Bài giảng Pháp luật cạnh tranh - Bài 5: Các quy định liên quan đến cạnh tranh trong WTO - Trần Thăng Long

9/17/2018  
Nguyên tắc tự do hóa TM  
Đối xử tối huệ  
quốc - MFN  
CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN CẠNH  
Không phân biệt  
đối xử  
TRANH TRONG WTO  
Đối xử quốc gia  
(NT)  
Nguyên tắc của  
TS. Trần Thăng Long  
WTO  
Cắt giảm hàng  
rào thương mại  
Tự do hóa  
thương mại  
Minh bạch hóa  
chính sách  
Điều chỉnh vấn đề cạnh tranh trong WTO  
Những nguyên tắc của WTO liên hệ đến cạnh tranh  
•
Hiệp định WTO:  
• Các lĩnh vực cụ thể:  
• Minh bạch (transparency)  
• Không phân biệt đối xử (non-discrimination)  
• Quy trình thủ tục đúng luật (due process)  
–
GATS  
–
Hạn chế về định lượng, cartels xuất  
khẩu và cấm vận  
–
TRIPS  
–
Rào cản thâm nhập thị trường công và  
tư  
–
–
–
–
–
–
Doanh nghiệp thương mại nhà nước  
Độc quyền nhập khẩu  
Doanh nghiệp độc quyền dịch vụ  
Thâm nhập thị trường dịch vụ  
Trợ cấp  
Khiếu kiện không vi phạm  
Tóm tắt  
Điều chỉnh vấn đề cạnh tranh trong WTO  
Yêu cầu QG thành  
viên điều chỉnh các  
HCCT tư (private  
anticompetitive  
practices)  
•
•
•
Hiện không có một văn kiện thống nhất  
Nằm rải rác trong các hiệp định của WTO  
Có thể chia thành thành ba nhóm:  
Điều chỉnh sự bảo  
trợ từ phía chính phủ  
(hành vi HCCT  
công) đối với một số  
loại hành vi HCCT  
(cartels xuất khẩu,  
thỏa thuận giao  
dịch độc quyền…)  
tạo ra các ngoại  
lệ trong pháp luật  
cạnh tranh quốc gia  
và dẫn đến các biện  
pháp đối phó  
Công nhận quyền  
của các QG áp  
dụng các biện  
pháp chống lại các  
hành vi HCCT  
có thể làm giảm  
những lợi ích mà  
các quốc gia khác  
mong đợi từ cam  
kết WTO của quốc  
gia thực hiện  
•
Ấn định nghĩa vụ  
chung (general  
obligations)  
–
Các điều khoản đảm bảo cạnh tranh công bằng (các nguyên tắc chung)  
–
Các điều khoản bắt buộc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh  
(hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp)  
•
Nghĩa vụ nghiêm  
khắc (harder)  
–
Các điều khoản khuyến khích việc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh  
tranh.  
1
9/17/2018  
1. Sự phát triển của nghĩa vụ điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh  
Các quy định về cạnh tranh trong khuôn khổ WTO  
trong WTO  
• Hiến chương Havana và ITO  
• Tham vấn trong GATT  
• Tham vấn trong GATS  
• GATS: dịch vụ viễn thông  
• TRIPS: ngoại lệ về cạnh tranh  
• Các Hiệp định cụ thể của WTO  
Quy định liên quan cạnh tranh trong GATS  
Quy định liên quan cạnh tranh trong GATS  
•
Điều VIII của GATS (độc quyền và các nhà cung  
•
Điều IX(1) của GATS”  
“các thành viên thừa nhận rằng việc hành  
cấp dịch vụ độc quyền)  
- Đảm bảo không trái với các nghĩa vụ  
nghề kinh doanh nhất định của các nhà cung cấp  
dịch vụ, trừ những thông lệ được nêu tại Điều VIII,  
có thể hạn chế sự cạnh tranh và qua đó hạn chế  
thương mại dịch vụ.”  
theo Điều II (đối xử tối huệ quốc)  
- Không lạm dụng vị trí độc quyền  
- Thông báo thông tin và thông báo cho  
Hội đồng Thương mại Dịch vụ  
- Thành lập một số nhà cung cấp và hạn  
chế đáng kể sự cạnh tranh giữa họ  
Quy định liên quan cạnh tranh trong GATS  
Quy định liên quan cạnh tranh trong GATS  
•
•
Ngoại lệ:  
•
Điều XVII của GATS (Đối xử quốc gia)  
–
những hành vi hạn chế cạnh tranh của những doanh nghiệp độc quyền  
“3. Sự đối xử tương tự hoặc khác biệt về  
(monopolies), và  
hình thức được coi là kém thuận lợi hơn nếu nó  
làm thay đổi điều kiện cạnh tranh có lợi cho dịch  
vụ hay nhà cung cấp dịch vụ của Thành viên đó so  
với dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ tương tự  
của bất kỳ Thành viên nào khác.  
–
những nhà cung cấp dịch vụ độc quyền (exclusive service suppliers).  
Những hành vi này sẽ do Điều XVIII hoặc do bởi những người mua hoặc  
khách hàng sử dụng dịch vụ điều chỉnh.  
Điều IX(1) cũng không hạn chế một cách công khai đối với vấn  
đề thâm nhập thị trường.  
2
9/17/2018  
Quy định liên quan cạnh tranh trong GATS  
•
•
–
Sự hạn chế đối với cạnh tranh chỉ thuần túy áp dụng cho thị trường nội  
địa  
–
–
–
–
Không hòan toàn ngụ ý là sự hạn chế thương mại  
Không tạo ra các nghĩa vụ nghiêm khắc  
Đặt ra yêu cầu tham vấn  
Nghĩa vụ cung cấp thông tin: hạn chế ở những thông tin “sẵn có”, thành  
viên liên quan không buộc cung cấp thông tin khác  
Quy định về cạnh tranh trong  
lĩnh vực viễn thông  
Các quy định tại Điều XXII (tham vấn) không hỗ trợ cho các nhà  
cung cấp dịch vụ về khiếu nại liên quan đến hành vi hạn chế  
cạnh tranh  
2. Quy định về hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông  
2. Quy định về hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông  
•
•
•
Quy định WTO về tự do hóa viễn thông được quy định trong nhiều  
văn kiện pháp lý  
Phụ lục về viễn thông (Điều 5(a)) gián tiếp thông qua yêu cầu  
thực thi nguyên tắc không phân biệt đối xử  
• Hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực này  
tạo ra rào cản bất hợp pháp bao gồm:  
– Các doanh nghiệp viễn thông  
– Cơ quan quản lý ngành  
Tài liệu tham chiếu về viễn thông (RP)  
–
–
Là cam kết bổ sung trong Nghị định thư thứ tư của GATS năm 1998.  
Hai đề mục liên quan đến vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông là:  
•
bảo đảm tính cạnh tranh (competitive safeguards) và  
•
liên kết kết nối (interconnection).  
Các quy định về hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông  
Cơ sở pháp lý  
•
Mục 5(a) của Phụ lục về viễn thông của  
GATS (AT) yêu cầu các quốc gia thành  
•Các nhà cung cấp chính (major suppliers)  
•Hành vi hạn chế cạnh tranh  
viên  
“phải đảm bảo rằng bất kỳ nhà cung  
cấp dịch vụ nào của bất kỳ thành viên nào  
sẽ được tiếp cận và sử dụng dịch vụ và hệ  
thống thông tin viễn thông công cộng với  
những điều kiện và điều khoản hợp lý và  
không phân biệt đối xử để cung cấp một  
dịch vụ được nêu trong Danh mục cam kết  
của mình”.  
3
9/17/2018  
Nhà cung cấp chính (theo RP)  
Nhà cung cấp chính (tt)  
•
Lĩnh vực thiết yếu: tiện ích thuộc về mạng  
• Là nhà cung cấp có khả năng làm ảnh  
hưởng đáng kể đến các điều kiện tham  
gia thị trường viễn thông  
hoặc dịch vụ về viễn thông hoặc giao thông  
công cộng  
– Độc quyền hoặc ưu tiên cung cấp bởi  
một hoặc một số nhà cung cấp và  
– Không thể dễ dàng thay thế bởi một dịch  
vụ mới một cách có hiệu quả về kinh tế  
và kỹ thuật để cung cấp dịch vụ đó  
• Do kết quả của:  
– Việc kiểm soát các lĩnh vực thiết yếu,  
và  
– Việc sử dụng vị trí đó  
Nhà cung cấp chính (tt)  
Hành vi hạn chế cạnh tranh  
• Đoạn 1.1 RP: quy định nghĩa vụ ngăn chặn hành vi  
hạn chế cạnh tranh của nhà cung cấp  
“Những biện pháp thích hợp sẽ được duy trì nhằm  
ngăn chặn các nhà cung cấp, những người mà tự họ  
hoặc trên cơ sở kết hợp với những nhà cung cấp  
khác, là nhà cung cấp chủ yếu thực hiện hoặc tiếp  
tục thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh.”  
•
•
Hạn chế của RP trong việc xác định khả năng  
làm ảnh hưởng đáng kể đến các điều kiện tham  
gia thị trường  
Đọc vụ Mexico - Telecommunications  
Hành vi hạn chế cạnh tranh  
Hành vi hạn chế cạnh tranh  
•
Hiện tại chưa có định nghĩa rõ ràng về “các hành vi hạn chế cạnh  
tranh.” đoạn 1.2 RP 3 ví dụ về hành vi hạn chế cạnh tranh  
• Nghĩa vụ ngăn chặn có thể áp dụng thông qua  
luật về cạnh tranh hay viễn thông  
–
–
–
Thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh thông qua trợ cấp chéo (cross-  
subsidisation)  
Sử dụng những thông tin có được từ các đối thủ cạnh tranh nhằm gây ra  
hậu quả hạn chế cạnh tranh  
Không cung cấp cho các nhà cung cấp dịch vụ khác những thông tin kỹ  
thuật đúng thời gian về các lĩnh vực thiết yếu và những thông tin liên quan  
có tính thương mại cần thiết cho họ để cung cấp các dịch vụ đó.  
4
9/17/2018  
Vụ việc  
Kết nối  
• Đoạn 2.2 RP: đảm bảo cung cấp kết nối  
• Các yêu cầu của việc cung cấp  
– Trên cơ sở các điều kiện không có phân biệt đối xử  
– Kịp thời, chi phí là minh bạch, hợp lý, khả thi về kinh tế  
– Dựa trên yêu cầu  
Services (WT/DS204/R,2004)  
• Đoạn 3 RP: quyền xác định loại nghĩa vụ mang tính phổ  
cập nào thành viên muốn duy trì và các điều kiện  
không bị coi là HCCT  
• Đoạn 2.5: cơ chế giải quyết khiếu kiện  
Vấn đề  
• Chính sách cạnh tranh là công cụ nhằm cân bằng đối  
trọng với quyền SHTT  
• Việc sử dụng các đối tượng được bảo hộ có thể gây ra  
những tác động về mặt cạnh tranh tại một quốc gia cụ  
thể  
• Vấn đề lạm dụng các quyền được bảo hộ theo Hiệp định  
TRIPS dẫn đến hạn chế cạnh tranh là mối quan tâm của  
nhiều quốc gia  
Vấn đề Cạnh tranh  
trong Hiệp định TRIPS  
TRIPS và quyền SHTT  
Vấn đề  
Việc khai thác  
quyền SHTT có  
thể làm phát sinh  
các hành vi hạn  
chế cạnh tranh:  
• Mối tương quan giữa Luật SHTT và luật cạnh  
tranh?  
thông qua các  
thỏa thuận  
chứa đựng  
các điều  
khoản hạn chế  
cạnh tranh  
thông qua việc  
lạm dụng vị trí  
thống lĩnh thị  
trường liên  
quan đến  
quyền SHTT  
5
9/17/2018  
TRIPS và quyền SHTT  
•
Ngoại lệ đối với những quy tắc  
chung điều chỉnh hành vi hạn chế  
cạnh tranh: Hiệp định TRIPS  
HIỆP ĐỊNH TRIPS VÀ CHẾ ĐỊNH VỀ  
HẠN CHẾ CẠNH TRANH:  
Quyền của thành viên WTO  
Hiệp định TRIPs yêu cầu quốc gia thành  
viên cung cấp mức độ đảm bảo tối  
thiểu đối với các quyền sở hữu trí tuệ.  
Quyền của  
thành viên  
WTO  
Các QG có một mức độ tự do nhất  
định nhằm quyết định mức độ bảo hộ  
quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao  
công nghệ  
Nghĩa vụ của  
thành viên  
WTO  
Thông qua vai trò của luật cạnh tranh  
trong việc điều chỉnh việc sử dụng quyền  
sở hữu trí tuệ.  
Điều 8: QG thành viên có quyền áp dụng các biện pháp phù hợp  
để ngăn chặn hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, gây  
cản trở thương mại hay ảnh hưởng xấu đến chuyển giao công  
nghệ của người nắm giữ quyền đó.  
Điều 31: QG thành viên áp dụng bắt buộc chuyển giao quyền  
sử dụng đối với quyền sở hữu trí tuệ nhằm khắc phục hành vi  
hạn chế cạnh tranh.  
Điều 40: QG thành viên áp dụng biện pháp ngăn chặn thỏa  
thuận hạn chế cạnh tranh trong chuyển giao công nghệ.  
Quy định về cạnh tranh trong Hiệp  
định TRIPs .  
6
9/17/2018  
•
•
Điều 8(2) TRIPs quy định nguyên tắc chung điều chỉnh các hành  
vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT.  
Cho phép các thành viên của WTO ban hành trong pháp luật  
của thành viên đó các biện pháp phù hợp - miễn là không trái  
với các quy định của Hiệp định TRIPs - để ngăn ngừa, kiểm  
soát:  
Điều 40 của Hiệp định TRIPs: các thỏa  
thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng  
chuyển giao công nghệ có thể ảnh hưởng xấu  
đến thương mại và cản trở việc chuyển giao,  
phổ biến công nghệ.  
(i) Lạm dụng quyền SHTT bởi người nắm quyền, hoặc  
Cho phép các thành viên của WTO quy  
định trong pháp luật của mình các  
hành vi hạn chế cạnh tranh trong  
hợp đồng chuyển giao công nghệ  
cũng như các biện pháp nhằm ngăn  
chặn, kiểm soát các hành vi đó.  
(ii) hành vi gây cản trở hoạt động thương mại một cách bất hợp lý hoặc  
gây ảnh hưởng xấu đến việc chuyển giao công nghệ quốc tế.  
Điều 8(2) và Điều 40(2) Hiệp định TRIPs đặt ra các yêu  
Điều 40(2) liệt kê một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh  
trong một hợp đồng chuyển giao công nghệ :  
cầu đối với các thành viên trong việc ban hành và thực thi  
các biện pháp kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên  
quan đến quyền SHTT:  
(i) điều khoản chuyển giao độc quyền quyền sử dụng các cải tiến  
trong quá trình sử dụng công nghệ từ bên nhận công nghệ cho bên  
giao công nghệ (grant-back);  
(a) yêu cầu về tính nhất quán  
(consistency) với Hiệp định TRIPs  
(ii) điều khoản ngăn chặn bên nhận công nghệ khiếu nại về giá trị  
pháp lý của công nghệ được chuyển giao (no-challenge);  
(b) yêu cầu về tính hợp lý  
(appropriateness).  
(iii) điều khoản chuyển giao công nghệ cả gói bắt buộc (coercive  
package licensing).  
Tính nhất quán với Hiệp định TRIPs  
Tính hợp lý  
Các biện pháp áp dụng nhằm kiểm soát  
các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan  
đến quyền SHTT phải hợp lý và cần  
thiết.  
1- Các quy định pháp lý liên quan trong lĩnh vực  
này của mỗi thành viên và việc thực thi chúng  
trên thực tế phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản  
của Hiệp định TRIPs,  
khi áp dụng các biện pháp cụ thể, các  
cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh  
của mỗi thành viên WTO phải xem xét  
cẩn trọng:  
2- Chúng không thể vi phạm các tiêu chuẩn tối  
thiểu về bảo vệ quyền SHTT mà Hiệp định  
TRIPs đã thiết lập.  
•
quyền SHTT của người nắm quyền bị xem là  
có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh  
tranh,  
•
•
các ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại liên  
quan quyền SHTT,  
các ảnh hưởng đối với việc chuyển giao và  
phổ biến công nghệ.  
7
9/17/2018  
• Các thành viên WTO liên quan có nghĩa vụ hợp tác và  
tham vấn khi có yêu cầu của thành viên khác theo quy  
định tại khoản 3 và 4 Điều 40 trong trường hợp một  
thành viên WTO áp dụng pháp luật cạnh tranh của  
mình liên quan đến người nắm quyền SHTT là công  
dân hay pháp nhân của thành viên khác.  
• Hiệp định TRIPS cũng quy định các nghĩa vụ  
đối xử quốc gia và tối huệ quốc (Điều 3 và 4)  
áp dụng trong trường hợp:  
– luật cạnh tranh quốc gia được áp dụng đối với  
hoạt động licence, hoặc  
– Lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ (Điều 3(1)).  
4. Nghĩa vụ không khuyến khích và tạo ra những hành vi hạn chế cạnh tranh trong  
khuôn khổ các hiệp định của WTO  
Hạn chế về định lượng, cartels xuất khẩu và cấm vận  
•
•
•
•
•
•
•
•
Hạn chế về định lượng, cartels xuất khẩu và cấm vận  
Rào cản thâm nhập thị trường công và tư  
Doanh nghiệp thương mại nhà nước  
Độc quyền nhập khẩu  
Doanh nghiệp độc quyền dịch vụ  
Thâm nhập thị trường dịch vụ  
Trợ cấp  
Điều XI(1) GATT cấm các thành viên, hành  
động cá nhân hoặc đơn lẻ, nhằm hạn chế  
xuất, nhập khẩu, cụ thể:  
Tìm kiếm, thực  
Những biện  
hiện hoặc duy trì Thỏa thuận phân pháp tương tự  
bất kỳ sự hạn  
chế xuất khẩu  
tự nguyện nào,  
chia thị trường,  
hoặc  
đối với việc xuất  
khẩu và nhập  
khẩu.  
Khiếu kiện không vi phạm  
Hạn chế về định lượng, cartels xuất khẩu và cấm vận  
Hạn chế về định lượng, cartels xuất khẩu và cấm vận  
•
Những biện pháp tương tự:  
• Điều hòa xuất khẩu (export moderation);  
• Hệ thống giám sát giá xuất khẩu (export price/import price  
monitoring system);  
•
•
Vụ Japan – Trade in Semi-conductors Cartel  
Vụ Japan – Photographic Film biện pháp có sự tham  
gia của chính phủ  
• Giám sát xuất, nhập khẩu (export or import surveillance);  
• cartels nhập khẩu bắt buộc (compulsory import cartels);  
• hệ thống cấp phép xuất nhập khẩu tùy tiện (discretionary  
export or import licensing schemes).  
8
9/17/2018  
Tạo ra sự phân biệt giữa rào cản thâm nhập thị trường công và tư  
•
Điều 11(3) Hiệp định về các biện pháp tự vệ yêu cầu các thành  
Hình thức tồn tại của mối quan hệ giữa  
chính phủ và doanh nghiệp yếu tố  
phân biệt đối xử gián tiếp tạo ra rào  
cản thâm nhập thị trường  
viên  
–
“không được khuyến khích hay ủng hộ việc thông qua hay duy trì các  
biện pháp phi chính phủ do các doanh nghiệp công cộng hay tư nhân  
đưa ra tương tự với những biện pháp nêu tại khoản 1”.  
•
Ví dụ về các hiệp hội thương mại  
•
•
“khuyến khích” (encourage) bao hàm việc dỡ bỏ những rào  
cản pháp lý cho việc thực hiện hoặc cho phép riêng biệt đối với  
một hành vi hoặc một loại hành vi nào đó  
Cartels xuất khẩu do nhà nước bảo trợ (government-supported  
export cartels) có thể bị kiện tại WTO  
Chính sách có tính chất phân biệt  
đối xử khác do nhà nước thực  
hiện trong mối quan hệ với doanh  
nghiệp vi phạm những nguyên  
tắc cơ bản của WTO.  
• Bao gồm: khuyến khích, thúc đẩy, hoặc  
cung cấp hỗ trợ tài chính cho các doanh  
nghiệp để thực hiện những hành vi hạn chế  
cạnh tranh có thể bị kiện  
Doanh nghiệp thương mại nhà nước  
DN Thương mại NN có thể trở thành DN độc quyền bằng quyết định hành chính  
Điều XVII(1) GATT cấm các thành viên thông qua các DN TMNN hoặc những  
doanh nghiệp khác mà được hưởng những đặc quyền hay ưu đãi để thực hiện  
những hành vi được coi là phân biệt đối xử nếu những hành vi đó trực tiếp do  
thành viên đó thực hiện.  
Doanh nghiệp thương mại  
nhà nước  
Điều XVII (1)(b) GATT đòi hỏi “khi tiến hành mua bán như vậy chỉ xem xét quyết  
định chỉ căn cứ vào các tiêu chí thương mại”  
DN NNTM không bị buộc phải từ bỏ việc áp dụng bất kỳ đặc quyền và lợi thế   
chỉ bị cấm nếu không dựa trên cơ sở tiêu chí thương mại  
Doanh nghiệp thương mại nhà nước  
Cơ sở pháp lý về DNTMNN  
•
Vụ Canada – Measures Relating to Exports of Wheat and  
Treatment of Imported Grain  
Điều XVII GATT: 1 (a)  
Đưa ra nghĩa vụ cho các bên phải thực hiện khi thành lập các  
doanh nghiệp thương mại nhà nước hoặc khi phân bổ hoặc  
dành cho một doanh nghiệp độc quyền hay đặc quyền thương  
mại phải tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử khi tiến  
hành mua bán thông qua xuất khẩu hay nhập khẩu tại các  
Doanh nghiệp thương mại nhà nước này  
9
9/17/2018  
Cơ sở pháp lý về DNTMNN  
Điều XVII GATT: 1 (b)  
Doanh nghiệp thương mại nhà nước nhìn nhận đúng mức các quy định  
khác của Hiệp định GATT và khi tiến hành mua bán như vậy chỉ xem  
xét quyết định chỉ căn cứ vào các tiêu chí thương mại như giá cả, chất  
lượng, khả năng sẵn có, khả năng cung cấp, vận tải và các điều kiện  
mua bán khác, cũng như được hiểu là phải dành cho các doanh  
nghiệp của các bên ký kết khác khả năng thích hợp tham gia vào hoạt  
động mua bán này trong các điều kiện tự do cạnh tranh và phù hợp với  
tập quán thương mại thông thường  
Vụ Canada- Các biện pháp liên quan tới xuất khẩu lúa  
mỳ và các đối xử đối với hạt nhập khẩu (DS 276 )  
Nguyên đơn: Hoa Kì  
Bị đơn: Canada  
Theo Hoa Kỳ, các hành động của Chính phủ Canada và Hội lúa mì của Canada  
liên quan đến xuất khẩu lúa mì xuất hiện không phù hợp với khoản 1 (a) và 1 (b)  
của Điều XVII của GATT 1994.  
Nội dung khởi kiện:  
Liên quan đến việc quản lý hạt nhập khẩu vào Canada, Hoa Kỳ cho rằng các biện  
pháp của Canada sau đây là không phù hợp với Điều III của GATT 1994 và Điều  
2 của TRIMs kể từ khi Canada phân biệt đối xử đối với hạt nhập khẩu:  
Hoa Kì và Canada đều là những nước sản xuất, mua bán và tiêu thụ lớn ngũ cốc, bao gồm  
lúa mì. Mặc dù Hoa kì nhập khẩu lúa mì tương đối ít so với ngành cung cấp nội địa, một  
lượng lớn lúa mì hạt cứng (durum wheat) và lúa mì mùa xuân (spring wheat) nhập khẩu từ  
Canada kể từ đầu những năm 1990 đã trở thành vấn đề của nhà sản xuất lúa mỳ ở Bắc  
Mỹ.  
•
Theo Luật ngũ cốc Canada và các quy định của Canada, lúa mì nhập khẩu không thể được trộn  
lẫn với các hạt nội địa của Canada.  
•
Luật Giao thông Canada quy định doanh thu tối đa mà ngành đường sắt có thể nhận được trên  
các lô hàng của hạt trong nước nhưng không nhận được trên các lô hàng của hạt nhập khẩu; và  
Canada đã dành sự ưu đãi cho hạt trong nước hơn hạt nhập khẩu khi phân bổ các toa xe thuộc  
sở hữu của chính phủ.  
Ngày 17 tháng 12 năm 2002, Hoa Kỳ yêu cầu tham vấn với Canada các vấn đề liên quan  
đến việc xuất khẩu lúa mì do Hội lúa mì của Canada (the Canadian Wheat Board, gọi tắt là  
CWB) và sự phân biệt đối xử theo các quy định của Canada đối với hạt nhập khẩu vào  
Canada.  
Cáo buộc của Hoa Kỳ  
1. Điều kiện liên quan đến việc nhận ngũ cốc nước ngoài (foreign grain) vào kho của  
Canada theo Mục 57(c) của Canadian Grain Act.  
Hoa Kỳ cho rằng:  
Chính phủ Canada đã thành lập CWB và dành cho doanh nghiệp  
này những ưu đãi đặc biệt.  
Các quy định của Chính phủ Canada đối với SWB không phù hợp  
với các nghĩa vụ của Chính phủ Canada theo Điều XVII của GATT  
1994.  
•
2. Quy tắc liên quan đến việc trộn một số loại ngũ cốc trong kho trung chuyển của  
Canada (quy tắc dùng để loại một số lúa mì có loại và hạng nhất định của Mỹ khỏi  
việc nhập khẩu) theo Mục 56.1 của Canadian Grain Regulations;  
•
3. Áp đặt doanh thu đối với một số các khoang (tàu lửa) khi chuyên chở hạt ngũ cốc  
trong nước, không áp dụng đối với hạt xuất khẩu theo Mục 150 (1) và 150 (2) của  
Canadian Transportation Act.  
•
Chính phủ Canada đã vi phạm cam kết đối với việc đảm bảo CWB  
4. Mục 87 của Canadian Grain Act cho phép nhà sản xuất ngũ cốc nội địa được sử  
dụng một railway car cho việc mang ngũ cốc đến kho cho người nhận, trong khi  
hạn chế mức độ được tiếp cận các phương tiện như vậy đối với nhà sản xuất ngũ  
cốc nước ngoài  
thực hiện hoạt động mua bán phù hợp với quy định tại Điều XVII (1) a  
và b của GATT.  
10  
9/17/2018  
GATT  
Điều III.1: Đối xử quốc gia về thuế và quy tắc trong nước  
Cơ sở pháp lý viện dẫn:  
1 .Các bên ký kết thừa nhận rằng các khoản thuế và khoản thu nội  
địa, cũng như luật, hay quy tắc hay yêu cầu tác động tới việc bán  
hàng, chào bán, vận tải, phân phối hay sử dụng sản phẩm trong nội  
địa cùng các quy tắc định lượng trong nước yêu cầu có pha trộn,  
chế biến hay sử dụng sản phẩm với một khối lượng tỷ trọng xác  
định, không được áp dụng với các sản phẩm nội địa hoặc nhập  
khẩu với kết cục là bảo hộ hàng nội địa.  
•
•
GATT 1994 Điều III, III:4, XVII, XVII:1 của GATT 1994.  
Điều II của TRIMs  
GATT  
TRIMs  
“Điều III.4 Đối xử quốc gia về thuế và quy tắc trong nước  
Điều 2. Đối xử quốc gia và những hạn chế về số lượng  
4.Sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết nào vào lãnh thổ  
của bất cứ một bên ký kết khác sẽ được hưởng đãi ngộ không kém phần thuận lợi  
hơn sự đãi ngộ dành cho sản phẩm tương tự có xuất xứ nội về mặt luật pháp, quy  
tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở, phân  
phối hoặc sử dụng hàng trên thị trường nội địa. Các quy định của khoản này sẽ  
không ngăn cản việc áp dụng các khoản thu phí vận tải khác biệt chỉ hoàn toàn  
dựa vào yếu tố kinh tế trong khai thác kinh doanh các phương tiện vận tải và  
không dưạ vào quốc tịch của hàng hoá”  
1.Không làm phương hại đến quyền lợi và nghĩa vụ qui định tại GATT 1994,  
không một Thành viên nào được phép áp dụng TRIMs trái với các qui định tại  
Điều III hoặc Điều XI của GATT 1994.  
2.Một danh mục minh họa TRIMs không phù hợp với các nghĩa vụ về đối xử  
quốc gia qui định tại Khoản 4, Điều III của GATT 1994 và nghĩa vụ loại bỏ  
chung các biện pháp hạn chế về số lượng qui định tại khoản 1 Điều XI của  
GATT 1994 được nêu tại Phụ lục của Hiệp định này.  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (a)  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (a)  
Canada lập luận:  
Hoa Kỳ cho rằng:  
Chính phủ Canada đã thành lập Hội lúa mì của Canada (CWB),và đã cấp cho  
doanh nghiệp này sự ưu đãi và độc quyền.  
CWB được thành lập trong phạm vi của Điều XVII của GATT  
1994 như là một DN TMNN. "Mục tiêu của CWB là bán tất cả hạt  
sản xuất ở miền Tây Canada trong thị trường nội địa và xuất  
khẩu.”  
Những ưu đãi đặc biệt và độc quyền này bao gồm:  
Quyền độc quyền để mua lúa mì Tây Canada cho xuất khẩu và tiêu thụ nội  
địa của con người tại một mức giá xác định bởi Chính phủ Canada và CWB;  
Canada đã vận dụng các qui định tại Điều XVII (1) (a) để thiết  
lập một DNTMNN và trao cho doanh nghiệp đó những đặc quyền  
thương mại nhất định.  
Độc quyền bán lúa mì cho xuất khẩu và tiêu thụ nội địa ở Canada;  
Bảo lãnh chính phủ hoạt động tài chính của CWB  
11  
9/17/2018  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (a)  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (a)  
Về các nghĩa vụ đối với quốc gia thành viên thành lập hoặc duy trì một DN TMNN:  
Ban hội thẩm  
Hoa Kỳ cho rằng việc “cam kết” (undertake) theo quy định của Điều XVII  
XVII (1)(a) áp đặt nghĩa vụ đối với quốc gia thành viên  
GATT đã áp đặt một nghĩa vụ đối với quốc gia thành viên thành lập hoặc duy  
trì một DNTMNN. Nghĩa vụ đối với thành viên là các nghĩa vụ để đảm bảo  
rằng các DN TMNN trong mua hoặc bán của nó phù hợp với các tiêu chuẩn  
cụ thể và phải đảm bảo rằng các DN TMNN không làm ảnh hưởng đến các  
hoạt động thương mại quốc tế.  
thành lập hoặc duy trì DN TMNN.  
Hoa Kỳ đã không chứng minh được sự vi phạm nghĩa vụ  
của Canada đối với việc đảm bảo các hoạt động mua bán của  
CWB theo GATT.  
Canada tranh luận rằng Điều XVII GATT không bắt buộc những biện pháp  
mà các quốc gia thành viên thành lập hoặc duy trì DN TMNN phải tuân thủ.  
Do đó, Ban hội thẩm đã bác bỏ nội dung khởi kiện này của  
Hoa Kỳ.  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (a)  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (a)  
b/ Các nguyên tắc chung về không phân biệt đối xử theo Điều XVII:1(a)  
Hoa Kỳ cho rằng:  
b/ Các nguyên tắc chung về không phân biệt đối xử theo Điều XVII:1(a)  
Canada cho rằng:  
Cụm từ này là sự mở rộng của nguyên tắc tối huệ quốc thể hiện tại Điều I:1 của  
GATT 1994, Theo đó, các hành vi thực hiện bởi bởi một DN TMNN xuất khẩu vi  
phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử là:  
Không đồng ý với lập luận của Hoa Kỳ rằng các nguyên tắc chung của đối  
xử không phân biệt đối xử theo quy định của GATT 1994 sẽ yêu cầu các DN  
TMNN xuất khẩu không phân biệt đối xử trong doanh số bán hàng của họ  
giữa thị trường trong nước và nước thứ ba.  
(i) Phân biệt đối xử trong các điều khoản bán hàng giữa các thị trường xuất  
khẩu khác nhau; và  
Cho rằng Điều XI không phải là bối cảnh thích hợp cho việc giải thích của  
(ii) Phân biệt đối xử trong các điều khoản bán hàng giữa các thị trường xuất  
khẩu và thị trường trong nước. Hoa Kỳ cho rằng các quốc gia thành viên không  
thể loại bỏ nghĩa vụ này thông qua hoạt động của một DN TMNN  
Điều XVII, đặc biệt đối với các DN TMNN.  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (b)  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (a)  
Ban hội thẩm:  
“Tiêu chí thương mại” là gì?  
Đồng tình rằng “các nguyên tắc chung về không phân biệt đối xử  
đã nêu trong Hiệp định này đối với các biện pháp của chính phủ  
tác động đến nhập khẩu hoặc xuất khẩu của các doanh nghiệp tư  
nhân” "bao gồm các nguyên tắc chung về quy chế đổi xử tối huệ  
quốc, được ghi trong Điều I: 1 của GATT 1994.  
Yêu cầu “dành cho các doanh nghiệp của các  
nước thành viên khác khả năng thích hợp tham  
gia vào hoạt động mua bán”  
12  
9/17/2018  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (b)  
Đối với quy định tại Điều XVII (1) (b)  
Yêu cầu “dành cho các doanh nghiệp của các nước thành viên khác  
khả năng thích hợp tham gia vào hoạt động mua bán”  
•
•
•
Theo quan điểm của Canada, các “tiêu chí thương mại"sẽ là "tiêu chí  
phù hợp với thực tiễn kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tư nhân  
được tổ chức tại hoàn cảnh tương tự ".  
Ban hội thẩm cho rằng các doanh nghiệp khác trong  
quy định này phải là các doanh nghiệp có cùng hoạt  
động xuất khẩu hoặc nhập khẩu như DN TMNN trong  
cùng một thị trường.  
Canada cho rằng cách giải thích này là phù hợp với bối cảnh của điểm  
(b), bao gồm cả các yếu tố được đề cập như giá cả, chất lượng, tính sẵn  
có, vv).  
Ban hội thẩm đồng ý với Canada về quan điểm này và lưu ý rằng các  
yếu tố này cần được xem xét trên tổng thể. Nếu chỉ xem xét tiêu chí về  
giá, một DN TMNN sẽ bán cho người mua với giá thấp nhất và có thể  
gây hạn chế cạnh tranh.  
Nhận xét  
Kết luận của Ban Hội thẩm  
Các DN TMNN phải dành cho các doanh nghiệp khác khả năng thâm nhập thị trường trong  
điều kiện tự do cạnh tranh và trở thành đối tác của mình chứ không phải bắt buộc các DN  
TMNN phải dành cho các doanh nghiệp khác cơ hội thay thế mình.  
•
•
Ngày 6 năm 2004, báo cáo Ban Hội thẩm được tới các thành viên. Ban Hội thẩm cho  
rằng:  
Hoa Kỳ đã thất bại trong việc thiết lập các yêu sách của mình rằng Canada đã vi phạm  
các nghĩa vụ của mình theo Điều XVII: 1 của GATT 1994 đối với Hội đồng lúa mì của  
Canada (CWB) với;  
Quy định tại Điều XVII của GATT cho phép việc thành lập một DN TMNN trong khuôn khổ  
của GATT và quốc gia thành viên được quyền dành sự ưu đãi hoặc đặc quyền thương mại  
nhất định. Tuy nhiên, những đặc quyền này không được tạo ra sự phân biệt đối xử với các  
doanh nghiệp tư nhân khác. Các doanh nghiệp thương mại nhà nước không bị buộc phải từ  
bỏ việc áp dụng bất kỳ những đặc quyền và lợi thế mà họ được hưởng chỉ vì lý do việc sử  
dụng chúng có thể gây bất lợi cho những doanh nghiệp tư nhân.  
•
Mục 57 (c) của Đạo luật Canada Grain, và Mục 56 (1) của Quy chế hạt Canada không  
phù hợp với Điều III: 4 của GATT 1994 và đã không được chứng minh theo Điều XX (d)  
của GATT 1994;  
Phần 150 (1) và (2) của Luật Giao thông Canada không phù hợp với Điều III: 4 của GATT  
1994;  
•
•
Ngoài ra, các DN TMNN phải tiến hành việc mua bán trên cơ sở các tiêu chí thương mại. Nếu  
không thực hiện theo quy định này, các hành vi thương mại của DN TMNN vi phạm quy  
định của GATT và tạo ra sự hạn chế cạnh tranh.  
Hoa Kỳ đã thất bại trong việc thiết lập các yêu sách của mình rằng phần 87 của Luật  
Grain Canada là vi phạm Điều III: 4 của GATT 1994 và Điều 2 của Hiệp định TRIMs  
Doanh nghiệp độc quyền nhập khẩu  
•
•
DN độc quyền có thể là DN nhà nước hoặc DN tư nhân  
không chỉ các DN Nhà nước… mà còn tất cả các DN  
được hưởng "sự độc quyền hay đặc biệt”  
Độc quyền nhập khẩu  
13  
9/17/2018  
Độc quyền nhập khẩu  
Độc quyền nhập khẩu  
•
Điều II(4) GATT:  
• Điều II(4) GATT: Khi một DN độc quyền được thành lập  
–
“Nếu một bên ký kết nào định ra hay duy trì hay cho phép, chính thức hay áp  
dụng trong thực tế một sự độc quyền trong nhập khẩu bất cứ một sản phẩm  
nào đã ghi trong Biểu nhân nhượng là phụ lục của Hiệp định này hay đã  
được các bên tham gia đàm phán ban đầu thỏa thuận ở văn bản khác, sự  
độc quyền đó sẽ không được vận dụng tạo thành sự bảo hộ có mức trung  
bình cao hơn mức đã quy định tại Biểu nhân nhượng đó”.  
“không được vận dụng” sự độc quyền để tạo thành sự  
bảo hộ”  
– ngăn cản DN này thực hiện một số các hành vi hạn chế kinh  
doanh làm ảnh hưởng tới quan hệ giữa sản phẩm trong nước và  
sản phẩm nhập khẩu hạn chế việc nhập khẩu  
Đoạn 78 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt  
Nam gia nhập WTO  
Yêu cầu  
•
•
DN độc quyền khi thành lập, không được vận dụng bất kì một sự  
bảo hộ nào để DN này thực hiện một số các hành vi hạn chế kinh  
doanh làm ảnh hưởng tới quan hệ giữa sản phẩm trong nước và  
sản phẩm nhập khẩu  
•
VN sẽ đảm bảo tất cả các DN thuộc sở hữu nhà nước … hoạt động TMQT chỉ  
dựa trên các tiêu chí thương mại, tức là các tiêu chí về giá cả, chất lượng, khả  
năng bán ra thị trường, khả năng cung cấp, …Chính phủ VN sẽ không tác động,  
dù trực tiếp hay gián tiếp, tới các quyết định TM của các DN thuộc sở hữu nhà  
nước,… gồm các quyết định về số lượng, giá trị hay nước xuất xứ của bất kỳ  
hàng hóa nào được mua hay bán, trừ trường hợp can thiệp theo cách thức phù  
hợp với các quy định của Hiệp định WTO và các quyền tương tự như quyền  
dành cho các chủ DN hay cổ đông khác không phải là CP  
Không được bảo hộ trên mức cao hơn quy định Biểu nhân nhượng  
Doanh nghiệp độc quyền trong lĩnh vực dịch vụ theo Hiệp định GATS  
Doanh nghiệp độc quyền trong lĩnh vực dịch vụ  
•
•
•
Điều VIII(1)  
Điều VIII(2)  
•
Điều XXVIII(h): doanh nghiệp cung cấp dịch vụ độc  
quyền (monopoly supplier of service):  
– Thuộc khu vực công hay tư nhân,  
– Được một Thành viên cho phép, hay được thành lập  
một cách chính thức hay trên thực tế  
– Là nhà cung cấp dịch vụ duy nhất dịch vụ đó,  
– Trong phạm vi thị trường tương ứng của lãnh thổ  
thành viên này  
14  
9/17/2018  
•
Điều VIII(2) của GATS:  
– “Nếu một nhà cung cấp dịch vụ độc quyền cạnh tranh, trực  
tiếp hoặc thông qua các công ty trực thuộc trong việc cung  
cấp dich vụ ngoài phạm vi độc quyền của mình và thuộc các  
cam kết cụ thể của thành viên đó, thì thành viên đó sẽ đảm  
bảo rằng nhà cung cấp dịch vụ sẽ không lạm dụng vị trí độc  
quyền của họ để tiến hành hoạt động trái với các cam kết trên  
lãnh thổ của thành viên đó  
•
Điều VIII(1) GATS yêu cầu các thành viên đảm bảo rằng tất cả  
những nhà cung cấp độc quyền dịch vụ nào trên lãnh thổ của  
mình:  
– không hành động trái với các nghĩa vụ của thành viên đó theo  
quy định tại Điều II và các cam kết cụ thể, khi cung cấp dịch vụ  
độc quyền trên thị trường liên quan.  
– Nghĩa vụ dành đối xử tối huệ quốc cho tất cả những nhà cung  
cấp dịch vụ nước ngoài và những cam kết đặc biệt về tự do  
hóa.  
•
Vụ Korea — Measures Affecting Imports of Fresh, Chilled  
and Frozen Beef (DS161)  
•
•
Panel được thành lập ngày 22/9/1988,  
Nguyên đơn là New Zealand, bị đơn là Hàn Quốc.  
LPMO có nhiệm vụ:  
•
Bình ổn giá sản phẩm chăn nuôi thông qua điều chỉnh giữa lượng cung và  
cầu, hỗ trợ qua đó, và cùng lúc, cả người chăn nuôi và người tiêu dùng; và  
•
Ngày 01/07/1987, Luật Thương mại nước ngoài thành lập Tổ  
chức/Hiệp hội Thị trường sản phẩm chăn nuôi (Livestock  
Products Marketing Organization – LPMO) quản lý trên cơ sở  
độc quyền nhập khẩu thịt bò trong khuôn khổ hạn chế định  
lượng theo quy định của CP Hàn Quốc  
•
•
Góp phần cải thiện cán cân thanh toán.  
Bên cạnh đó, Bộ Nông Lâm nghiệp và Thủy sản (MAFF) đặt ra một hạn mức  
nhập khẩu tối đa trên cơ sở của nhiều tiêu chí như ước tính sản lượng thịt bò  
trong nước và ước tính tiêu thụ trong nước.  
Năm 1988, các LPMO nhập khẩu thịt bò thông qua một hệ thống đấu thầu mở  
và bán lại phần lớn thịt bò nhập khẩu này vào thị trường trong nước.  
•
15  
9/17/2018  
New Zealand bác bỏ lập luận của Korea  
Panel: dựa trên Hiến chương Havana  
•
•
Điều 31.5 nói rằng độc quyền nhập khẩu là "nhập khẩu và bán số  
lượng sản phẩm nhập khẩu đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước...  
Điều 31.5 ngụ ý rõ ràng rằng Điều 31.4 của Hiến chương Havana  
và Điều II.4 của Hiệp định chung nói đến hoạt động độc quyền  
nhập khẩu hoạt động trong thị trường không phải chịu hạn chế  
định lượng.  
•
•
•
…
Điều 11 về hạn chế định lượng  
các biện pháp khác là vi phạm mức trần cam kết 20% theo Điều  
2.4 (dán nhãn, phí dự thầu, thu phụ phí trên giá CIF để đảm bảo  
cân bằng giá của sp nhập khẩu)  
•
….  
Thâm nhập thị trường dịch vụ  
Panel: dựa trên Hiến chương Havana  
•
•
Các nghĩa vụ của GATS chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực mà một thành viên đã đàm  
phán mở cửa thị trường với những cam kết cụ thể  
Theo Điều XX GATS, mỗi Danh mục cam kết, trong những lĩnh vực cụ thể phải quy định:  
•
Đoạn 121: hạn chế định lượng và kèm với biện pháp đấu giá bán  
đã gây tác bất hợp lý:  
(HQ) muốn điều chỉnh giá các sản phẩm nhập khẩu nên áp dụng  
cơ chế đấu giá tập trung  
do hạn chế định lượng nên giá bỏ thầu phải cao, sự chênh lệch  
giữa giá quyết định (giá cơ sở) và giá bỏ thầu được bỏ vào quỹ  
phát triển chăn nuôi  
–
–
–
–
–
điều khoản, giới hạn và điều kiện tiếp cận thị trường;  
điều kiện và tiêu chuẩn về đối xử quốc gia;  
việc thực hiện những cam kết bổ sung;  
lộ trình thực hiện các cam kết đó, nếu có thể;  
thời hạn các cam kết đó có hiệu lực  
•
•
•
•
Điều XVI GATTS: buộc các quốc gia đã cam kết mở cửa thị trường thông báo cho WTO  
về những chính sách cạnh tranh có liên quan đến vấn đề này  
Nếu hành vi hạn chế cạnh tranh được thực hiện bởi một doanh nghiệp độc quyền dịch  
vụ, thành viên này có thể được coi là vi phạm Điều VIII của GATS.  
•
panel: nếu bỏ việc hạn chế định lượng thì giá không cao  
Những khiếu nại không vi phạm  
Hiệp định về trợ cấp  
•
Những biện pháp được coi là trợ cấp nhìn chung sẽ không bao gồm hoạt động  
điều tiết của nhà nước  
Những miễn trừ theo luật cạnh tranh nếu chúng đem lại những lợi ích tương tự  
như trợ cấp cũng sẽ không được coi là các biện pháp trợ cấp.  
những hoạt động điều chỉnh thông qua việc kiểm soát giá cả và đầu ra đối với  
buôn bán tại thị trường nội địa khuyến khích các doanh nghiệp trong ngành  
đó thực hiện hành vi trợ cấp chéo (đối với việc bán hàng ở một thị trường khác  
Có tính chất như một dạng trợ cấp bị cấm  
• Đưa ra quy định của GATT (Điều XXIII(1)(b)) và GATS  
(Điều XXIII)  
• Quốc gia bị vi phạm sẽ phải chứng minh ba yếu tố sau:  
•
•
– việc áp dụng một biện pháp đối kháng của một thành viên là  
không phù hợp  
– lợi ích bị triệt tiêu hoặc làm ảnh hưởng; và  
– Những biện pháp như vậy là không có khả năng dự báo trước  
trong quá trình đàm phán.  
•
Những miễn trừ theo luật cạnh tranh có thể bị kiện nếu:  
–
–
Có một sự liên hệ thích đáng giữa hành vi của chính phủ và  
Những hoạt động trợ cấp xuất khẩu chéo được gây ra  
16  
9/17/2018  
Việc áp dụng một biện pháp của một thành viên là không phù hợp  
Những khiếu nại không vi phạm  
•
•
Khiếu kiện có vi phạm (violation complaint): khiếu kiện phát sinh khi một  
quốc gia thành viên không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo qui  
định tại Hiệp định (trong trường hợp này thiệt hại được suy đoán là  
đương nhiên)  
Khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint): là loại khiếu kiện  
phát sinh khi một quốc gia ban hành một biện pháp thương mại gây  
thiệt hại (làm mất hay phương hại đến) các lợi ích mà quốc gia khiếu  
kiện có được từ Hiệp định hoặc cản trở việc thực hiện một trong các  
mục tiêu của Hiệp định - không phụ thuộc vào việc biện pháp đó có vi  
phạm Hiệp định hay không  
Vụ Japan – Photographic Film  
Phải là hành vi của chính phủ  
Một sự miễn trừ của luật cạnh tranh, trong đó cấm sự sáp nhập có  
tính hạn chế cạnh tranh hoặc một hành vi kinh doanh do cơ quan  
quản lý cạnh tranh thực hiện có thể coi là một “biện pháp” của  
chính phủ.  
có thể bao gồm việc dành sự đối xử đặc biệt theo luật cạnh tranh  
cho một công ty, một ngành hoặc một lĩnh vực cụ thể  
•
Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation”  
complaint): trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện cũng phải chứng  
minh về thiệt hại mà mình phải chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt  
được một mục tiêu của Hiệp định.  
Việc triệt tiêu hoặc làm tổn hại những lợi ích  
Có khả năng dự đoán trước  
•
•
Phải chứng minh những biện pháp mà một chính phủ bị khiếu  
kiện thực hiện tối thiểu tạo ra sự triệt tiêu hay tổn hại đó  
Một biện pháp của chính phủ có thể được kết luận là HCCT khi:  
• không có khả năng để dự đoán trước một cách có cơ  
sở về một biện pháp làm hạn chế những kết quả mà  
các cuộc đàm phán thương mại đem đến  
• Nếu những biện pháp này được đưa ra vào thời điểm  
trước khi các cuộc đàm phán kết thúc thì bên khiếu nại  
cần phải biết về những biện pháp đó  
–
làm hạn chế thâm nhập thị trường của sản phẩm nước ngoài được cho phép  
hoặc được hưởng lợi từ một ngoại lệ trong luật cạnh tranh  
–
tạo ra động lực khuyến khích một doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế  
cạnh tranh cụ thể  
– hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu hoặc bóc lột  
IV. Hợp tác quốc tế nhằm điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh  
xuyên quốc gia  
•
•
•
Thông qua pháp luật quốc gia  
–
–
Áp dụng nguyên tắc ngoài lãnh thổ  
Ngăn chặn các hành vi và loại bỏ các yếu tố có khả năng dẫn đến sự hạn  
chế cạnh tranh  
Xây dựng cơ chế đa phương  
–
Ký các hiệp định song phương về hợp tác kiểm soát hành vi hạn chế cạnh  
tranh  
–
Ký kết các điều ước đa phương  
Cơ chế rà soát chính sách cạnh tranh  
–
xây dựng một hiệp định đa phương về cạnh tranh quốc tế trong khuôn khổ  
WTO  
–
Xây dựng cơ chế rà soát chính sách cạnh tranh trong WTO  
17  
pdf 17 trang Thùy Anh 14520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Pháp luật cạnh tranh - Bài 5: Các quy định liên quan đến cạnh tranh trong WTO - Trần Thăng Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_phap_luat_canh_tranh_bai_5_cac_quy_dinh_lien_quan.pdf