bao gồm cả tiến trình đàm phán giữa các bên hoặc giữa hòa giải viên  
với các bên... Đặc biệt, trong xu thế hòa giải thƣơng mại trực tuyến nhƣ hiện nay, khi  
các bên không thể trực tiếp tiếp xúc với nhau thì việc quy định cụ thể về phạm vi bảo  
mật càng cần đƣợc chú trọng.  
Bổ sung quy định về việc tiết lộ thông tin trong các trƣờng hợp ngoại: Thông tin  
này chủ yếu đƣợc cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền trong các trƣờng hợp liên  
quan đến vấn đề trật tự - an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Tuy nhiên, nhƣ đã đề cập,  
trong một tiến trình hòa giải thƣơng mại, lƣợng thông tin là vô cùng lớn và không phải  
mọi thông tin cũng đều cần cung cấp có phía cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu  
mà chỉ trong phạm vi của vụ việc/tình tiết cần nguồn thông tin. Hoặc trong trƣờng hợp  
việc tiết lộ thông tin đã đạt đƣợc sự đồng thuận từ các bên liên quan.  
5. Kết luận  
Nói tóm lại, quy định pháp luật về hoà giải thƣơng mại tại Việt Nam còn nhiều  
khoảng trống cũng nhƣ những điểm bất cập. Đây là một trong những nguyên nhân  
hàng đầu khiến hoà giải thƣơng mại tại Việt Nam còn kém phổ biến và chƣa phát huy  
đƣợc hết thế mạnh của mình trong bối cảnh toàn cầu hoá. Vì vậy, trong tƣơng lai, Việt  
Nam cần có những sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động này.  
47  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
hinh-hoa-giai-truoc-to-tung-hien-nay, truy cập ngày 20/8/2021.  
4078073.html, truy cập ngày 23/7/2021.  
3. Lê Hƣơng Giang (2018), Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về hoà giải  
thương mại ở Việt Nam, Khoa học pháp lý Việt Nam, (09/121).  
19/9/2021.  
5. Hoàng Minh Khôi (2016), Các nội dung về bảo mật trong hòa giải thương  
mại ngoài tòa án theo Luật mẫu UNCITRAL và Luật Hòa giải thống nhất của Hòa Kỳ,  
Nghiên cứu lập pháp, (13).  
6. Toà án Nhân dân Tối cao (2020), Báo cáo Tổng kết công tác năm 2020 và  
nhiệm kỳ 2016 – 2020; phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2021 của các  
Tòa án, https://www.toaan.gov.vn/, truy cập ngày 10/9/2021.  
giai-thuong-mai-thanh/, truy cập ngày 1/8/2021.  
8. Trung  
tâm  
Trọng  
tài  
Quốc  
tế  
Việt  
Nam  
(2020),  
nien-2020.pdf, truy cập ngày 20/8/2021.  
9. Quy tắc hòa giải 1980.  
10. Luật mẫu về Hòa giải thƣơng mại quốc tế 2002.  
11. Luật Hòa giải thống nhất Hoa Kỳ.  
12. Alternative Dispute Resolution at the Department of Justice,  
truy cập 20/7/2021.  
13. Loong Seng Onn, An Overview of the Singapore Legal System -Chapter 3:  
30/7/2021.  
48  
14. Singapore International Meditaion Insititute - SIMI Credentialing Scheme,  
cập ngày 1/8/2021.  
49  
pdf 13 trang Thùy Anh 13940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về hoà giải thương mại tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập – kinh nghiệm quốc tế và một số gợi mở cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_hoa_giai_thuong_mai_tai_viet_nam_trong_boi_canh.pdf