Giáo trình Luật du lịch
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ DU LỊCH
1. Luật Du lịch năm 2005.
2. Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Du lịch.
3. Nghị định số 180/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 sửa đổi, bổ sung
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật du lịch.
4. Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo.
1
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
Chƣơng 1 QU CH PHÁP L VỀ HU DU LỊCH IỂM
DU LỊCH TU N DU LỊCH THỊ DU LỊCH
1. Tài nguyên du lịch
Có khá nhiều quan điểm được đưa ra xoay quanh khái niệm này1. Theo khoản 4
điều 4 Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,
yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người
và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là
yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du
lịch”. Từ đó, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Tài nguyên du lịch là một loại tài nguyên nói chung nhưng có thể được sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, tức là có khả năng hấp dẫn khách cũng như có khả
năng kinh doanh du lịch. Như vậy, tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức
độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với khách du lịch và có hiệu quả kinh doanh
du lịch cao.
- Tài nguyên du lịch gồm hai loại: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch nhân văn.
+ Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí
hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục
đích du lịch2. Trên thực tế, các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập
mà luôn tồn tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, có mối quan
hệ qua lại tương hỗ chặt chẽ, theo những quy luật của tự nhiên.
+ Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao
động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể
được sử dụng phục vụ mục đích du lịch3. Đây là loại tài nguyên du lịch có nguồn gốc
1 Theo Pirojnik thì: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của
chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức
khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép,
chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”. (Cơ sở địa lý dịch vụ
và du lịch – Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải biên dịch, 1985, tr.57). Trong khi đó, các nhà khoa học du lịch
Trung Quốc lại định nghĩa: “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử
dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên
du lịch”. (Phát triển và quản lý du lịch địa phương – Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương biên dịch, NXB
Khoa học Bắc Kinh, 2000, tr.41).
2,3 Khoản 1 điều 13 Luật Du lịch năm 2005.
2
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
là do con người sáng tạo ra, có sức hấp dẫn khách du lịch và có thể khai thác phát triển
du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường.
2 hu du lịch
Khoản 7 điều 4 Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Khu du lịch là nơi có tài
nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu
tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về
kinh tế - xã hội và môi trường”.
2.1. Khu du lịch quốc gia
Khu du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là khu du lịch quốc gia3:
- Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, có
khả năng thu hút nhiều khách du lịch.
- Có diện tích tối thiểu là một nghìn héc ta.
- Có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm.
- Có quy hoạch phát triển khu du lịch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Có mặt bằng, không gian đáp ứng yêu cầu của các hoạt động tham quan, nghỉ
ngơi, giải trí trong khu du lịch.
- Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch và dịch vụ đạt tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Có cơ sở lưu trú du lịch, khu vui chơi giải trí, thể thao và các cơ sở dịch vụ
đồng bộ khác.
2.2. Khu du lịch địa phương
Khu du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là khu du lịch địa
phương:
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch;
- Có diện tích tối thiểu hai trăm héc ta, trong đó có diện tích cần thiết để xây
dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch;
- Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, cơ sở lưu trú và dịch vụ du
lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của địa phương, có khả năng bảo đảm phục vụ ít
nhất một trăm nghìn lượt khách du lịch một năm.
3
Khoản 1 điều 23 Luật Du lịch năm 2005 và Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch.
3
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
Như vậy, các tiêu chí để công nhận khu du lịch bao gồm tính hấp dẫn của tài
nguyên du lịch, diện tích (trong đó có đủ diện tích để xây dựng công trình, cơ sở dịch
vụ) và kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất đủ để phục vụ một lượng khách nhất định tùy
theo đó là khu du lịch quốc gia hay địa phương. Mặc dù vậy, nhưng trên thực tế, đa số
(nếu không nói là hầu hết) các khu du lịch hiện nay đều không thỏa mãn các tiêu chí
này. Hơn nữa, trong Nghị định số 16/2012/NĐ-CP ngày 12/3/2012 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực du lịch lại không có quy định chế tài nào về dùng sai tên
gọi. Cho nên, các doanh nghiệp đầu tư xây dựng địa điểm phục vụ du lịch cứ treo bảng
“khu du lịch” để hấp dẫn khách du lịch. Vì thế, nhiều “khu du lịch” với diện tích
khiêm tốn khiến khách phải thất vọng.
2.3. Thủ tục công nhận khu du lịch
2.3.1. Hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch
- Tờ trình đề nghị công nhận khu du lịch của cơ quan nhà nước về du lịch có
thẩm quyền;
- Báo cáo quy hoạch tổng thể hoặc quy hoạch cụ thể phát triển khu du lịch kèm
theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
2.3.2. Thẩm quyền công nhận khu du lịch
- Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận khu du lịch quốc gia theo đề nghị
của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận khu du lịch địa
phương, theo đề nghị của cơ quan nhà nước về du lịch cấp tỉnh.
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương công bố khu du lịch quốc
gia, sau khi có quyết định công nhận. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố khu du lịch
địa phương sau khi có quyết định công nhận.
3 iểm du lịch
Khoản 8 điều 4 Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Điểm du lịch là nơi có tài
nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”.
3.1. Điểm du lịch quốc gia
Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch quốc
gia4:
4
Khoản 1 điều 24 Luật Du lịch năm 2005 và Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch.
4
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
- Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn.
- Có khả năng bảo đảm phục vụ tối thiểu một trăm nghìn lượt khách du lịch một
năm.
- Có đường giao thông thuận tiện đến điểm du lịch, có các dịch vụ: bãi đỗ xe, có
khu vệ sinh công cộng, phòng cháy chữa cháy, cấp, thoát nước, thông tin liên lạc và
các dịch vụ khác đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch.
- Đáp ứng các điều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi trường
theo quy định của pháp luật.
3.2. Điểm du lịch địa phương
Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa
phương:
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch;
- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít
nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm.
Tóm lại, điểm chung giữa khu du lịch và điểm du lịch là đều gắn với nơi có tài
nguyên du lịch hấp dẫn và có kết cấu hạ tầng, dịch vụ du lịch cần thiết để đáp ứng nhu
cầu của khách du lịch. Song, cũng cần phân biệt hai loại này ở một số điểm như: về sự
đáp ứng nhu cầu của khách du lịch; về quy mô và sức chứa du khách tối thiểu,...Theo
Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ thì mục tiêu
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nước ta sẽ phát triển 7 vùng du lịch với 46 khu
du lịch quốc gia và 41 điểm du lịch quốc gia nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển du
lịch cho các vùng và cả nước5.
3.3. Thủ tục công nhận điểm du lịch
3.3.1. Hồ sơ đề nghị công nhận điểm du lịch
- Tờ trình đề nghị công nhận điểm du lịch của cơ quan nhà nước về du lịch có
thẩm quyền;
- Bản thuyết minh về điểm du lịch đề nghị công nhận.
3.3.2. Thẩm quyền công nhận điểm du lịch
- Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận điểm du lịch quốc gia theo đề nghị
của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương.
5 Danh mục 7 vùng du lịch và 46 khu du lịch quốc gia, 41 điểm du lịch quốc gia được đính kèm ở phần phụ lục
của tài liệu này.
5
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận điểm du lịch địa
phương theo đề nghị của cơ quan nhà nước về du lịch cấp tỉnh.
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương công bố điểm du lịch quốc
gia sau khi có quyết định công nhận. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố điểm du lịch
địa phương sau khi có quyết định công nhận.
4 Tuyến du lịch
Đây là khái niệm liên quan đến kinh doanh du lịch lữ hành. Từ những điểm,
khu du lịch có sẵn tại các vùng, địa phương, quốc gia khác nhau, khách du lịch hoặc
thông qua các công ty lữ hành vạch ra cho mình những tuyến du lịch nhằm thỏa mãn
nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí và hiểu biết của mình.
Tại khoản 9 điều 4 Luật Du lịch năm 2005 định nghĩa: “Tuyến du lịch là lộ trình
liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các
tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không”.
4.1. Tuyến du lịch quốc gia
Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch quốc
gia6:
- Nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc
gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế;
- Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du
lịch dọc theo tuyến.
4.2. Tuyến du lịch địa phương
Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch địa
phương7:
- Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương;
- Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du
lịch dọc theo tuyến.
Theo Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 thì Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt phát triển hệ thống tuyến du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2013 như
sau :
+ Tuyến theo đường hàng không: Từ các sân bay thuộc trung tâm quốc gia và các
sân bay quan trọng khác.
6 Khoản 1 điều 25 Luật Du lịch năm 2005.
7 Khoản 2 điều 25 Luật Du lịch năm 2005.
6
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
+ Tuyến theo đường bộ: Theo hệ thống các quốc lộ lớn nối các vùng du lịch và
đường Hồ Chí Minh.
+ Tuyến theo đường biển: Liên kết các đảo ven bờ và các tuyến Đà Nẵng - Hoàng
Sa; Nha Trang - Trường Sa và đường Hồ Chí Minh trên biển.
+ Tuyến theo đường sông: Theo hệ thống sông Hồng và sông Mê Kông.
+ Tuyến theo đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam; Hà Nội - Hải Phòng; Hà
Nội - Lào Cai và Hà Nội - Lạng Sơn.
Chú trọng phát triển tuyến đường biển và tuyến đường bộ dọc biên giới.
+ Các tuyến du lịch chuyên đề: Về nguồn tìm hiểu văn hóa các dân tộc Việt Nam;
khám phá biển, đảo; di sản; sinh thái núi, rừng; MICE; làng nghề; cộng đồng và nông
nghiệp, nông thôn; du thuyền, tàu biển; sông, hồ; lễ hội, tâm linh.
+ Tuyến du lịch liên kết các quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan,
Trung Quốc,...
4.3. Thủ tục công nhận tuyến du lịch
4.3.1. Hồ sơ đề nghị công nhận tuyến du lịch
- Tờ trình đề nghị công nhận tuyến du lịch của cơ quan nhà nước về du lịch có
thẩm quyền;
- Bản đồ về tuyến du lịch theo tỷ lệ 1/1.500.000 đối với tuyến du lịch quốc gia; tỷ
lệ 1/100.000 đối với tuyến du lịch địa phương và bản thuyết minh về tuyến du lịch đề
nghị công nhận.
4.3.2. Thẩm quyền công nhận tuyến du lịch
- Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận tuyến du lịch quốc gia theo đề nghị
của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận tuyến du lịch địa
phương theo đề nghị của cơ quan nhà nước về du lịch cấp tỉnh.
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương công bố tuyến du lịch quốc
gia sau khi có quyết định công nhận. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố tuyến du lịch
địa phương sau khi có quyết định công nhận.
5 ô thị du lịch
Đô thị du lịch được nhắc đến trong những năm gần đây và được coi là một khái
niệm mới trong hệ thống phát triển đô thị. Theo định nghĩa tại khoản 6 điều 4 Luật Du
lịch năm 2005 thì: “Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch và du lịch có
vai trò quan trọng trong hoạt động của đô thị”.
7
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
5.1. Điều kiện công nhận đô thị du lịch
Để trở thành đô thị du lịch thì phải có đủ các điều kiện sau đây8:
- Đáp ứng các quy định về đô thị theo quy định của pháp luật;
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn trong ranh giới đô thị hoặc trong ranh giới đô thị
và khu vực liền kề;
- Có đường giao thông thuận tiện đến các khu du lịch, điểm du lịch;
- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phục vụ khách du lịch;
- Có hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật đồng bộ, tiện nghi đạt tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật do cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của khách du lịch trong nước và quốc tế; có cơ cấu lao động phù hợp
với yêu cầu phát triển du lịch;
- Ngành du lịch có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đạt tỷ lệ thu nhập từ du
lịch trên tổng thu nhập của các ngành dịch vụ theo quy định của Chính phủ.
Theo Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 thì Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt phát triển 12 đô thị du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2013, cụ thể
gồm có:
- Đô thị du lịch Sa Pa, thuộc tỉnh Lào Cai
- Đô thị du lịch Đồ Sơn, thuộc thành phố Hải Phòng
- Đô thị du lịch Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh
- Đô thị du lịch Sầm Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa
- Đô thị du lịch Cửa Lò, thuộc tỉnh Nghệ An
- Đô thị du lịch Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đô thị du lịch Đà Nẵng, thuộc thành phố Đà Nẵng
- Đô thị du lịch Hội An, thuộc tỉnh Quảng Nam
- Đô thị du lịch Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hòa
- Đô thị du lịch Phan Thiết, thuộc tỉnh Bình Thuận
- Đô thị du lịch Đà Lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng
- Đô thị du lịch Vũng Tàu, thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Mặc dù Luật Du lịch năm 2005 và Nghị định hướng dẫn đã quy định các điều
kiện để công nhận đô thị du lịch nhưng vẫn còn quá chung chung, khó thực hiện. Cụ
thể là các tiêu chí không được lượng hóa và Chính phủ cũng chưa có văn bản quy định
8 Điều 31 Luật Du lịch năm 2005 và điều 11 Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Du lịch.
8
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
rõ về cơ cấu lao động, tỷ lệ thu nhập từ du lịch trên tổng thu nhập của các ngành đối
với đô thị du lịch để có căn cứ thực hiện.
5.2. Thủ tục công nhận đô thị du lịch
- Hồ sơ đề nghị công nhận đô thị du lịch bao gồm:
+ Tờ trình đề nghị công nhận đô thị du lịch của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình
Thủ tướng Chính phủ;
+ Bản sao quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương;
+ Đề án đề nghị công nhận đô thị du lịch.
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ hồ sơ đề nghị công nhận
đô thị du lịch, đồng thời gửi hồ sơ đến Bộ Xây dựng và cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch ở trung ương. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch ở trung ương, các cơ quan hữu quan thẩm định hồ sơ đề nghị công nhận đô thị
du lịch trình Thủ tướng Chính phủ.
- Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định công nhận đô thị du lịch; cơ quan
quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương công bố đô thị du lịch.
9
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
Chƣơng 2 QU CH PHÁP L VỀ HÁCH DU LỊCH
1 hái niệm “khách du lịch”
Do du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một lĩnh vực kinh tế với
đối tượng phục vụ là người đi du lịch nên việc thống nhất khái niệm “khách du lịch” là
một nhu cầu tất yếu. Đối với doanh nghiệp du lịch, thông qua số lượng khách du lịch
có thể nắm được doanh thu. Sự chuẩn hóa khái niệm khách du lịch sẽ giúp các nhà
thống kê thống nhất được tiêu chí phân định giữa khách tham quan và khách du lịch,
giúp cho các cơ quan quản lý xác định được nghĩa vụ đối với nhà nước của các doanh
nghiệp du lịch. Việc thống nhất và chuẩn hóa khái niệm khách du lịch còn có ý nghĩa
làm cho du lịch Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào hoạt động thống kê du lịch khu
vực và quốc tế.
Đây là khái niệm có nhiều quan điểm đưa ra. Trước hết, trong hầu như các định
nghĩa, “khách du lịch” đều được coi là “người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của
mình”9. Có lẽ tiêu chí này chưa hợp logic vì ở đây du khách không phải được nhìn
dưới con mắt của nơi nhận khách mà lại từ phía nơi gửi khách. Tiêu chí thứ hai được
nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh là “không phải theo đuổi mục đích kinh tế”10. Đây
cũng là điều cần xem xét. Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển du lịch, mọi người
đều thừa nhận rằng: chính các thương gia trong quá trình mở rộng quan hệ làm ăn
buôn bán lại là một đối tượng phục vụ quan trọng của ngành du lịch. Các số liệu thống
kê về cơ cấu khách ở nhiều nước cũng khẳng định cho nhận định trên. Tiêu chí thứ ba
được quan tâm là thời gian và khoảng cách từ nơi cư trú đến nơi du lịch. Rất nhiều
người cho rằng thời gian đi khỏi nhà từ 24 giờ trở lên là quan trọng nhất. Có một số lại
bổ sung thêm giới hạn không quá một năm. Hoa Kỳ và Australia lại thấy rằng yếu tố
khoảng cách tối thiểu 50 dặm là quan trọng hơn cả. Xét về mặt thống kê, những chỉ
tiêu trên hầu như không thể dùng được. Dưới con mắt nhà doanh nghiệp du lịch, điều
chủ yếu là họ có là khách hàng của mình hay không.
Để có thể đưa ra một khái niệm về “khách du lịch” chặt chẽ, có lẽ nên bắt đầu từ
khái niệm “khách”. Theo Từ điển Tiếng Việt, ý nghĩa cơ bản của từ “khách” là người
9
Josef Stander, Ogilvie, Ủy ban đánh giá tài nguyên quốc gia Hoa Kỳ, Văn phòng kinh tế công nghiệp
Australia,…
10 Josef Stander, Lanquar, Morval,…
10
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
từ bên ngoài đến trong quan hệ với người đón tiếp, phục vụ. Như vậy, khách rõ ràng
phải được định nghĩa từ phía đón tiếp chứ không phải từ nơi đi.
Theo khoản 2 điều 4 Luật Du lịch năm 2005 thì “khách du lịch là người đi du lịch
hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu
nhập ở nơi đến”.
2 Phân loại “khách du lịch”
Điều 34 Luật Du lịch năm 2005 phân chia “khách du lịch” làm hai loại là khách
du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
2.1. Khách du lịch nội địa
Khái niệm này được quy định tại khoản 2 điều 34 Luật Du lịch năm
2005:“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
Như vậy, khách du lịch nội địa được hiểu là công dân Việt Nam, người nước
ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tượng du lịch
trong lãnh thổ quốc gia, về cơ bản không có sự giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ.
Khuyến khích du lịch nội địa sẽ góp phần kích cầu tiêu dùng, tăng lưu chuyển và hiệu
quả sử dụng vốn trong xã hội.
2.2. Khách du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế làm biến đổi cán cân thu chi của quốc gia có tham gia hoạt động
du lịch quốc tế. Thông thường, những nước đang phát triển tập trung phát triển chủ
yếu loại hình du lịch quốc tế đón khách. Ngược lại, ở các nước phát triển thì nhu cầu
đi du lịch nước ngoài ngày một phát triển.
Khoản 3 Điều 34 Luật Du lịch năm 2005 quy định như sau: “Khách du lịch quốc
tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch;
công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
Theo định nghĩa trên thì có thể chia khách du lịch quốc tế thành hai loại, gồm:
- Khách du lịch đến: là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
đến Việt Nam du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch của các cơ quan
cung ứng du lịch. Thu hút khách quốc tế đến Việt Nam chính là phát triển xuất khẩu
tại chỗ, tăng thu ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân thanh toán và giảm thiểu lạm
phát.
11
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
- Khách du lịch ra nước ngoài: là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam từ trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch ở
nước ngoài.
Tóm lại, cách phân loại nói trên cũng chưa bao gồm được hết mọi đối tượng
tham gia du lịch, mà nó chỉ đặt ra tiêu chuẩn chung để làm cơ sở cho hoạt động thống
kê du lịch. Mỗi nước thường có điều kiện và yêu cầu quản lý cụ thể của mình nên đều
có thể đưa ra định nghĩa với chi tiết không hoàn toàn thống nhất với nhau.
3. Quyền và nghĩa vụ của khách du lịch
3.1. Quyền của khách du lịch
Điều 35 Luật Du lịch năm 2005 quy định về quyền của khách du lịch như sau:
- Lựa chọn hình thức du lịch lẻ hoặc du lịch theo đoàn; lựa chọn một phần hoặc
toàn bộ chương trình du lịch, dịch vụ du lịch của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch.
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch cung cấp thông tin cần thiết về
chương trình du lịch, dịch vụ du lịch.
- Được tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hải
quan, lưu trú; được đi lại trên lãnh thổ Việt Nam để tham quan, du lịch, trừ những khu
vực cấm.
- Hưởng đầy đủ các dịch vụ du lịch theo hợp đồng giữa khách du lịch và tổ chức,
cá nhân kinh doanh du lịch; được hưởng bảo hiểm du lịch và các loại bảo hiểm khác
theo quy định của pháp luật.
- Được đối xử bình đẳng, được yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch thực
hiện các biện pháp bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản khi sử dụng dịch
vụ du lịch; được cứu trợ, cứu nạn trong trường hợp khẩn cấp khi đi du lịch trên lãnh
thổ Việt Nam.
- Được bồi thường thiệt hại do lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch gây ra
theo quy định của pháp luật.
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật về du lịch.
3.2. Nghĩa vụ của khách du lịch
Điều 36 Luật Du lịch năm 2005 quy định những nghĩa vụ mà khách du lịch phải
thực hiện, cụ thể như sau:
- Tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
tôn trọng và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, môi trường, tài
nguyên du lịch, bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục nơi đến du lịch.
12
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
- Thực hiện nội quy, quy chế của khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, cơ sở
lưu trú du lịch.
- Thanh toán tiền dịch vụ theo hợp đồng và các khoản phí, lệ phí theo quy định
của pháp luật.
- Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân kinh doanh du
lịch theo quy định của pháp luật.
4. Bảo đảm an toàn cho khách du lịch
Điều 37 Luật Du lịch năm 2005 quy định như sau:
- Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn tính mạng, sức
khoẻ, tài sản của khách du lịch và ngăn chặn những hành vi nhằm thu lợi bất chính từ
khách du lịch.
- Trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời có biện
pháp cứu hộ, cứu nạn cần thiết để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại đối với khách
du lịch.
- Khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch có các biện pháp phòng tránh rủi ro và
tổ chức bộ phận bảo vệ, cứu hộ, cứu nạn, cấp cứu cho khách du lịch.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thông báo kịp thời cho
khách du lịch về trường hợp khẩn cấp, dịch bệnh và các nguy cơ có thể gây nguy hiểm
cho khách du lịch; áp dụng các biện pháp cần thiết và phối hợp với các cơ quan có liên
quan trong việc cứu hộ, cứu nạn, cấp cứu cho khách du lịch.
5 Những quy định pháp luật về một số trƣờng hợp khách du lịch đặc biệt
5.1. Khách du lịch là trẻ em
Theo quy định của Bộ Tài chính thì việc thu phí đối với trẻ em tại một số điểm
tham quan như: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt
Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam,… thì:
- Trẻ em dưới 6 tuổi: miễn phí
- Trẻ em là người từ 6 đến dưới 16 tuổi: 10.000 đồng/lượt.
Trường hợp khó xác định là người dưới 16 tuổi phải xuất trình giấy khai sinh,
hộ chiếu, chứng minh nhân dân hoặc bất kỳ một giấy tờ khác chứng minh là người
dưới 16 tuổi.
13
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
5.2. Khách du lịch cao tuổi
Người cao tuổi (từ đủ 60 tuổi trở lên) khi tham quan các di tích lịch sử - văn hóa,
bảo tàng, danh lam thắng cảnh; tập luyện thể dục, thể thao tại các cơ sở thuộc thẩm
quyền quản lý của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch được giảm ít nhất 20% giá dịch
vụ nếu xuất trình chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác chứng minh là
người cao tuổi.
Riêng đối với các di tích lịch sử - văn hóa, bảo tàng, danh lam thắng cảnh đang
thực hiện thu tiền dịch vụ gắn liền với phí tham quan, mức giảm giá là 50%.
5.3. Khách du lịch là người khuyết tật
Khi trực tiếp sử dụng dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch tại các cơ sở
văn hóa, thể thao như: Bảo tàng, di tích văn hóa - lịch sử, thư viện và triển lãm; Nhà
hát, rạp chiếu phim; Các cơ sở thể thao khi diễn ra các hoạt động thể dục, thể thao
trong nước;… thì:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng11 được miễn giá vé, giá dịch vụ.
- Người khuyết tật nặng12 được giảm tối thiểu 50% giá vé, giá dịch vụ.
Để được miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ, người khuyết tật cần xuất trình Giấy xác
nhận khuyết tật.
5.4. Khách du lịch là đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn
hóa
Các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa gồm:
- Nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa được quy
định trong Chương trình 135 của Chính phủ thì trong một năm được xem miễn phí:
+ Chiếu phim nhựa hoặc băng hình 04 lần và biểu diễn nghệ thuật 02 lần.
+ Đội thông tin lưu động biểu diễn 04 lần và triển lãm do tỉnh, thành phố tổ chức
lưu động 02 lần.
- Người có công với cách mạng thì trong một năm được hưởng ưu đãi như sau:
+ Nhóm 113: Được Sở Văn hoá – Thể thao – Du lịch (hoặc đơn vị được ủy
nhiệm) mời xem phim nhựa hoặc băng hình, xem biểu diễn nghệ thuật 04 lần; tham
11 Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm
soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục
vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn (khoản 1 điều 3
Nghị định 28/2012 ngày 10/4/2012).
12 Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự
kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc
khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc (khoản 2 điều 3
Nghị định 28/2012 ngày 10/4/2012).
14
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
quan bảo tàng, di tích, công trình văn hoá do cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội
thực hiện trên địa bàn 02 lần.
Được giảm 50% giá vé hiện hành trong trường hợp tổ chức tập thể tham gia xem
phim, biểu diễn nghệ thuật, tham quan bảo tàng, di tích do cơ quan Nhà nước và tổ
chức xã hội thực hiện trên địa bàn.
+ Nhóm 214: Được tổ chức xem phim nhựa hoặc băng hình, xem biểu diễn nghệ
thuật 04 lần; xem trưng bày chuyên đề lưu động của Bảo tàng do cơ quan Nhà nước
hoặc tổ chức xã hội thực hiện trên địa bàn 02 lần.
- Người thuộc diện chính sách xã hội:
+ Người tàn tật, người già cô đơn được Sở Văn hoá – Thể thao – Du lịch (hoặc
đơnvị được ủy nhiệm) mời xem phim nhựa hoặc băng hình, xem biểu diễn nghệ thuật
04 lần/năm.
Được giảm 50% giá vé hiện hành trong trường hợp tổ chức tập thể xem phim
hoặc băng hình, xem biểu diễn nghệ thuật, tham quan bảo tàng, di tích do cơ quan Nhà
nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện trên địa bàn.
+ Đối với các đối tượng được chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội và học sinh
các trường phổ thông dân tộc nội trú được tổ chức xem phim nhựa hoặc băng hình,
xem biểu diễn nghệ thuật 04 lần/năm; được tham quan bảo tàng di tích, công trình văn
hóa, triển lãm hoặc triển lãm lưu động theo hình thức tập thể 02 lần/năm.
6 Một số kiến nghị
Chúng ta đều biết rằng, khách du lịch là nguồn sống của ngành du lịch, đích
hướng đến của mọi hoạt động du lịch. Do đó, họ cần được tôn trọng và bảo vệ một
cách tốt nhất. Luật Du lịch hiện nay mới chỉ có một chương nhỏ, gồm 4 điều nhắc đến
khách du lịch một cách chung chung chưa cụ thể, khó thực hiện.
Thời gian qua, hàng loạt các hiện tượng lừa đảo, gian lận, ép giá, chèo kéo, đeo
bám, xâm hại tài sản, tính mạng khách du lịch chưa được kiểm soát và có chiều hướng
gia tăng, nhất là tại các địa bàn du lịch trọng điểm. Chính vì vậy, Luật Du lịch trong
quá trình sửa đổi tới đây cần quan tâm tới đối tượng khách du lịch.
13 Nhóm 1 gồm: Cán bộ lão thành cách mạng; cán bộ ''tiền khởi nghĩa''; Thân nhân liệt sĩ; Anh hùng Lực lượng
vũ trang, Anh hùng Lao động, Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Thương binh, người hưởng chính sách như thương
binh, bệnh binh.
14 Nhóm 2 gồm: Các đối tượng được chăm sóc tại các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng thương, bệnh binh và người
có công.
15
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
Một trong những kiến nghị hiện nay là nên có một lực lượng chuyên trách bảo vệ
khách du lịch. Đây không phải là vấn đề mới. Thế nhưng cho đến thời điểm hiện tại,
chúng ta vẫn chưa thể cho ra đời lực lượng bảo vệ trật tự, gìn giữ an toàn cho du khách
trong khi tại các quốc gia khác, lực lượng cảnh sát du lịch đã và đang góp phần quan
trọng trong việc thúc đẩy ngành công nghiệp không khói phát triển15. Theo nhiều
chuyên gia, không thể không thành lập lực lượng cảnh sát du lịch tại Việt Nam, bởi vì,
chỉ có lực lượng này mới có thể giải quyết những vấn đề liên quan đến an toàn của du
khách cũng như giữ gìn trật tự, trả lại cho du lịch Việt Nam hình ảnh đẹp trong mắt du
khách. Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến cho rằng, việc thành lập lực lượng cảnh sát du
lịch là không cần thiết. Bởi vì, nó sẽ làm tăng thêm lượng biên chế khiến bộ máy thêm
cồng kềnh, tốn kém ngân sách và quản lý chồng chéo. Trong khi đó, để bảo đảm an
toàn cho du khách thì đã có các lực lượng cảnh sát hình sự, cảnh sát điều tra, công an
cấp xã, lực lượng bảo vệ dân phố và lực lượng thanh niên xung phong tại các địa điểm
du lịch lớn. Cho nên, các công ty lữ hành nên có lực lượng bảo vệ cho du khách thì sẽ
hiệu quả hơn việc thành lập lực lượng cảnh sát du lịch.
15
Tại Hàn Quốc, Chính phủ đã triển khai lực lượng cảnh sát du lịch gồm 101 người tại thủ đô Seoul. Bất cứ
người dân nào có dấu hiệu chèo kéo, bắt chẹt đối với khách du lịch và bị lực lượng này phát hiện đều sẽ bị đưa ra
xử lý. Các cảnh sát du lịch còn được tập huấn về cách trò chuyện với khách du lịch và họ sẽ luôn nở nụ cười bất
cứ khi nào có máy ảnh hoặc máy quay chiếu vào. Tại Thái Lan, cảnh sát du lịch thậm chí còn có trang web riêng,
trong đó có những lời khuyên bổ ích về sự an toàn cho khách khi đến đất nước chùa tháp.
16
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
Chƣơng 3 QU CH PHÁP L VỀ INH DOANH DU LỊCH
1.
inh doanh lữ hành
Theo khái niệm tại khoản 14 điều 4 Luật Du lịch năm 2005 thì: “Lữ hành là việc
xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho
khách du lịch”.
1.1. Điều kiện kinh doanh lữ hành
Kinh doanh lữ hành là một nghề và thực chất là hoạt động trung gian, môi giới
giữa khách du lịch và các cơ sở cung cấp dịch vụ, hàng hóa cho khách du lịch. Vì thế
hoạt động kinh doanh này cần phải đáp ứng được những điều kiện nhất định tùy thuộc
lĩnh vực.
1.1.1. Điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa
- Có đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm
quyền16.
- Có phương án kinh doanh lữ hành nội địa; có chương trình du lịch cho khách du
lịch nội địa.
- Người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa phải có thời gian ít nhất
ba năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành17.
1.1.2. Điều kiện kinh doanh lữ hành quốc tế18
- Có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế do cơ quan quản lý nhà nước về du
lịch ở trung ương cấp.
16
Theo quy định tại khoản 1 điều 43 Luật Du lịch năm 2005 thì: “tổ chức, cá nhân kinh doanh lữ hành phải
thành lập doanh nghiệp”. Căn cứ vào pháp luật về doanh nghiệp hiện hành thì có 4 loại hình doanh nghiệp là:
- Doanh nghiệp tư nhân: do 1 cá nhân thành lập.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn, gồm:
+ Công ty TNHH 1 thành viên: do 1 cá nhân hoặc 1 tổ chức thành lập.
+ Công ty TNHH 2 thành viên trở lên: từ 2 đến 50 thành viên là cá nhân hoặc tổ chức.
- Công ty hợp danh: có ít nhất 2 cá nhân là thành viên hợp danh; ngoài ra, có thể có thành viên góp vốn.
- Công ty cổ phần: có từ 3 đến không giới hạn số cổ đông tối đa.
Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp được thực hiện tại Sở Kế hoạch – Đầu tư.
17
Thời gian làm việc trong lĩnh vực lữ hành của người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành được xác định
bằng tổng thời gian trực tiếp làm việc trong các lĩnh vực sau: Quản lý hoạt động lữ hành; Hướng dẫn du lịch;
Quảng bá, xúc tiến du lịch; Xây dựng và điều hành chương trình du lịch; Nghiên cứu, giảng dạy về lữ hành,
hướng dẫn du lịch. Thời gian làm việc trong lĩnh vực lữ hành của người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành
được xác định thông qua giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nơi người đó đã hoặc đang làm việc;
các giấy tờ hợp lệ khác xác nhận thời gian người đó làm việc trong lĩnh vực lữ hành.
18 Theo Tổng cục Du lịch, đến ngày 26.6.2013, cả nước có 1.192 công ty kinh doanh lữ hành quốc tế. Trong đó,
khu vực miền Nam có 466 công ty, riêng TP.HCM có 418 công ty; miền Bắc có 608 công ty, riêng Hà Nội có
501 công ty; cả khu vực miền Trung (từ Đà Nẵng vào Bình Thuận) có 118 công ty.
17
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
- Có phương án kinh doanh lữ hành; có chương trình du lịch cho khách du lịch
quốc tế theo phạm vi kinh doanh (bao gồm: Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch
vào Việt Nam; Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài; Kinh doanh lữ
hành đối với khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài).
- Người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế phải có thời gian ít nhất
bốn năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành.
- Có ít nhất ba hướng dẫn viên được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế.
- Có tiền ký quỹ theo quy định19.
Như vậy, về cơ bản, điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành
quốc tế khác nhau ở vài điểm chủ yếu như: vấn đề phải có ít nhất 3 hướng dẫn viên
quốc tế và phải ký quỹ chỉ áp dụng với kinh doanh lữ hành quốc tế, mà không bắt buộc
với kinh doanh lữ hành nội địa. Theo quy định trước đây thì pháp luật chỉ quy định
một mức ký quỹ là 250 triệu đồng cho doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế (bao
gồm cả mảng đưa khách du lịch ra nước ngoài và khách du lịch vào Việt Nam). Nhưng
hiện hành, mức ký quỹ được chia ra làm 2 loại: 250 triệu đồng cho kinh doanh đón
khách vào Việt Nam và 500 triệu đồng với doanh nghiệp kinh doanh đưa khách du lịch
ra nước ngoài hoặc kinh doanh cả 2 lĩnh vực kể trên.Việc ra quy định cao hơn về tiền
19
Theo Nghị định số 180/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 thì vấn đề ký quỹ kinh doanh lữ hành quốc tế được quy
định như sau:
- Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế phải ký quỹ theo đúng quy định. Tiền ký quỹ của doanh nghiệp phải
gửi vào tài khoản tại ngân hàng và được hưởng lãi suất theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp và ngân hàng nhận ký
quỹ phù hợp với quy định của pháp luật.
- Mức ký quỹ kinh doanh lữ hành quốc tế:
+ 250.000.000 đồng với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam;
+ 500.000.000 đồng với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài hoặc kinh doanh
lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài.
- Tiền ký quỹ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế được sử dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh
trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động kinh
doanh lữ hành.
- Hoàn trả tiền ký quỹ kinh doanh lữ hành cho doanh nghiệp trong những trường hợp sau đây:
+ Có thông báo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc doanh nghiệp không được cấp giấy phép kinh
doanh lữ hành quốc tế;
+ Có quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của
doanh nghiệp.
+ Có quyết định của cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư về việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư hoặc xóa ngành
nghề kinh doanh lữ hành trong giấy chứng nhận đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có vốn đầu tư nước
ngoài.
18
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
ký quỹ để hạn chế các doanh nghiệp làm ăn chụp giựt gây hại cho du khách. Mặt khác,
dựa trên tính toán về tỷ lệ trượt giá của tiền đồng thì mức ký quỹ mới không tăng quá
cao so với quy định cũ. Vì thế, tiền ký quỹ như là một hình thức để hạn chế bớt những
trường hợp tiêu cực và giúp bảo vệ quyền lợi của du khách.
1.1.3. Điều kiện kinh doanh đại lý lữ hành
- Kinh doanh đại lý lữ hành là việc tổ chức, cá nhân nhận bán chương trình du
lịch của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành cho khách du lịch để hưởng hoa hồng. Tổ
chức, cá nhân kinh doanh đại lý lữ hành không được tổ chức thực hiện chương trình du
lịch.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh đại lý lữ hành phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Đăng ký kinh doanh đại lý lữ hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm
quyền;
+ Có hợp đồng đại lý với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành20.
1.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
1.2.1. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa21
Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho
khách du lịch nội địa;
- Mua bảo hiểm du lịch cho khách du lịch nội địa trong thời gian thực hiện
chương trình du lịch khi khách du lịch có yêu cầu;
- Chấp hành, phổ biến và hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật, các quy
định của Nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản
sắc văn hoá và thuần phong mỹ tục của dân tộc, quy chế nơi đến du lịch;
20 Hợp đồng đại lý lữ hành được quy định tại điều 54 Luật Du lịch năm 2005 như sau:
- Hợp đồng đại lý lữ hành phải được lập thành văn bản giữa bên giao đại lý là doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
và bên nhận đại lý là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện.
- Nội dung chủ yếu của hợp đồng đại lý lữ hành bao gồm:
+ Tên, địa chỉ của bên giao đại lý và bên nhận đại lý;
+ Chương trình du lịch, giá bán chương trình du lịch được giao cho đại lý;
+ Mức hoa hồng đại lý; thời điểm thanh toán giữa bên giao đại lý và bên nhận đại lý;
+ Thời hạn hiệu lực của hợp đồng đại lý.
21 Điều 45 Luật Du lịch năm 2005.
19
Bài giảng Luật Du lịch
GV: Nguyễn Thị Bích Phượng
- Sử dụng hướng dẫn viên để hướng dẫn cho khách du lịch khi khách có yêu cầu
hướng dẫn viên; chịu trách nhiệm về hoạt động của hướng dẫn viên trong thời gian
hướng dẫn khách du lịch theo hợp đồng với doanh nghiệp.
1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế22
Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam:
+ Xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho
khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch nội địa;
+ Hỗ trợ khách du lịch làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, hải quan;
+ Chấp hành, phổ biến và hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật và các quy
định của Nhà nước Việt Nam về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường,
giữ gìn bản sắc văn hoá và thuần phong mỹ tục của dân tộc; quy chế nơi đến du lịch;
+ Sử dụng hướng dẫn viên để hướng dẫn cho khách du lịch là người nước ngoài;
chịu trách nhiệm về hoạt động của hướng dẫn viên trong thời gian hướng dẫn khách du
lịch theo hợp đồng với doanh nghiệp.
- Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài:
+ Xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện chương trình du lịch cho khách
du lịch ra nước ngoài và khách du lịch nội địa;
+ Phải mua bảo hiểm du lịch cho khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài trong
thời gian thực hiện chương trình du lịch;
+ Hỗ trợ khách du lịch làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, hải quan;
+ Chấp hành, phổ biến và hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật và các quy
định của nước đến du lịch;
+ Có trách nhiệm quản lý khách du lịch theo chương trình du lịch đã ký với
khách du lịch.
1.2.3. Trách nhiệm của các bên khi kinh doanh đại lý lữ hành23
- Trách nhiệm của bên giao đại lý lữ hành:
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên nhận đại lý lữ hành.
+ Tổ chức thực hiện chương trình du lịch do bên nhận đại lý lữ hành bán; chịu
trách nhiệm với khách du lịch về chương trình du lịch giao cho bên nhận đại lý lữ
hành.
22 Điều 50 Luật Du lịch năm 2005.
23 Điều 55 và 56 Luật Du lịch năm 2005.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật du lịch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_luat_du_lich.pdf

