Một số vấn đề về cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN
CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN
DƯƠNG QUỲNH HOA*
Hiện nay, công tác cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản chưa đáp ứng được yêu cầu của thực
tiễn, vẫn còn không ít vụ việc và tiền thi hành án dân sự tồn đọng hàng năm. Nguyên
nhân một phần do pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự hiện hành còn nhiều chồng
chéo cũng như một số quy định chưa có tính khả thi cao. Bài viết phân tích thực trạng
cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, qua đó đưa ra một số giải
pháp để hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Từ khóa: Cưỡng chế thi hành án, kê biên tài sản, xử lý tài sản thi hành án.
Ngày nhận bài: 08/3/2021; Biên tập xong: 31/3/2021; Duyệt đăng: 29/6/2021
Current work of coercive assets distraint and handling has not met the actual
requirements that remains many cases and civil judgment enforcement expenses have
been backlogged each year. One of the reasons is overlapping laws on enforcement of
civil judgments and some infeasible regulations. The article analyzes current status of
coercive assets distraint and handling of judgment debtors, thereby proposes solutions
to improve the law in this maꢀer.
Keywords: Coercive judgment enforcement, assets distraint, handling of assets for
judgment enforcement.
hi hành án dân sự có vai trò quan hành án dân sự. Nguyên nhân là do người
trọng trong việc góp phần đảm bảo
thực thi bản án, quyết định dân sự
phải thi hành án tuy có điều kiện thi hành
nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong
khoảng thời gian mà cơ quan thi hành án đã
ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc
thi hành án.
Nhiều quy định pháp luật về cưỡng chế
kê biên, xử lý tài sản thi hành án dân sự hiện
hành được xây dựng chưa dựa trên cơ sở
khoa học, còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa
phù hợp với thực tiễn thi hành án1. Thực
tiễn công tác cưỡng chế kê biên, xử lý tài
sản thi hành án dân sự cũng cho thấy công
tác này chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Còn không ít số vụ việc bị tồn đọng, chuyển
T
của Toà án và quyết định của Trọng tài
thương mại cũng như của Hội đồng cạnh
tranh. Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt
động tố tụng, đảm bảo cho bản án, quyết
định của Toà án được chấp hành nghiêm
chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm
minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của các tổ chức, cá nhân và Nhà
nước, qua đó góp phần giữ vững ổn định
chính trị, xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu
quả của bộ máy nhà nước. Để hiện thực hoá
quyền và nghĩa vụ của các đương sự đã
được ghi nhận trong bản án, quyết định của
Toà án cũng như quyết định của cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền được thi hành theo
thủ tục thi hành án dân sự thì bên cạnh việc
thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành,
trong nhiều trường hợp phải áp dụng biện
* Tiến sĩ, Trưởng phòng Luật dân sự, Viện Nhà nước
và pháp luật
1ꢀ Lê Lanh (2015), Quan điểm khác nhau về vụ cưỡng
chế thi hành án dân sự, hꢁps://thads.moj.gov.vn/
daklak/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/
pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản thi View_Detail.aspx?ItemID=6
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 13
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN...
từ năm trước sang năm sau2, gây bức xúc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người
trong dư luận xã hội. Một số vụ án lớn chưa phải thi hành án
được cưỡng chế thi hành hiệu quả3. Một số
1.1. Khái niệm về cưỡng chế kê biên, xử lý
khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài, dư luận
xã hội quan tâm chưa được xử lý dứt điểm,
vẫn còn nhiều sai phạm trong cưỡng chế thi
hành án4. Nhiều vụ việc cưỡng chế kê biên,
xử lý tài sản thi hành án phải huy động lực
lượng lớn với chi phí rất tốn kém, kết quả
thi hành án trong nhiều vụ việc chưa thực
sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự5. Nhiều trường hợp người
phải thi hành án kiên quyết chống đối, để
cản trở cưỡng chế thi hành án6, tiêu huỷ tài
sản, chây ꢂ, tẩu tán tài sản. Từ thực trạng
pháp luật và thực tiễn nêu trên đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu sâu về cưỡng chế kê biên,
xử lý tài sản thi hành án dân sự, từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả thi hành án dân
sự ở nước ta hiện nay.
tài sản của người phải thi hành án
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện
pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực
của nhà nước buộc người phải thi hành
án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự
của họ, do Chấp hành viên áp dụng trong
trường hợp người phải thi hành án có điều
kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành
án. Có rất nhiều biện pháp cưỡng chế thi
hành án khác nhau, trong đó biện pháp kê
biên, xử lý tài sản của người phải thi hành
án là biện pháp được áp dụng nhiều nhất và
cũng là biện pháp cưỡng chế phức tạp nhất.
“Cưỡng chế” là “bắt buộc phải tuân theo
bằng sức mạnh quyền lực: tính chất cưỡng chế
của pháp luật”7; hoặc là “dꢁng quyền lực nhà
nước bắt buộc ngưꢀi khác phải tuân theo”8. Về
mặt thuật ngữ pháp lý, cưỡng chế là “những
biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải
thực hiện và phục tꢁng mệnh lệnh nhất định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”9. Như
vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm
cưỡng chế. Tuy nhiên, có thể thấy rằng nói
đến cưỡng chế là nói đến việc dùng quyền
lực nhà nước, áp đặt ý chí nhà nước đối với
tổ chức, cá nhân nhất định để buộc họ phải
thực hiện hoặc không được thực hiện công
việc nhất định theo ý chí của Nhà nước.
1. Những vấn đề chung về biện pháp
2ꢀ Bảo Yến - Nghĩa Đức (2019), Quốc hội nghe báo
cáo công tác thi hành án năm 2019, hꢁp://quochoi.
vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/
pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/
Lists/News&ItemID=42664; Hải Yến (2020), Chủ
động “kịch bản” thi hành những vụ án lớn, hꢁps://
pbgdpl.hanoi.gov.vn/tin-moi/-/asset_publisher/
sxBNLsQSLyY8/content/chu-ong-kich-ban-thi-hanh-
nhung-vu-an-lon
3ꢀ Thu Hằng (2019), Thi hành án tham nhũng, kinh tế
lớn gặp nhiều khó khăn, hꢁps://dangcongsan.vn/
phap-luat/thi-hanh-an-tham-nhung-kinh-te-lon-gap-
nhieu-kho-khan-519814.html
Khái niệm “kê biên tài sản” là “việc ghi
lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá huỷ để
đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”10. Kê
biên được hiểu là tạm thời cấm vận chuyển,
chuyển đổi, định đoạt hoặc dịch chuyển tài
4ꢀ Cẩm Tú (2020), Hoàn thiện công tác khiếu nại, tố cáo
trong thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh,
tintuc/Lists/HoatDongCuaCuc/View_Detail.
aspx?ItemID=270
7ꢀ Nguyễn Như Ý (chủ biên, 1998), Từ điển tiếng Việt,
5ꢀ Nguyễn Xuân Tùng (2017), Xử lý nghiêm những Trung tâm Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam, Bộ Giáo
trưꢀng hợp không chấp hành bản án, hꢁps://nhandan. dục và Đào tạo, Nxb Thông tin, tr.499.
com.vn/thoi-su-phap-luat/xu-ly-nghiem-nhung- 8ꢀ Viện Ngôn ngữ học (2001), Từ điển tiếng Việt, Nxb
truong-hop-khong-chap-hanh-ban-an-303125/
Thanh niên, tr.196.
6ꢀ Nguyễn Xuân Tùng (2017), Xử lý nghiêm những 9ꢀ Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa (1999),
trưꢀng hợp không chấp hành bản án, hꢁps://nhandan. Hà Nội, tr.323
com.vn/thoi-su-phap-luat/xu-ly-nghiem-nhung- 10ꢀ Từ điển thuật ngữ pháp lý thông dụng (1999), Nxb
truong-hop-khong-chap-hanh-ban-an-303125/
Thành phố Hồ Chí Minh.
14 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
DƯƠNG QUỲNH HOA
sản của người vi phạm pháp luật11. Điều có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện
này có nghĩa là khi kê biên một tài sản của thi hành. Tài sản bị kê biên, xử lý là tài sản của
người nào đó thì quyền sở hữu tài sản của ngưꢀi phải thi hành án. Ngưꢀi phải thi hành án
họ bị hạn chế, họ không được chuyển đổi, này có thể là cá nhân hoặc tổ chức đã được xác
chuyển dịch... tài sản bị kê biên đó. Theo định cụ thể trong bản án, quyết định của toà án
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, kê biên được đưa ra để thi hành.
tài sản là một biện pháp cưỡng chế nhằm
đảm bảo việc thi hành án hình sự, chỉ áp
dụng với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật
hình sự quy định12. Với định nghĩa này, kê
biên chỉ được hiểu trong lĩnh vực thi hành
án hình sự. Trên thực tế trong hoạt động
quản lý nhà nước, có một số cơ quan nhà
nước được trao quyền kê biên tài sản như
Toà án nhân dân và Cơ quan thi hành án
dân sự. Trong lĩnh vực thi hành án dân
sự, kê biên được hiểu là một trong những
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do
Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp
người phải thi hành án không tự nguyện
thi hành án. Vậy kê biên tài sản là một biện
pháp cưỡng chế do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo
cho việc thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với
các cá nhân, cơ quan, tổ chức xâm hại đến
tài sản của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân.
1.2.Đặc điểm của biện pháp kê biên,
xử lý tài sản của người phải thi hành án
dân sự
Thứ nhất, cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản
của người phải thi hành án dân sự thể hiện
quyền lực đặc biệt của Nhà nước và được
đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà
nước. Cưỡng chế thi hành án nói chung và
cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người
phải thi hành án dân sự nói riêng phải do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực
hiện. Người được thi hành án không được
tự mình dùng sức mạnh để buộc người thi
hành nghĩa vụ đã được xác định trong bản
án, quyết định của Toà án. Ở Việt Nam,
thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự
thuộc về các cơ quan thi hành án dân sự. Do
vậy, khi cần thiết phải thực hiện cưỡng chế
thì Chấp hành viên đại diện cho cơ quan thi
hành án dân sự là chủ thể có thẩm quyền ra
quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và
lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án
dân sự phù hợp. Tuy vậy, theo xu thế xã hội
hoá thi hành án dân sự, việc cưỡng chế thi
hành án dân sự cũng có thể giao cho chủ thể
khác không thuộc cơ quan thi hành án dân
sự thực hiện việc cưỡng chế.
Về khái niệm “xử lý tài sản thi hành án”,
đây được hiểu là “xử trí, giải quyết và chỉnh
lý, chỉ huy, xử lý thưꢀng vụ”13. Theo tác giả,
xử lý tài sản thi hành án là biện pháp giải
quyết đối với tài sản của người phải thi
hành án để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của người được nhận tài sản.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế kê biên, xử
lý tài sản của người phải thi hành án dân
sự được áp dụng trong trường hợp người
phải thi hành án không tự nguyện thi hành
án nhằm mục đích buộc họ phải thực hiện
nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Toà
án. Trong thi hành án dân sự, các đương sự
có quyền tự định đoạt nên Nhà nước luôn
khuyến khích các đương sự tự nguyện thi
hành án. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không
phải tất cả các bản án, quyết định của Toà
án sau khi có hiệu lực pháp luật đều được
người phải thi hành án tự nguyện thi hành.
Từ sự phân tích các khái niệm cơ sở trên,
có thể rút ra khái niệm cưỡng chế, kê biên,
xử lý tài sản của người phải thi hành án như
sau: Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của ngưꢀi
phải thi hành án là biện pháp do Chấp hành viên
áp dụng trong trưꢀng hợp ngưꢀi phải thi hành
án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định
11ꢀ Xem: http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/
lac-viet/all/k%C3%AA+bi%C3%AAn.html.
12ꢀ Xem Điều 128 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
13ꢀ Viện Ngôn ngữ (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nxb
Văn hóa - Thông tin, tr. 905
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 15
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN...
Trong những trường hợp như vậy, việc áp ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản14.
dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án
được xem là giải pháp cuối cùng và cần
thiết buộc người thi hành án phải thực
hiện nghĩa vụ thi hành án của họ, đảm bảo
quyền lợi chính đáng của người được thi
hành án và thể hiện sự nghiêm minh của
pháp luật trước thái độ không chấp hành án
của người phải thi hành án.
Thứ ba, đối tượng của biện pháp kê biên,
xử lý tài sản của người phải thi hành án dân
sự là tài sản của người phải thi hành án. Các
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
không nhằm mục đích trừng trị người phải
thi hành án mà chỉ nhằm buộc họ phải thực
hiện những nghĩa vụ dân sự của mình đối
với người được thi hành án.
2. Thực trạng cưỡng chế kê biên, xử lý
tài sản của người phải thi hành án ở Việt
Nam hiện nay
Thứ nhất, quy định về tài sản không được
kê biên, xử lý trong thi hành án dân sự chưa
rõ ràng
Điều 87 Luật Thi hành án dân sự đã quy
định về các trường hợp tài sản được kê biên,
xử lý để thi hành án. Tuy nhiên, điều luật
này cũng chưa quy định rõ thế nào là tài sản
bị cấm lưu thông theo quy định của pháp
luật. Ngoài ra, trên thực tế trong trường
hợp người phải thi hành án chỉ có một tài
sản duy nhất là nhà ở được xây dựng trên
đất của người khác hoặc trên đất lấn chiếm
hoặc tài sản là nhà ở được làm theo diện nhà
ở cho các đối tượng được ưu đãi, nhà tình
nghĩa, nhà tình thương… thì Chấp hành
viên thường không kê biên, nhưng Điều
87 Luật thi hành án dân sự và các văn bản
hướng dẫn thi hành không quy định đây là
trường hợp tài sản không được kê biên.
Nghiên cứu đối chiếu quy định tại Điều
44a và Điều 87 Luật thi hành án dân sự cho
thấy có sự bất cập. Điều 87 Luật Thi hành
án dân sự quy định tài sản không được kê
biên nhưng Điều 44a lại quy định về xác
định việc thi hành án chưa có điều kiện thi
hành có trường hợp “tài sản theo quy định
của pháp luật không được kê biên, xử lý để
thi hành án”. Một số điều khoản khác của
Luật thi hành án dân sự chỉ quy định chung
chung là “không kê biên” hoặc “chỉ kê biên
khi người có tài sản đồng ý”. Vì vậy, rất khó
cho Chấp hành viên khi xác định trường
hợp nào không được kê biên, trường hợp
nào không được xử lý hoặc nếu người có
quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản của
người phải thi hành án không đồng ý kê
biên thì có được kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án gắn liền với quyền
sử dụng đất của người khác hay không.
Điều này dẫn đến việc xác định và ra quyết
1.3. Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng
chế kê biên, xử lý tài sản
Thứ nhất, người phải thi hành án phải
thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho người được
thi hành án theo bản án, quyết định được
đưa ra thi hành. Nghĩa vụ thanh toán tiền
của người phải thi hành án được ấn định
trong bản án, quyết định của Toà án, của tổ
chức trọng tài thương mại hoặc Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh được biểu hiện ở
các dạng như bồi thường do làm mất, làm
hỏng tài sản, bồi thường do xâm phạm tính
mạng, sức khoꢃ, thanh toán tiền theo hợp
đồng, thanh toán nợ...
Thứ hai, người phải thi hành án có tài
sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người
được thi hành án. Tài sản bị kê biên phải
thuộc sở hữu của người phải thi hành án,
bao gồm tài sản thuộc sở hữu riêng của
người phải thi hành án và tài sản thuộc sở
hữu chung của người phải thi hành án với
người khác. Những tài sản này có thể đang
do người phải thi hành án hoặc người thứ
ba quản lý, sử dụng.
Thứ ba, đã hết thời hạn tự nguyện do
Chấp hành viên ấn định nhưng người phải
thi hành án không tự nguyện thi hành hoặc
chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần 14ꢀ Điều 45 Luật thi hành án dân sự năm 2014.
16 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
DƯƠNG QUỲNH HOA
định về việc chưa có điều kiện thi hành án nằm trên đất của người khác thì việc định
khó khăn và thiếu chính xác.15
Thứ hai, pháp luật thi hành án dân sự hiện
hành còn thiếu cơ chế xử lý tài sản gắn với
quyền sử dụng đất của ngưꢀi khác
giá, bán đấu giá tài sản lại càng gặp nhiều
khó khăn do tâm lý e ngại của người mua16.
Hơn nữa, nếu phải kê biên nhà của
người phải thi hành án trên đất của người
khác thì việc xử lý như thế nào pháp luật
cũng chưa xác định rõ ràng. Vấn đề là việc
kê biên nhà trên đất là để bán đấu giá vật
liệu trên đất hay định giá để buộc người có
quyền sử dụng đất phải mua lại nhà trên
đất? Như vậy, quy định này gây ra nhiều
khó khăn trong thực tiễn thi hành án khi
người phải thi hành án có tài sản là căn nhà
mà không có tài sản là quyền sử dụng đất
và người có quyền sử dụng đất không đồng
ý kê biên quyền sử dụng đất. Điều này làm
hạn chế rất nhiều hiệu quả thi hành án dân
sự, việc thi hành án dân sự tồn đọng kéo dài
do không thể cưỡng chế thi hành án dân sự
đối với tài sản đó17.
Điều 95 Luật thi hành án dân sự năm
2014 quy định “1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở
duy nhất của ngưꢀi phải thi hành án và gia đình
chỉ được thực hiện sau khi xác định ngưꢀi đó
không có các tài sản khác hoặc có nhưng không
đủ để thi hành án, trừ trưꢀng hợp ngưꢀi phải thi
hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án. 2.
Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng
đất gắn liền với nhà ở. Trưꢀng hợp nhà ở gắn
liền với đất thuộc quyền sử dụng của ngưꢀi khác
thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử
dụng đất để thi hành án nếu ngưꢀi có quyền sử
dụng đất đồng ý. Trưꢀng hợp ngưꢀi có quyền
sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà
ở của ngưꢀi phải thi hành án, nếu việc tách rꢀi
nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn
nhà”. Như vậy, Chấp hành viên chỉ có thể
kê biên nhà ở trong các trường hợp sau đây:
Một là, nhà ở gắn liền với quyền sử dụng
đất thuộc quyền sử dụng của người phải thi
hành án. Hai là, nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất thuộc quyền sử dụng của người
khác và người này đồng ý kê biên, xử lý tài
sản là nhà ở để bảo đảm thi hành án. Nếu
người có quyền sử dụng đất không đồng ý
thì Chấp hành viên không thể kê biên được
vì cho đến thời điểm hiện tại chưa có văn
bản nào hướng dẫn cụ thể căn cứ vào tiêu
chí nào để xác định, định lượng việc tách
rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể
giá trị căn nhà. Trong khi đó, giá trị căn nhà
phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm cả sự
biến động của giá cả thị trường bất động
sản trước và sau kê biên. Mặt khác, tài sản
thi hành án vốn là một loại tài sản rất khó
lưu thông và giao dịch trên thị trường, đặc
biệt trong trường hợp tài sản là nhà ở lại
Thứ ba, pháp luật hiện hành không có quy
định cụ thể về diện tích đất để lại cho ngưꢀi phải
thi hành án khi kê biên quyền sử dụng đất
Điều 87 Luật Thi hành án dân sự quy
định về nguyên tắc khi kê biên tài sản phải
theo hướng bảo vệ tuyệt đối quyền lợi của
người được thi hành án; do vậy, Luật không
quy định về diện tích đất nông nghiệp cần
để lại cho người phải thi hành án. Thực tế
cho thấy việc kê biên quyền sử dụng đất
nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản hoặc đất làm muối mà người phải thi
hành án là người trực tiếp lao động sản
xuất, nguồn sống chủ yếu của họ là thu
nhập có được từ hoạt động sản xuất đó
và không còn bất kꢂ một tài sản nào hoặc
thu nhập nào khác thì cưỡng chế kê biên,
xử lý quyền sử dụng đất đó để thi hành án
sꢄ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống
của người phải thi hành án, đến tình hình
16ꢀ Bảo Ngọc (2020), Khó khăn trong cưỡng chế kê
biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, hꢁps://thads.
15ꢀ Lê Anh Tuấn (2017), Một số vấn đề lý luận và thực moj.gov.vn/tuyenquang/noidung/tintuc/lists/
tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam, Luận án nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=147
tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 77-78 17ꢀ Lê Anh Tuấn (2017), tlđd, tr. 91
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 17
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN...
an ninh, xã hội. Chính vì thế, có nơi, chính
b) Trưꢀng hợp ngưꢀi phải thi hành án là hộ
quyền địa phương không đồng tình ủng hộ gia đình thì diện tích đất để lại cho hộ gia đình
mà đề nghị cơ quan thi hành án dân sự xem
xét để lại cho người phải thi hành án một
diện tích đất đủ để họ có thể sản xuất, sinh
sống vì địa phương không còn quỹ đất nào
để cấp cho họ nữa, nhưng nếu để lại phần
diện tích đất cho người phải thi hành án thì
không đủ để đảm bảo thi hành án và chi phí
cưỡng chế thi hành án dân sự18.
đó là tổng diện tích đất để lại của các thành
viên hộ gia đình quy định tại điểm a khoản 2
Điều này”.
Hiện nay, Luật thi hành án dân sự năm
2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành
không còn quy định như trên nữa nên Chấp
hành viên không thể để lại đất cho người
phải thi hành án. Do đó, việc kê biên, xử
lý tài sản của người phải thi hành án trong
trường hợp này rất khó khăn cho dù việc
cưỡng chế thành công.
Trước đây, Điều 4 Nghị định số 164/
NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ về
kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm
bảo thi hành án quy định: “1. Trưꢀng hợp
ngưꢀi phải thi hành án là ngưꢀi trực tiếp lao
động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản, làm muối, mà nguồn sống chủ yếu của họ
là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất
đó và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất
được kê biên xác nhận thì khi kê biên, Chấp
hành viên phải để lại cho ngưꢀi phải thi hành
án diện tích nhất định đất trồng cây hàng năm,
đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất
làm muối, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất nông
nghiệp khác để sản xuất, trừ trưꢀng hợp ngưꢀi
phải thi hành án đồng ý kê biên, đấu giá toàn
bộ quyền sử dụng đất đó. 2. Diện tích đất để lại
cho ngưꢀi phải thi hành án quy định tại khoản
1 Điều này được quyết định trên cơ sở mức
lương thực thu nhập bình quân của một ngưꢀi
trong năm năm gần nhất ở địa phương theo các
điều kiện cụ thể sau đây:
a) Trưꢀng hợp ngưꢀi phải thi hành án là cá
nhân hoặc thành viên hộ gia đình thì diện tích
đất để lại là diện tích đất bình quân cho từng
nhân khẩu trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại địa
bàn cấp xã đủ bảo đảm cho họ sản xuất để có
lương thực sinh sống trong sáu tháng đối với
ngưꢀi sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất
làm muối; trong mưꢀi hai tháng đối với ngưꢀi
sử dụng đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản
xuất, đất nuôi trồng thuỷ sản hoặc đất nông
nghiệp khác;
Thứ tư, xác định quyền sở hữu, quyền sử
dụng của ngưꢀi phải thi hành án trong khối tài
sản chung
Việc kê biên tài sản thuộc sở hữu chung
được quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án
dân sự. Theo đó, việc kê biên tài sản thuộc sở
hữu chung của người phải thi hành án với
người khác có hai trường hợp: (i) Trường
hợp chưa xác định được phần sở hữu của
các đồng sở hữu chủ và (ii) Trường hợp đã
xác định được phần sở hữu của các đồng sở
hữu chủ.
Trường hợp chưa xác định được phần
quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng
đất của người phải thi hành án trong khối
tài sản chung để thi hành án thì khoản 1
Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014
quy định: “Chấp hành viên phải thông báo
cho ngưꢀi phải thi hành án và những ngưꢀi có
quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử
dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài
sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo
thủ tục tố tụng dân sự. [...] Chấp hành viên
thông báo cho ngưꢀi được thi hành án có quyền
yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài
sản, phần quyền sử dụng đất của ngưꢀi phải
thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ
tục tố tụng dân sự... Chấp hành viên yêu cầu
Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản,
phần quyền sử dụng đất của ngưꢀi phải thi
hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục
tố tụng dân sự”. Như vậy, theo quy định
18ꢀ Lê Anh Tuấn (2017), tlđd, tr. 88
18 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
DƯƠNG QUỲNH HOA
này, đối với tài sản chung thì để xác định chế, kê biên xử lý tài sản của người phải
phần tài sản của người phải thi hành án, thi hành án trong khối tài sản chung
cần phải khởi kiện ra Tòa án để phân chia, vợ, chồng thì bị khiếu nại cho rằng
mà không phân biệt tài sản chung với ai.
Trường hợp này, Chấp hành viên phải
thực hiện theo thủ tục trên, Luật không cho
phép Chấp hành viên tự phân chia và tự
xác định phần quyền sở hữu, phần quyền
sử dụng đất của người phải thi hành án
trong khối tài sản chung mà bắt buộc Chấp
hành viên phải yêu cầu Tòa án xác định.
Sau khi có kết quả giải quyết của Tòa án,
Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết
định của Tòa án.
việc Chấp hành viên áp dụng khoản 2
Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP
mà không không áp dụng khoản 1 Điều 74
Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để kê
biên, xử lý tài sản là xâm phạm đến quyền
sở hữu tài sản của người khác. Trường hợp
khác, khi Chấp hành viên áp dụng khoản
1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự để khởi
kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu
tài sản của người phải thi hành án trong
khối tài sản chung của vợ, chồng, hộ gia
đình thì Tòa án cho rằng Chấp hành viên
không có quyền yêu cầu Tòa án xác định
phần sở hữu mà phải tự mình xác định
phần sở hữu và xử lý tài sản của người
phải thi hành án theo quy định tại điểm
c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/
NĐ-CP. Cùng một vấn đề nhưng khoản 1
Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014
quy định cách xử lý khác với điểm c khoản
2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
Vậy vấn đề đặt ra là việc xác định quyền
sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi
hành án trong khối tài sản chung của vợ
chồng hoặc tài sản chung của hộ gia đình
theo quy định tại Điều 74 Luật thi hành án
dân sự hay theo điểm c khoản 2 Điều 24
của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP?
Để giải quyết vướng mắc này, khoản 2
Điều 24 Văn bản hợp nhất số 1357/VBHN-
BTP ngày 14/4/2020 hợp nhất nghị định quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật thi hành án dân sự quy định
trường hợp người phải thi hành án có chung
tài sản với người khác mà đã xác định được
phần tài sản, quyền tài sản của từng người
thì Chấp hành viên kê biên phần tài sản,
quyền tài sản của người phải thi hành án để
thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều
74 Luật Thi hành án dân sự; trường hợp
Trong khi đó, theo điểm c khoản 2
Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 18/7/2015 quy định chi
tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi
hành án dân sự năm 2014 thì đối với tài
sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung
của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định
phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định
của pháp luật về hôn nhân và gia đình và
thông báo cho vợ, chồng biết. Đối với tài
sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng
đất chung của hộ gia đình thì chấp hành
viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo
số lượng thành viên của hộ gia đình tại
thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản,
thời điểm được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất,
nhận chuyển quyền sử dụng đất. Như vậy,
khác với khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành
án dân sự, theo điểm c khoản 2 Điều 24
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Chấp hành
viên có quyền tự mình phân chia phần cho
vợ, chồng hoặc các thành viên trong hộ gia
đình theo quy định. Trường hợp họ không
đồng ý với việc phân chia của Chấp hành
viên nhưng quá thời hạn quy định mà họ
không khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia,
thì Chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng
chế, kê biên, xử lý tài sản để thi hành án.
Thực tiễn cho thấy, khi Chấp hành chưa xác định được phần quyền của người
viên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 24 phải thi hành án thì thực hiện theo quy định
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để cưỡng tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự,
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 19
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN...
trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản của người thi hành án hoặc người có tài sản
này. Hơn nữa, cơ quan thi hành án dân sự gắn với quyền sử dụng đất của người phải
chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là thi hành án được quyền thoả thuận mua
quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất khi các tài sản khác không
đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của
đương sự theo quy định tại khoản 4 Điều 24
Văn bản hợp nhất này.
3. Hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế
kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án ở Việt Nam
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy
định của Luật Thi hành án dân sự và một
số văn bản pháp luật liên quan, tác giả đưa
ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật về cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, sửa đổi bổ sung quy định về
tài sản không được kê biên được quy định tại
Điều 87 Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Để thống nhất cách hiểu kê biên tài sản là
để xử lý đảm bảo thi hành án chứ không
phải là tài sản không được kê biên nhưng
lại được xử lý để thi hành án hay tài sản
được kê biên nhưng lại không được xử lý
để thi hành án, cần sửa đổi cụm từ “tài
sản không được kê biên, xử lý để thi hành
án” thay cho “tài sản không được kê biên”
được quy định tại Điều 87 Luật Thi hành
án dân sự.
Thứ hai, về cơ chế xử lý tài sản kê biên là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền
sử dụng đất. Nghiên cứu sửa đổi thống nhất
quy định của Điều 110 với các quy định của
Luật đất đai năm 2013, quy định Chấp hành
viên có quyền kê biên tài sản là quyền sử
dụng đất để thi hành án thuộc các trường
hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất theo quy định của
pháp luật về đất đai. Cần có quy định cụ
thể, rõ ràng việc kê biên nhà của người phải
quyền sử dụng đất hoặc tài sản của người
phải thi hành án. Trong trường hợp các bên
không thoả thuận được thì có thể yêu cầu
Toà án giải quyết.
Thứ ba, về việc để lại quyền sử dụng đất
cho ngưꢀi phải thi hành án. Quy định cụ thể
về kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng
đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình trực
tiếp sản xuất nông nghiệp, làm muối, nuôi
trồng thuỷ sản, trồng lúa nước theo hướng
để lại cho người phải thi hành án là người
trực tiếp lao động, chỉ có nguồn thu nhập từ
sản xuất nông nghiệp, làm muối, nuôi trồng
thuỷ sản, trồng lúa nước một diện tích đất
nhất định để sản xuất có lương thực sinh
sống trong thời gian 06 tháng đến 01 năm.
4. Kết luận
Khi quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự bị xâm phạm, bên cạnh việc xét
xử kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật
của Toà án thì các phán quyết của Toà án
cũng sꢄ phải được thi hành nghiêm chỉnh,
nhanh chóng thì mới có thể bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương
sự. Các biện pháp cưỡng chế, kê biên thi
hành án đóng một vai trò quan trọng trong
việc đảm bảo hiệu lực thi hành của bản
án, quyết định về tài sản. Tuy nhiên, trong
thực tiễn áp dụng cưỡng chế, kê biên để thi
hành án cho thấy, các quy định hiện hành
còn có những bất cập, hạn chế nhất định,
còn chồng chéo, mâu thuẫn với một số văn
bản khác. Một số còn thiếu rõ ràng, cụ thể,
chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự. Để có thể khắc
phục những bất cập đó, cần thiết phải có
những sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án và
thi hành án trên đất của người khác. Theo các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm tăng
chúng tôi, cần có quy định theo hướng tạo hiệu quả cưỡng chế thi hành án dân sự trên
điều kiện cho người có đất gắn với tài sản thực tế./.
20 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_van_de_ve_cuong_che_ke_bien_xu_ly_tai_san_cua_nguoi_p.pdf

