Xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động chào bán trái phiếu của doanh nghiệp

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI  
HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP  
Phan Phương Nam*  
*TS. Phó Trưởng Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trái phiếu đã và đang chứng minh là một trong các kênh huy động vốn  
hiệu quả cho doanh nghiệp. Các quy định của pháp luật về hoạt động này  
cũng đã có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và  
đảm bảo sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên,  
không phải doanh nghiệp nào cũng tuân thủ theo đúng các quy định của  
pháp luật nên các chế tài đã được thiết lập nhằm xử lý các hoạt động vi  
phạm pháp luật về vấn đề này. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình  
bày, phân tích các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính  
đối với hoạt động chào bán trái phiếu của doanh nghiệp và đề xuất kiến  
nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Trái phiếu, xử phạt vi  
phạm hành chính, chào bán trái  
phiếu doanh nghiệp.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 08/3/2021  
: 17/3/2021  
: 19/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Corporate bond offerings have proven to be one of the effective capital  
mobilization channels for firms. Accordingly, the legal provisions on  
these activities have also amended many times to meet the needs of  
firms and ensure the stable development of the stock market. However,  
the businesses all unlikely comply with the legal regulations, so the  
sanctions are given to handle activities violating the law on inevitable.  
This article studies the inadequacies and gives recommendations to  
improve the legal regulations on sanctioning of administrative violations  
for the corporate bond offering.  
Keywords: Bonds, sanctioning  
administrative  
violations,  
corporate bond offerings.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 08 Mar. 2021  
: 17 Mar. 2021  
: 19 Mar. 2021  
Approved  
Trong năm 2019, quy mô của thị trường  
trái phiếu doanh nghiệp có sự tăng trưởng  
mạnh so với các năm trước, tăng khoảng  
31,2% so với năm 2018, đạt khoảng 10,85%  
GDP năm 20191. Sự tăng trưởng này xuất  
phát từ những ưu điểm của hoạt động huy  
động vốn thông qua kênh trái phiếu so với  
các kênh huy động vốn khác. Qua đó, các  
doanh nghiệp ngày càng có nhu cầu phát  
hành trái phiếu để mở rộng sản xuất kinh  
doanh làm cho thị trường trái phiếu doanh  
nghiệp có rất nhiều tiềm năng để phát triển2.  
Tuy nhiên, quá trình phát triển thị trường  
trái phiếu doanh nghiệp đã và đang bộc lộ  
một số vấn đề như: quy mô của thị trường  
nhỏ, thị trường thứ cấp chưa phát triển,  
1 Diệu Thiện, “Thị trường trái phiếu Việt Nam trên đà phát triển nhanh, bền vững”, http://thoibaotaichinhviet-  
nam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2020-11-09/thi-truong-trai-phieu-viet-nam-tren-da-phat-trien-nhanh-ben-  
vung-94840.aspx, truy cập ngày 31/01/2021.  
2 Đỗ Doãn, “Thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển”, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/  
tien-te-bao-hiem/2020-11-11/thuc-day-thi-truong-trai-phieu-doanh-nghiep-phat-trien-95015.aspx, truy cập  
ngày 01/02/2021.  
Số 06(430) - T3/2021  
35  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
thanh khoản của trái phiếu doanh nghiệp  
còn thấp, tính công khai minh bạch còn  
hạn chế… Bên cạnh đó, mặc dù Nghị định  
số 156/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của  
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành  
chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị  
trường chứng khoán (Nghị định số 156)  
được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện  
các nội dung xử phạt vi phạm hành chính  
trong lĩnh vực này, nhưng một số quy định  
của Nghị định này vẫn còn bất cập, chưa tạo  
điều kiện cho thị trường trái phiếu doanh  
nghiệp phát triển.  
nhau” như là một cách biểu hiện rằng hai  
thuật ngữ này là một.  
Thứ hai, các quy định về xử phạt đối với  
hành vi vi phạm trong hoạt động chào bán  
chứng khoán riêng lẻ còn nhiều bất cập và  
chưa bao quát toàn bộ các hành vi vi phạm  
trong lĩnh vực này. Điều này thể hiện ở các  
nội dung sau:  
Một là, pháp luật hiện hành chưa quy  
định về chế tài đối với hành vi vi phạm  
của tổ chức tư vấn về hồ sơ chào bán trái  
phiếu. Điểm d khoản 1 Điều 10 Nghị định  
số 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành  
trái phiếu doanh nghiệp (Nghị định số 163)  
được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1  
Nghị định số 81/2020/NĐ-CP quy định,  
doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ  
phải “ký hợp đồng tư vấn với tổ chức tư vấn  
về hồ sơ phát hành trái phiếu”. Tuy nhiên,  
trường hợp tổ chức tư vấn về hồ sơ phát  
hành trái phiếu có hành vi vi phạm (tư vấn  
sai cho tổ chức phát hành, hỗ trợ tổ chức  
phát hành đưa ra các thông tin trong hồ sơ  
đăng ký…) thì chưa có quy định về biện  
pháp chế tài đối với chủ thể này. Có thể có  
ý kiến cho rằng, việc quy định chế tài là  
không cần thiết vì tổ chức này sẽ phải chịu  
các trách nhiệm tài chính theo hợp đồng đã  
ký với doanh nghiệp phát hành trái phiếu  
và đồng thời chịu chế tài quy định tại điểm  
a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 1563. Tuy  
nhiên, chúng tôi cho rằng, điểm a khoản  
3 Điều 8 Nghị định số 156 quy định xử lý  
đối với doanh nghiệp lập hồ sơ chào bán  
trái phiếu riêng lẻ mà không quy định để  
1. Những hạn chế, bất cập trong quy định  
về xử phạt đối với hoạt động chào bán  
chứng khoán của doanh nghiệp  
Thứ nhất, văn bản pháp luật quy định  
về xử phạt trong hoạt động chào bán trái  
phiếu của doanh nghiệp chưa nhất quán  
trong việc sử dụng thuật ngữ “chào bán” và  
“phát hành”. Có thể nói, bắt đầu từ Luật CK  
năm 2006, các văn bản pháp luật đã có sự  
thống nhất sử dụng thuật ngữ “chào bán”  
khi nói về hoạt động huy động vốn của tổ  
chức phát hành thông qua thị trường chứng  
khoán (TTCK); còn thuật ngữ “phát hành”  
được sử dụng gắn liền với “tổ chức” để chỉ  
về chủ thể thực hiện hoạt động huy động  
vốn trên TTCK. Tuy nhiên, Luật CK năm  
2019 và Nghị định số 156 đã không nhất  
quán khi sử dụng các thuật ngữ này. Cụ thể,  
tại khoản 21 Điều 4, khoản 6 Điều 31, điểm  
b, d khoản 3 Điều 36, điểm d khoản 2 Điều  
120 Luật CK năm 2019, Điều 1, 2, 3, 4, 6  
và Điều 8 Nghị định số 156, các thuật ngữ  
“chào bán” và “phát hành” lại “đi chung với  
3
Điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP quy định: “3. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến  
150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:  
a) Không sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký chào bán, phát hành chứng khoán riêng lẻ khi phát hiện thông tin  
không chính xác hoặc bỏ sót nội dung theo quy định phải có trong hồ sơ hoặc khi phát sinh thông tin liên quan  
đến hồ sơ đã nộp hoặc hồ sơ đã trình tổ chức, cá nhân có thẩm quyền”.  
36  
Số 06(430) - T3/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
áp dụng cho tổ chức tư vấn. Ngoài ra, vấn  
đề trách nhiệm tài chính của tổ chức tư vấn  
với doanh nghiệp phát hành trái phiếu thực  
chất chỉ là sự thỏa thuận giữa các bên. Tuy  
nhiên, nếu tổ chức tư vấn hồ sơ vi phạm  
sẽ làm ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động  
huy động vốn của doanh nghiệp phát hành  
trái phiếu, mà còn ảnh hưởng chung đến sự  
phát triển của TTCK sơ cấp nói chung. Vì  
vậy, cần áp dụng biện pháp chế tài đối với  
hành vi vi phạm của tổ chức tư vấn về hồ sơ  
chào bán trái phiếu nhằm phòng ngừa hành  
vi vi phạm có thể xảy ra trong tương lai.  
Theo đó, tác giả cho rằng, cần bổ sung hành  
vi vi phạm này thành một điểm trong khoản  
2 Điều 10 Nghị định số 156, vì hành vi này  
có mức vi phạm gần tương đương với hành  
vi được quy định tại điểm c khoản 2 Điều  
10 của Nghị định này4.  
Ba là, quy định xử lý hành vi vi phạm  
trong hoạt động đăng ký, lưu ký trái phiếu  
chào bán, phát hành riêng lẻ là chưa hợp  
lý. Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 163 quy  
định: “Trong vòng 10 ngày làm việc sau khi  
kết thúc đợt phát hành, trái phiếu doanh  
nghiệp phải được đăng ký, lưu ký tại tổ  
chức lưu ký được phép để quản lý số lượng  
nhà đầu tư theo quy định ...”. Quy định này  
cho thấy, việc đăng ký, lưu ký trái phiếu là  
trách nhiệm của doanh nghiệp phát hành trái  
phiếu. Bên cạnh đó, điểm đ khoản 2 Điều 8  
Nghị định số 156 quy định: “Phạt tiền từ  
70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối  
với một trong các hành vi vi phạm sau:…đ)  
Không thực hiện đăng ký, lưu ký trái phiếu  
chào bán, phát hành riêng lẻ hoặc thực  
hiện đăng ký, lưu ký trái phiếu chào bán,  
phát hành riêng lẻ không đúng thời hạn  
theo quy định”. Tuy nhiên, hai hành vi nêu  
trên vi phạm với các mức độ khác nhau, so  
với hành vi “thực hiện đăng ký, lưu ký trái  
phiếu chào bán, phát hành riêng lẻ không  
đúng thời hạn theo quy định”, hành vi  
“không thực hiện đăng ký, lưu ký trái phiếu  
chào bán, phát hành riêng lẻ” là nguy hiểm,  
nghiêm trọng và ảnh hưởng rất lớn đến nhà  
đầu tư. Do vậy, việc xử lý chung một mức  
đối với hai hành vi vi phạm này là điều hoàn  
toàn không hợp lý.  
Hai là, pháp luật hiện hành chưa quy  
định chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa  
vụ liên quan đến báo cáo tiến độ sử dụng  
vốn sau chào bán CK. Điểm a khoản 1  
Điều 9 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP quy  
định: “Định kỳ 06 tháng kể từ ngày kết thúc  
đợt chào bán, ngày kết thúc đợt phát hành  
cho đến khi giải ngân hết số tiền huy động  
được, tổ chức phát hành phải báo cáo Ủy  
ban Chứng khoán Nhà nước về tiến độ sử  
dụng vốn, số tiền thu được từ đợt chào bán,  
đợt phát hành để thực hiện dự án…”. Đây  
là nghĩa vụ mà tổ chức phát hành CK phải  
tuân thủ. Tuy nhiên, Nghị định số 156 lại  
không có quy định xử phạt đối với hành vi  
này. Tác giả cho rằng, cần phải có chế tài  
xử lý hành vi này vì nó đã và đang làm ảnh  
hưởng đến tính công khai, minh bạch của  
thị trường. Khi tổ chức phát hành CK thực  
hiện nghiêm túc nghĩa vụ công bố thông  
tin và báo cáo cho Uỷ ban Chứng khoán  
Nhà nước (UBCKNN) sẽ giảm thiểu được  
những sai phạm, giúp UBCKNN có biện  
pháp xử lý kịp thời những sai phạm nếu có,  
góp phần bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.  
Thứ ba, bất cập trong quy định về xử  
phạt vi phạm hành chính đối với các hoạt  
4 Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP thì hai hành vi này được quy định liên tiếp nhau.  
Số 06(430) - T3/2021  
37  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
động chào trái phiếu ra công chúng. Cụ thể  
như sau:  
HĐQT hoặc Hội đồng thành viên (HĐTV)  
hoặc chủ sở hữu công ty thông qua”. Tuy  
nhiên, theo nguyên lý chủ thể nào thông  
qua thì chủ thể đó được quyền thay đổi  
quyết định của mình, nếu chủ thể thông qua  
nội dung trên (ĐHĐCĐ hoặc HĐQT hoặc  
HĐTV hoặc Chủ sở hữu) là cơ quan nào thì  
cơ quan đó được quyền thay đổi. Do vậy,  
việc xác định chỉ có ĐHĐCĐ (hoặc HĐQT  
trong trường hợp chào bán trái phiếu không  
chuyển đổi, không kèm chứng quyền theo  
phương án được HĐQT thông qua) mới  
có thẩm quyền này và những việc thay đổi  
mục đích hoặc phương án sử dụng do các  
cơ quan khác quyết định đều sai là không  
chính xác, mâu thuẫn với nội dung quy định  
của Điều 15 Luật CK năm 2019.  
Một là, quy định về xử lý đối với hành vi  
thay đổi mục đích hoặc phương án sử dụng  
số tiền thu được từ đợt chào bán trái phiếu  
ra công chúng là chưa hợp lý. Điểm b khoản  
4 Điều 10 Nghị định số 156 quy định: “Phạt  
tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000  
đồng đối với một trong các hành vi vi phạm  
sau:…b) Thay đổi mục đích hoặc phương  
án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán  
chứng khoán ra công chúng nhưng không  
thông qua Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)  
hoặc khi chưa được ĐHĐCĐ ủy quyền thực  
hiện hoặc thay đổi phương án sử dụng số  
tiền thu được từ đợt chào bán chứng khoán  
ra công chúng với giá trị thay đổi từ 50%  
trở lên số tiền thu được từ đợt chào bán,  
trừ trường hợp chào bán trái phiếu không  
chuyển đổi, không kèm chứng quyền theo  
phương án được Hội đồng quản trị (HĐQT)  
thông qua; sử dụng số tiền thu được từ  
đợt chào bán chứng khoán ra công chúng  
không đúng với mục đích, phương án đã  
được ĐHĐCĐ thông qua hoặc nội dung đã  
công bố thông tin cho nhà đầu tư hoặc nội  
dung đã báo cáo UBCKNN”. Tuy nhiên,  
chứng khoán được chào bán ra công chúng  
không chỉ là cổ phiếu mà còn có các loại  
chứng khoán khác như trái phiếu, chứng chỉ  
quỹ đầu tư. Quy định trên chỉ phù hợp với  
việc chào bán cổ phiếu ra công chúng mà  
không phù hợp với hoạt động chào bán trái  
phiếu ra công chúng. Bởi vì, theo quy định  
của điểm c khoản 3 Điều 15 Luật CK năm  
2019, một trong các điều kiện chào bán trái  
phiếu ra công chúng là: “có phương án phát  
hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu  
được từ đợt chào bán được ĐHĐCĐ hoặc  
Hai là, quy định về biện pháp khắc phục  
hậu quả khi vi phạm trong hoạt động phát  
hành trái phiếu ra công chúng là chưa hợp  
lý. Theo điểm a, b khoản 5 Điều 9 Nghị định  
số 156 xác định biện pháp khắc phục hậu  
quả đối với các hành vi vi phạm trong hoạt  
động chào bán trái phiếu ra công chúng là,  
“hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng  
khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm  
tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ  
hạn của ngân hàng mà tổ chức, cá nhân  
vi phạm mở tài khoản thu tiền mua chứng  
khoán hoặc tiền đặt cọc tại thời điểm quyết  
định áp dụng biện pháp này có hiệu lực thi  
hành”. Tuy nhiên, khi so sánh quy định này  
với quy định xử lý đối với hoạt động chào  
bán chứng khoán riêng lẻ thì thấy hai quy  
định này có độ “vênh” nhất định. Bởi lẽ, khi  
quy định xử lý hành vi tương tự trong hoạt  
động chào bán chứng khoán riêng lẻ thì tổ  
chức phát hành phải “hoàn trả cho nhà đầu  
tư tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc  
38  
Số 06(430) - T3/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
(nếu có) cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất  
ghi trên trái phiếu hoặc lãi suất tiền gửi  
không kỳ hạn của ngân hàng mà tổ chức,  
cá nhân vi phạm mở tài khoản thu tiền mua  
chứng khoán hoặc tiền đặt cọc”5. Việc xác  
định biện pháp khắc phục hậu quả đối với  
các hành vi vi phạm trong hoạt động chào  
bán trái phiếu riêng lẻ có quy định rằng có  
thể “cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất ghi  
trên trái phiếu” bên cạnh lãi suất tiền gửi  
không kỳ hạn sẽ là hợp lý hơn so với việc  
xác định biện pháp khắc phục hậu quả đối  
với các hành vi vi phạm trong hoạt động  
chào bán trái phiếu ra công chúng. Vì trái  
phiếu là chứng khoán nợ nên có thể trên trái  
phiếu đã ghi rõ lãi suất phải trả và do tổ  
chức phát hành đã có hành vi vi phạm làm  
mất cơ hội đầu tư của nhà đầu tư nên có  
trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại tương  
ứng là điều hợp lý. Do đó, việc không có  
ghi nhận trong quy định xử lý đối với hành  
vi vi phạm trong hoạt động chào bán chứng  
khoán ra công chúng nội dung này là chưa  
hợp lý và chưa thuyết phục. Vì vậy, quy  
định này cần phải được sửa đổi để đảm bảo  
sự phù hợp, bình đẳng trong việc xử lý các  
hành vi vi phạm.  
“phát hành” (như tổ chức phát hành). Điều  
này vừa đảm bảo tính nhất quán, rành mạch,  
rõ ràng trong quy định còn góp phần nâng  
cao giá trị các quy định của pháp luật.  
Thứ hai, hoàn thiện quy định về xử phạt  
đối với hành vi vi phạm trong hoạt động  
chào bán chứng khoán riêng lẻ. Cụ thể:  
Một là, hoàn thiện quy định hành vi vi  
phạm của tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành  
trái phiếu. Theo tác giả, cần bổ sung quy  
định về xử phạt vi phạm hành chính với  
những yêu cầu sau về vấn đề này:  
i) Quy định mức xử phạt tiền cụ thể với  
hành vi vi phạm này. Theo đó, mức xử phạt  
hành vi vi phạm này sẽ tương ứng với hành  
vi vi phạm được xác định tại khoản 3 Điều 8  
Nghị định số 156/2020/NĐ-CP vì tính chất  
và mức độ ảnh hưởng của hành vi vi phạm  
đến TTCK và nhà đầu tư là tương đương  
với các hành vi vi phạm được quy định tại  
khoản này.  
ii) Bổ sung thêm hình phạt bổ sung đối  
với tổ chức tư vấn vi phạm. Theo đó, bổ  
sung hình phạt bổ sung cấm thực hiện hoạt  
động này trong thời gian nhất định (có thể  
từ 3 đến 6 tháng). Quy định trên được đưa  
ra nhằm đảm bảo các công ty thực hiện tư  
vấn càng phải thận trọng, thực hiện hoạt  
động công việc một cách có trách nhiệm  
hơn vì nếu không thì không chỉ họ bị phạt  
tiền mà còn bị cấm hoạt động càng làm ảnh  
hưởng đến tài chính của họ.  
2. Kiến nghị hoàn thiện  
Thứ nhất, cần nhất quán sử dụng thuật  
ngữ “chào bán” và “phát hành” trong các  
văn bản về xử phạt vi phạm hành chính  
trong lĩnh vực TTCK nói riêng và văn bản  
pháp luật quy định về TTCK nói chung.  
Theo đó, khi nào nói về hoạt động này với tư  
cách là hoạt động huy động vốn của chủ thể  
cần vốn thì dùng từ “chào bán” (như chào  
bán chứng khoán) còn khi nào đề cập đến  
chủ thể thực hiện hoạt động này thì dùng từ  
iii) Quy định trên cần đảm bảo sự bao  
quát hết các chủ thể có thể bị xử lý. Bởi lẽ,  
khoản 3 Điều 15 Nghị định số 163/2018/  
NĐ-CP đã được sửa đổi bởi khoản 7 Điều 1  
5 Điểm a khoản 9 Điều 8 Nghị định số 156.  
Số 06(430) - T3/2021  
39  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Nghị định số 81/2020/NĐ-CP quy định: tổ  
chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu  
là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng  
và các định chế tài chính khác được phép  
cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ phát hành trái  
phiếu theo quy định của pháp luật. Vì vậy,  
tác giả kiến nghị khi quy định vấn đề này  
cần sử dụng cụm từ “chủ thể cung cấp dịch  
vụ tư vấn phát hành trái phiếu” để đảm bảo  
tính bao quát hơn và chính xác hơn trong  
hoạt động xử phạt.  
số tiền thu được từ đợt chào bán, đợt phát  
hành để thực hiện dự án trong báo cáo tài  
chính năm được kiểm toán xác nhận6. Bởi  
lẽ, hành vi này đã và đang vi phạm có mức  
độ ảnh hưởng tương đương với hành vi vi  
phạm trên nên cần phải áp dụng mức chế tài  
tương tự.  
Ba là, tác giả kiến nghị cần sự xử lý khác  
nhau trong hành vi vi phạm nghĩa vụ đăng  
ký, lưu ký trái phiếu chào bán, phát hành  
riêng lẻ của tổ chức phát hành. Theo đó, nên  
đưa hành vi vi phạm “thực hiện đăng ký,  
lưu ký trái phiếu chào bán, phát hành riêng  
lẻ không đúng thời hạn theo quy định” vào  
mức phạt nhẹ hơn một bậc so với hành vi  
“không thực hiện đăng ký, lưu ký trái phiếu  
chào bán, phát hành riêng lẻ”. Sự phân hoá  
trên thể hiện rõ sự chính xác, bảo đảm công  
bằng7 trong việc xử phạt vi phạm. Đồng  
thời, việc quy định như trên nhằm tránh sự  
chây lười của tổ chức phát hành khi đã chậm  
thực hiện việc đăng ký, lưu ký chứng khoán  
phát hành riêng lẻ thì cứ để “từ từ” vì dù sao  
cũng bị xử lý với mức độ như nhau và điều  
này gián tiếp làm ảnh hưởng đến quyền lợi  
của nhà đầu tư vào chứng khoán đó.  
Hai là, pháp luật cần bổ sung chế tài đối  
với hành vi tổ chức phát hành không thực  
hiện nghĩa vụ báo cáo UBCKNN về tiến độ  
sử dụng vốn, số tiền thu được từ đợt chào  
bán, đợt phát hành để thực hiện dự án…  
hoặc không công bố thông tin trên Trang  
thông tin điện tử của tổ chức phát hành (nếu  
có), SGDCK trong thời hạn quy định. Theo  
đó, tác giả kiến nghị chế tài đối với hành vi  
vi phạm này như sau:  
i) Cảnh cáo nếu đây là hành vi vi phạm  
lần đầu. Bởi lẽ, trong các hình thức xử phạt  
chính có biện pháp này và hành vi vi phạm  
chưa đến mức quá nghiêm trọng để xử phạt  
với hình thức cao hơn.  
Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định về  
xử phạt vi phạm hành chính đối với hành  
vi vi phạm đối với hoạt động chào bán trái  
phiếu ra công chúng. Cụ thể:  
ii) Phạt tiền nếu đó là hành vi tái phạm.  
Theo đó, mức phạt tiền này cần phải tương  
ứng với hành vi vi phạm của tổ chức phát  
hành khi tổ chức phát hành không công bố  
báo cáo sử dụng vốn, số tiền thu được từ đợt  
chào bán, đợt phát hành để thực hiện dự án  
được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được  
chấp thuận tại cuộc họp ĐHĐCĐ thường  
niên, HĐTV, báo cáo chủ sở hữu công ty  
hoặc thuyết minh chi tiết việc sử dụng vốn,  
Một là, cần hoàn thiện quy định về xử  
phạt đối với hành vi vi phạm của chủ thể  
thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành trái  
phiếu ra công chúng. Đối với bất cập về  
nội dung này, theo tác giả cần sửa đổi, bổ  
sung quy định về xử phạt đối với chủ thể  
6 Hành vi vi phạm này đang được áp dụng chế tài là: “Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng” theo  
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP.  
7 Điểm b khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.  
40  
Số 06(430) - T3/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
này theo quy định trong Nghị định số 156  
như sau: “Phạt tiền từ 150.000.000 đồng  
đến 200.000.000 đồng đối với tổ chức bảo  
lãnh phát hành khi thực hiện một trong các  
hành vi vi phạm sau: …b) Thực hiện bảo  
lãnh phát hành chứng khoán ra công chúng  
vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật  
Chứng khoán”. Bởi vì, nếu áp dụng việc  
sửa đổi trên thì các văn bản pháp quy không  
cần phải giải thích thuật ngữ “cam kết chắc  
chắn” cũng như quy định trên đảm bảo sự  
chặt chẽ, rõ ràng và tương thích hoàn toàn  
giữa các quy định của pháp luật.  
được HĐQT hoặc HĐTV hoặc Chủ sở  
hữu công ty thông qua; sử dụng số tiền thu  
được từ đợt chào bán chứng khoán ra công  
chúng không đúng với mục đích, phương  
án đã được ĐHĐCĐ hoặc Hội đồng quản  
trị hoặc HĐTV hoặc Chủ sở hữu công ty  
thông qua hoặc nội dung đã công bố thông  
tin cho nhà đầu tư hoặc nội dung đã báo cáo  
UBCKNN” nhằm đảm bảo tính tương thích  
và không xung đột của các quy định pháp  
luật trong nội dung này.  
Ba là, cần sửa đổi quy định về biện pháp  
khắc phục đối với hành vi vi phạm về hồ  
sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công  
chúng tại Việt Nam và hành vi vi phạm quy  
định về thực hiện chào bán chứng khoán ra  
công chúng tại Việt Nam. Theo đó, tác giả  
kiến nghị cần bổ sung vào biện pháp khắc  
phục hậu quả của những hành vi vi phạm  
này như sau: “hoàn trả cho nhà đầu tư tiền  
mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu  
có) cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất  
ghi trên trái phiếu (nếu có) hoặc lãi suất  
tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng mà  
tổ chức, cá nhân vi phạm mở tài khoản thu  
tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc tại  
thời điểm quyết định áp dụng biện pháp này  
có hiệu lực thi hành trong thời hạn 15 ngày  
kể từ ngày nhận được yêu cầu của nhà đầu  
tư…”. Quy định này đảm bảo được các vấn  
đề sau: i) Đảm bảo sự công bằng khi những  
hành vi vi phạm tương tự sẽ bị áp dụng các  
chế tài tương tự; ii) Đảm bảo sự phù hợp  
trong bản chất của các chứng khoán phát  
hành. Theo đó, trái phiếu là chứng khoán  
nợ nên cần phải chi trả theo lãi suất đã thoả  
thuận (nếu có) trừ khi không thể xác định  
được mức lãi suất này thì mới áp dụng lãi  
Hai là, cần điều chỉnh quy định xử lý  
đối với hành vi thay đổi mục đích hoặc  
phương án sử dụng vốn từ đợt chào bán  
chứng khoán ra công chúng cho phù hợp  
hơn. Theo đó, căn cứ vào quy định tại điểm  
c khoản 3 Điều 15 Luật Chứng khoán năm  
2019 thì ĐHĐCĐ hoặc HĐQT hoặc HĐTV  
hoặc chủ sở hữu công ty có quyền thông  
qua phương án phát hành, phương án sử  
dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán  
chứng khoán ra công chúng nên sửa đổi quy  
định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Nghị định  
số 156/2020/NĐ-CP thành như sau: “Phạt  
tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000  
đồng đối với một trong các hành vi vi phạm  
sau: …b) Thay đổi mục đích hoặc phương  
án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán  
chứng khoán ra công chúng nhưng không  
thông qua ĐHĐCĐ hoặc khi chưa được  
ĐHĐCĐ ủy quyền thực hiện hoặc thay  
đổi phương án sử dụng số tiền thu được từ  
đợt chào bán chứng khoán ra công chúng  
với giá trị thay đổi từ 50% trở lên số tiền  
thu được từ đợt chào bán, trừ trường hợp  
chào bán trái phiếu không chuyển đổi,  
không kèm chứng quyền theo phương án  
suất không kỳ hạn  
Số 06(430) - T3/2021  
41  
pdf 7 trang Thùy Anh 8140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động chào bán trái phiếu của doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_phat_vi_pham_hanh_chinh_doi_voi_hoat_dong_chao_ban_trai_p.pdf